[9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 20 - Sinh học

Đánh giá Tư duy (TSA)Môn Tư duy khoa học - Sinh họcNăm 202712 câuChuẩn GDPT mới

Phần I

Câu 1

Các sinh viên muốn kiểm tra ảnh hưởng của dinh dưỡng đối với sự phát triển của chuột lang. Hai thí nghiệm đã được tiến hành bằng cách sử dụng các loại thức ăn và bổ sung vitamin khác nhau. Đối với cả hai thí nghiệm, bốn nhóm gồm 10 con chuột lang, mỗi nhóm được cho ăn một loại thức ăn khác nhau trong khoảng thời gian 8 tuần. Mỗi nhóm nhận được một lượng thức ăn như nhau và được cung cấp nước hàng ngày. Chuột lang được đo chiều dài và cân nặng hàng tuần. Chuột lang trong mỗi nhóm có trọng lượng ban đầu trung bình là 50 gram (g) và chiều dài ban đầu trung bình là 20 cm (cm).

Hình minh họa

Thí nghiệm 1:

Nhóm 1: thức ăn giàu protein (P).

Nhóm 2: thức ăn làm từ ngũ cốc và có bổ sung vitamin (Q).

Nhóm 3 (nhóm đối chứng): thức ăn làm từ ngũ cốc không có chất bổ sung (R).

Nhóm 4: thức ăn làm từ ngũ cốc không bổ sung thêm trái cây và rau (S).

Bảng 1

NhómTrọng lượng trung bình sau 8 tuần (g)Chiều dài trung bình sau 8 tuần (cm)
19334.00
28029.00
37425.25
47223.00

Thí nghiệm 2:

Nhóm 5: thức ăn giàu protein cộng với trái cây và rau quả (V).

Nhóm 6: thức ăn làm từ ngũ cốc, có bổ sung vitamin cộng với trái cây và rau (W).

Nhóm 7 (nhóm đối chứng): thức ăn làm từ ngũ cốc không có chất bổ sung (X).

Nhóm 8: thức ăn làm từ ngũ cốc không bổ sung thêm trái cây (Y).

Bảng 2

NhómTrọng lượng trung bình sau 8 tuần (g)Chiều dài trung bình sau 8 tuần (cm)
59638.25
69030.25
77525.00
87423.25

Dựa trên kết quả của cả 2 thí nghiệm, thức ăn nào giúp chuột lang tăng chiều dài cơ thể nhiều nhất?

A
Thức ăn P
B
Thức ăn W
C
Thức ăn V
D
Thức ăn X

Câu 2

Các sinh viên muốn kiểm tra ảnh hưởng của dinh dưỡng đối với sự phát triển của chuột lang. Hai thí nghiệm đã được tiến hành bằng cách sử dụng các loại thức ăn và bổ sung vitamin khác nhau. Đối với cả hai thí nghiệm, bốn nhóm gồm 10 con chuột lang, mỗi nhóm được cho ăn một loại thức ăn khác nhau trong khoảng thời gian 8 tuần. Mỗi nhóm nhận được một lượng thức ăn như nhau và được cung cấp nước hàng ngày. Chuột lang được đo chiều dài và cân nặng hàng tuần. Chuột lang trong mỗi nhóm có trọng lượng ban đầu trung bình là 50 gram (g) và chiều dài ban đầu trung bình là 20 cm (cm).

Hình minh họa

Thí nghiệm 1:

Nhóm 1: thức ăn giàu protein (P).

Nhóm 2: thức ăn làm từ ngũ cốc và có bổ sung vitamin (Q).

Nhóm 3 (nhóm đối chứng): thức ăn làm từ ngũ cốc không có chất bổ sung (R).

Nhóm 4: thức ăn làm từ ngũ cốc không bổ sung thêm trái cây và rau (S).

Bảng 1

NhómTrọng lượng trung bình sau 8 tuần (g)Chiều dài trung bình sau 8 tuần (cm)
19334.00
28029.00
37425.25
47223.00

Thí nghiệm 2:

Nhóm 5: thức ăn giàu protein cộng với trái cây và rau quả (V).

Nhóm 6: thức ăn làm từ ngũ cốc, có bổ sung vitamin cộng với trái cây và rau (W).

Nhóm 7 (nhóm đối chứng): thức ăn làm từ ngũ cốc không có chất bổ sung (X).

