BỆNH XƠ NANG VÀ GENE CFTR
Gene CFTR có vai trò giúp tổng hợp protein đặc hiệu, điều khiển sự chuyển động cân bằng của nước và muối giữa trong - ngoài tế bào. Đa số đột biến thay đổi amino acid trong protein CFTR hoặc mất một lượng nhỏ DNA khỏi gene CFTR sẽ gây đột biến gene CFTR. Gene CFTR bị lỗi sẽ không tạo được protein hoặc tạo protein lỗi không thực hiện được nhiệm vụ. Điều này khiến dịch nhầy cơ thể dày và dính hơn, ảnh hưởng đến quá trình và sự cân bằng nước - muối trong tế bào.
Có khoảng 3% dân số bình thường mang allele đột biến ở gene CFTR gây bệnh xơ nang. Trong một gia đình, cả người vợ và chồng đều là thể mang về một đột biến CFTR. Cặp vợ chồng này sinh ra đứa con đầu lòng bị bệnh xơ nang, vì vậy khi mang thai đứa con thứ hai họ muốn đến xin bác sĩ tư vấn và kiểm tra thai để xác định xem thai đó bị bệnh hay hoàn toàn không mang gene bệnh hay là thể mang trước khi sinh đứa trẻ. Các mẫu DNA từ các thành viên trong gia đình và thai nhi được xét nghiệm PCR và điện di trên gel, kết quả như hình bên. Biết rằng, locus gene CFTR có 4 allele khác nhau: A₁, A₂, A₃, A₄. Các vạch trên băng điện di biểu thị cho kết quả sự có mặt của các allele.
Hình (kết quả điện di):

Chọn các cụm từ sau để điền vào chỗ trống: nước, lipid, muối, protein, 3%, 5%, gene, allele.
Gene CFTR mã hóa cho [1] đặc hiệu, có chức năng điều khiển sự vận chuyển cân bằng của [2] và [3] giữa trong và ngoài tế bào. Trong quần thể, khoảng [4] dân số bình thường là thể mang [5] đột biến ở gene CFTR gây bệnh xơ nang.
BỆNH XƠ NANG VÀ GENE CFTR
Gene CFTR có vai trò giúp tổng hợp protein đặc hiệu, điều khiển sự chuyển động cân bằng của