Nhóm 8: thức ăn làm từ ngũ cốc không bổ sung thêm trái cây (Y).

Bảng 2

NhómTrọng lượng trung bình sau 8 tuần (g)Chiều dài trung bình sau 8 tuần (cm)
59638.25
69030.25
77525.00
87423.25

Theo kết quả của thí nghiệm 1, chuột lang trong nhóm được cho ăn thức ăn làm từ ngũ cốc có bổ sung vitamin tăng chiều dài trung bình ______ cm trong mỗi tuần của thí nghiệm.

Câu 3

Các sinh viên muốn kiểm tra ảnh hưởng của dinh dưỡng đối với sự phát triển của chuột lang. Hai thí nghiệm đã được tiến hành bằng cách sử dụng các loại thức ăn và bổ sung vitamin khác nhau. Đối với cả hai thí nghiệm, bốn nhóm gồm 10 con chuột lang, mỗi nhóm được cho ăn một loại thức ăn khác nhau trong khoảng thời gian 8 tuần. Mỗi nhóm nhận được một lượng thức ăn như nhau và được cung cấp nước hàng ngày. Chuột lang được đo chiều dài và cân nặng hàng tuần. Chuột lang trong mỗi nhóm có trọng lượng ban đầu trung bình là 50 gram (g) và chiều dài ban đầu trung bình là 20 cm (cm).

Hình minh họa

Thí nghiệm 1:

Nhóm 1: thức ăn giàu protein (P).

Nhóm 2: thức ăn làm từ ngũ cốc và có bổ sung vitamin (Q).

Nhóm 3 (nhóm đối chứng): thức ăn làm từ ngũ cốc không có chất bổ sung (R).

Nhóm 4: thức ăn làm từ ngũ cốc không bổ sung thêm trái cây và rau (S).

Bảng 1

NhómTrọng lượng trung bình sau 8 tuần (g)Chiều dài trung bình sau 8 tuần (cm)
19334.00
28029.00
37425.25
47223.00

Thí nghiệm 2:

Nhóm 5: thức ăn giàu protein cộng với trái cây và rau quả (V).

Nhóm 6: thức ăn làm từ ngũ cốc, có bổ sung vitamin cộng với trái cây và rau (W).

Nhóm 7 (nhóm đối chứng): thức ăn làm từ ngũ cốc không có chất bổ sung (X).

Nhóm 8: thức ăn làm từ ngũ cốc không bổ sung thêm trái cây (Y).

Bảng 2

NhómTrọng lượng trung bình sau 8 tuần (g)Chiều dài trung bình sau 8 tuần (cm)
59638.25
69030.25
77525.00
87423.25

Theo kết quả của thí nghiệm 2, chuột lang trong nhóm được cho ăn thức ăn làm từ ngũ cốc, có bổ sung vitamin cộng với trái cây và rau tăng cân nặng trung bình ______ g trong mỗi tuần của thí nghiệm.

tuần của thí nghiệm.

Câu 4

Các sinh viên muốn kiểm tra ảnh hưởng của dinh dưỡng đối với sự phát triển của chuột lang. Hai thí nghiệm đã được tiến hành bằng cách sử dụng các loại thức ăn và bổ sung vitamin khác nhau. Đối với cả hai thí nghiệm, bốn nhóm gồm 10 con chuột lang, mỗi nhóm được cho ăn một loại thức ăn khác nhau trong khoảng thời gian 8 tuần. Mỗi nhóm nhận được một lượng thức ăn như nhau và được cung cấp nước hàng ngày. Chuột lang được đo chiều dài và cân nặng hàng tuần. Chuột lang trong mỗi nhóm có trọng lượng ban đầu trung bình là 50 gram (g) và chiều dài ban đầu trung bình là 20 cm (cm).

Hình minh họa

Thí nghiệm 1:

Nhóm 1: thức ăn giàu protein (P).

Nhóm 2: thức ăn làm từ ngũ cốc và có bổ sung vitamin (Q).

Nhóm 3 (nhóm đối chứng): thức ăn làm từ ngũ cốc không có chất bổ sung (R).

Nhóm 4: thức ăn làm từ ngũ cốc không bổ sung thêm trái cây và rau (S).

Bảng 1

NhómTrọng lượng trung bình sau 8 tuần (g)Chiều dài trung bình sau 8 tuần (cm)
19334.00
28029.00
37425.25
47223.00

Thí nghiệm 2:

Nhóm 5: thức ăn giàu protein cộng với trái cây và rau quả (V).

Nhóm 6: thức ăn làm từ ngũ cốc, có bổ sung vitamin cộng với trái cây và rau (W).

Nhóm 7 (nhóm đối chứng): thức ăn làm từ ngũ cốc không có chất bổ sung (X).

Nhóm 8: thức ăn làm từ ngũ cốc không bổ sung thêm trái cây (Y).

Bảng 2

NhómTrọng lượng trung bình sau 8 tuần (g)Chiều dài trung bình sau 8 tuần (cm)
59638.25
69030.25
77525.00
87423.25

Dựa vào kết quả của cả hai thí nghiệm, thành phần nào trong khẩu phần ăn thúc đẩy sự phát triển của chuột lang rõ rệt nhất?

A
Protein
B
Vitamin
C
Trái cây và rau
D
Ngũ cốc

Câu 5

Các sinh viên muốn kiểm tra ảnh hưởng của dinh dưỡng đối với sự phát triển của chuột lang. Hai thí nghiệm đã được tiến hành bằng cách sử dụng các loại thức ăn và bổ sung vitamin khác nhau. Đối với cả hai thí nghiệm, bốn nhóm gồm 10 con chuột lang, mỗi nhóm được cho ăn một loại thức ăn khác nhau trong khoảng thời gian 8 tuần. Mỗi nhóm nhận được một lượng thức ăn như nhau và được cung cấp nước hàng ngày. Chuột lang được đo chiều dài và cân nặng hàng tuần. Chuột lang trong mỗi nhóm có trọng lượng ban đầu trung bình là 50 gram (g) và chiều dài ban đầu trung bình là 20 cm (cm).

Hình minh họa

Thí nghiệm 1:

Nhóm 1: thức ăn giàu protein (P).

Nhóm 2: thức ăn làm từ ngũ cốc và có bổ sung vitamin (Q).

Nhóm 3 (nhóm đối chứng): thức ăn làm từ ngũ cốc không có chất bổ sung (R).

Nhóm 4: thức ăn làm từ ngũ cốc không bổ sung thêm trái cây và rau (S).

Bảng 1

NhómTrọng lượng trung bình sau 8 tuần (g)Chiều dài trung bình sau 8 tuần (cm)
19334.00
28029.00
37425.25
47223.00

Thí nghiệm 2:

Nhóm 5: thức ăn giàu protein cộng với trái cây và rau quả (V).

Nhóm 6: thức ăn làm từ ngũ cốc, có bổ sung vitamin cộng với trái cây và rau (W).

Nhóm 7 (nhóm đối chứng): thức ăn làm từ ngũ cốc không có chất bổ sung (X).

Nhóm 8: thức ăn làm từ ngũ cốc không bổ sung thêm trái cây (Y).

Bảng 2

NhómTrọng lượng trung bình sau 8 tuần (g)Chiều dài trung bình sau 8 tuần (cm)
59638.25
69030.25
77525.00
87423.25

Theo đoạn văn, chuột lang trong nhóm ______ có tốc độ tăng trưởng tổng thể tốt nhất.

Câu 6

Các sinh viên muốn kiểm tra ảnh hưởng của dinh dưỡng đối với sự phát triển của chuột lang. Hai thí nghiệm đã được tiến hành bằng cách sử dụng các loại thức ăn và bổ sung vitamin khác nhau. Đối với cả hai thí nghiệm, bốn nhóm gồm 10 con chuột lang, mỗi nhóm được cho ăn một loại thức ăn khác nhau trong khoảng thời gian 8 tuần. Mỗi nhóm nhận được một lượng thức ăn như nhau và được cung cấp nước hàng ngày. Chuột lang được đo chiều dài và cân nặng hàng tuần. Chuột lang trong mỗi nhóm có trọng lượng ban đầu trung bình là 50 gram (g) và chiều dài ban đầu trung bình là 20 cm (cm).

Hình minh họa

Thí nghiệm 1:

Nhóm 1: thức ăn giàu protein (P).

Nhóm 2: thức ăn làm từ ngũ cốc và có bổ sung vitamin (Q).

Nhóm 3 (nhóm đối chứng): thức ăn làm từ ngũ cốc không có chất bổ sung (R).

Nhóm 4: thức ăn làm từ ngũ cốc không bổ sung thêm trái cây và rau (S).

Bảng 1

NhómTrọng lượng trung bình sau 8 tuần (g)Chiều dài trung bình sau 8 tuần (cm)
19334.00
28029.00
37425.25
47223.00

Thí nghiệm 2:

Nhóm 5: thức ăn giàu protein cộng với trái cây và rau quả (V).

Nhóm 6: thức ăn làm từ ngũ cốc, có bổ sung vitamin cộng với trái cây và rau (W).

Nhóm 7 (nhóm đối chứng): thức ăn làm từ ngũ cốc không có chất bổ sung (X).

Nhóm 8: thức ăn làm từ ngũ cốc không bổ sung thêm trái cây (Y).

Bảng 2

NhómTrọng lượng trung bình sau 8 tuần (g)Chiều dài trung bình sau 8 tuần (cm)
59638.25
69030.25
77525.00
87423.25

Nhận định nào sau đây mô tả đúng mối liên hệ giữa cân nặng và chiều dài cơ thể của những con chuột lang trong nghiên cứu?

A
Chiều dài cơ thể có xu hướng giảm khi trọng lượng tăng
B
Chiều dài cơ thể có xu hướng tăng khi trọng lượng tăng

Câu 7

Thí nghiệm 1:

Số lượng vi khuẩn kháng penicillin bằng nhau được đưa vào các bình chứa 10,0 ml môi trường dinh dưỡng. Các bình được ủ trong 1 giờ ở 37 độ C cùng với các nồng độ khác nhau của 5 loại thuốc được trình bày trong Bảng 1. Bình đối chứng bao gồm các vi khuẩn được ủ trong môi trường không có bất kỳ loại thuốc nào. Sau đó, vi khuẩn được rửa sạch để loại bỏ vết thuốc còn sót lại và nuôi cấy trên đĩa thạch dinh dưỡng trong 7 ngày. Trong thời gian này, vi khuẩn sinh sản, tạo thành các khuẩn lạc, sau đó được đếm vào cuối ngày thứ bảy. Các đĩa có nhiều khuẩn lạc hơn được cho là có nhiều vi khuẩn sống hơn vào cuối thời gian ủ 1 giờ. Bảng 1 cho thấy số lượng khuẩn lạc được đếm. Kiểm soát không có thuốc cho thấy 50 khuẩn lạc vào cuối 7 ngày.

Bảng 1

ThuốcNồng độ thuốc 5 nM10 nM15 nM25 nM
 Số lượng khuẩn lạc
R412690
S4229122
T4535205
U4738216
V5040227

Thí nghiệm 2:

Vi khuẩn được xử lý như mô tả trong thí nghiệm 1 nhưng ở thí nghiệm 2 tất cả các loại thuốc được dùng ở cùng một nồng độ và thời gian ủ của mỗi lần nuôi cấy là khác nhau. Bảng 2 cho thấy số lượng khuẩn lạc được đếm cho thí nghiệm 2.

Bảng 2

ThuốcThời gian ủ 1 h6 h12 h24 h
 Số lượng khuẩn lạc
R22820
S391241
T401562
U411873
V452295
Không50505050

Thí nghiệm 3:

Các hệ số thấm đo khả năng của thuốc xuyên qua màng tế bào của vi khuẩn. Hệ số thấm càng lớn thì khả năng vận chuyển thuốc qua màng càng nhanh. Khối lượng phân tử, tính bằng đơn vị khối lượng nguyên tử (amu) và hệ số thấm tính bằng centimet trên giây (cm/s) của 5 loại thuốc ở 37 độ C đã được đo. Các kết quả được thể hiện trong Bảng 3.

Bảng 3

ThuốcKhối lượng phân tử (amu)Hệ số thấm (cm/s)
R45510⁻⁵
S47010⁻⁷
T48510⁻⁸
U50010⁻¹⁰
V51510⁻¹¹

Theo thí nghiệm 1, ở nồng độ 15 nM, thuốc nào diệt khuẩn kém hiệu quả nhất?

A
Thuốc R
B
Thuốc S
C
Thuốc U
D
Thuốc V

Câu 8

Thí nghiệm 1:

Số lượng vi khuẩn kháng penicillin bằng nhau được đưa vào các bình chứa 10,0 ml môi trường dinh dưỡng. Các bình được ủ trong 1 giờ ở 37 độ C cùng với các nồng độ khác nhau của 5 loại thuốc được trình bày trong Bảng 1. Bình đối chứng bao gồm các vi khuẩn được ủ trong môi trường không có bất kỳ loại thuốc nào. Sau đó, vi khuẩn được rửa sạch để loại bỏ vết thuốc còn sót lại và nuôi cấy trên đĩa thạch dinh dưỡng trong 7 ngày. Trong thời gian này, vi khuẩn sinh sản, tạo thành các khuẩn lạc, sau đó được đếm vào cuối ngày thứ bảy. Các đĩa có nhiều khuẩn lạc hơn được cho là có nhiều vi khuẩn sống hơn vào cuối thời gian ủ 1 giờ. Bảng 1 cho thấy số lượng khuẩn lạc được đếm. Kiểm soát không có thuốc cho thấy 50 khuẩn lạc vào cuối 7 ngày.

Bảng 1

ThuốcNồng độ thuốc 5 nM10 nM15 nM25 nM
 Số lượng khuẩn lạc
R412690
S4229122
T4535205
U4738216
V5040227

Thí nghiệm 2:

Vi khuẩn được xử lý như mô tả trong thí nghiệm 1 nhưng ở thí nghiệm 2 tất cả các loại thuốc được dùng ở cùng một nồng độ và thời gian ủ của mỗi lần nuôi cấy là khác nhau. Bảng 2 cho thấy số lượng khuẩn lạc được đếm cho thí nghiệm 2.

Bảng 2

ThuốcThời gian ủ 1 h6 h12 h24 h
 Số lượng khuẩn lạc
R22820
S391241
T401562
U411873
V452295
Không50505050

Thí nghiệm 3:

Các hệ số thấm đo khả năng của thuốc xuyên qua màng tế bào của vi khuẩn. Hệ số thấm càng lớn thì khả năng vận chuyển thuốc qua màng càng nhanh. Khối lượng phân tử, tính bằng đơn vị khối lượng nguyên tử (amu) và hệ số thấm tính bằng centimet trên giây (cm/s) của 5 loại thuốc ở 37 độ C đã được đo. Các kết quả được thể hiện trong Bảng 3.

Bảng 3

ThuốcKhối lượng phân tử (amu)Hệ số thấm (cm/s)
R45510⁻⁵
S47010⁻⁷
T48510⁻⁸
U50010⁻¹⁰
V51510⁻¹¹

Theo thí nghiệm 1, ở nồng độ ______ nM, các loại thuốc trong nghiên cứu diệt khuẩn kém hiệu quả nhất.

Câu 9

Thí nghiệm 1:

Số lượng vi khuẩn kháng penicillin bằng nhau được đưa vào các bình chứa 10,0 ml môi trường dinh dưỡng. Các bình được ủ trong 1 giờ ở 37 độ C cùng với các nồng độ khác nhau của 5 loại thuốc được trình bày trong Bảng 1. Bình đối chứng bao gồm các vi khuẩn được ủ trong môi trường không có bất kỳ loại thuốc nào. Sau đó, vi khuẩn được rửa sạch để loại bỏ vết thuốc còn sót lại và nuôi cấy trên đĩa thạch dinh dưỡng trong 7 ngày. Trong thời gian này, vi khuẩn sinh sản, tạo thành các khuẩn lạc, sau đó được đếm vào cuối ngày thứ bảy. Các đĩa có nhiều khuẩn lạc hơn được cho là có nhiều vi khuẩn sống hơn vào cuối thời gian ủ 1 giờ. Bảng 1 cho thấy số lượng khuẩn lạc được đếm. Kiểm soát không có thuốc cho thấy 50 khuẩn lạc vào cuối 7 ngày.

Bảng 1

ThuốcNồng độ thuốc 5 nM10 nM15 nM25 nM
 Số lượng khuẩn lạc
R412690
S4229122
T4535205
U4738216
V5040227

Thí nghiệm 2:

Vi khuẩn được xử lý như mô tả trong thí nghiệm 1 nhưng ở thí nghiệm 2 tất cả các loại thuốc được dùng ở cùng một nồng độ và thời gian ủ của mỗi lần nuôi cấy là khác nhau. Bảng 2 cho thấy số lượng khuẩn lạc được đếm cho thí nghiệm 2.

Bảng 2

ThuốcThời gian ủ 1 h6 h12 h24 h
 Số lượng khuẩn lạc
R22820
S391241
T401562
U411873
V452295
Không50505050

Thí nghiệm 3:

Các hệ số thấm đo khả năng của thuốc xuyên qua màng tế bào của vi khuẩn. Hệ số thấm càng lớn thì khả năng vận chuyển thuốc qua màng càng nhanh. Khối lượng phân tử, tính bằng đơn vị khối lượng nguyên tử (amu) và hệ số thấm tính bằng centimet trên giây (cm/s) của 5 loại thuốc ở 37 độ C đã được đo. Các kết quả được thể hiện trong Bảng 3.

Bảng 3

ThuốcKhối lượng phân tử (amu)Hệ số thấm (cm/s)
R45510⁻⁵
S47010⁻⁷
T48510⁻⁸
U50010⁻¹⁰
V51510⁻¹¹

Nhận định dưới đây đúng hay sai?

Theo kết quả thí nghiệm 3, thuốc U xâm nhập vào tế bào vi khuẩn chậm nhất.

 

A

Đúng

B

Sai

Câu 10

Thí nghiệm 1:

Số lượng vi khuẩn kháng penicillin bằng nhau được đưa vào các bình chứa 10,0 ml môi trường dinh dưỡng. Các bình được ủ trong 1 giờ ở 37 độ C cùng với các nồng độ khác nhau của 5 loại thuốc được trình bày trong Bảng 1. Bình đối chứng bao gồm các vi khuẩn được ủ trong môi trường không có bất kỳ loại thuốc nào. Sau đó, vi khuẩn được rửa sạch để loại bỏ vết thuốc còn sót lại và nuôi cấy trên đĩa thạch dinh dưỡng trong 7 ngày. Trong thời gian này, vi khuẩn sinh sản, tạo thành các khuẩn lạc, sau đó được đếm vào cuối ngày thứ bảy. Các đĩa có nhiều khuẩn lạc hơn được cho là có nhiều vi khuẩn sống hơn vào cuối thời gian ủ 1 giờ. Bảng 1 cho thấy số lượng khuẩn lạc được đếm. Kiểm soát không có thuốc cho thấy 50 khuẩn lạc vào cuối 7 ngày.

Bảng 1

ThuốcNồng độ thuốc 5 nM10 nM15 nM25 nM
 Số lượng khuẩn lạc
R412690
S4229122
T4535205
U4738216
V5040227

Thí nghiệm 2:

Vi khuẩn được xử lý như mô tả trong thí nghiệm 1 nhưng ở thí nghiệm 2 tất cả các loại thuốc được dùng ở cùng một nồng độ và thời gian ủ của mỗi lần nuôi cấy là khác nhau. Bảng 2 cho thấy số lượng khuẩn lạc được đếm cho thí nghiệm 2.

Bảng 2

ThuốcThời gian ủ 1 h6 h12 h24 h
 Số lượng khuẩn lạc
R22820
S391241
T401562
U411873
V452295
Không50505050

Thí nghiệm 3:

Các hệ số thấm đo khả năng của thuốc xuyên qua màng tế bào của vi khuẩn. Hệ số thấm càng lớn thì khả năng vận chuyển thuốc qua màng càng nhanh. Khối lượng phân tử, tính bằng đơn vị khối lượng nguyên tử (amu) và hệ số thấm tính bằng centimet trên giây (cm/s) của 5 loại thuốc ở 37 độ C đã được đo. Các kết quả được thể hiện trong Bảng 3.

Bảng 3

ThuốcKhối lượng phân tử (amu)Hệ số thấm (cm/s)
R45510⁻⁵
S47010⁻⁷
T48510⁻⁸
U50010⁻¹⁰
V51510⁻¹¹

Nếu Thí nghiệm 2 được lặp lại với thuốc T và thời gian ủ là 18 giờ, số lượng khuẩn lạc đếm được rất có thể là:

A
lớn hơn 15
B
giữa 6 và 15
C
giữa 2 và 6
D
nhỏ hơn 2

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 12 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.

Đăng nhập để làm bài
Đề thi: [9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 20 - Sinh học môn Tư duy khoa học - Sinh học 2027 (Đánh giá Tư duy (TSA)) - 9Study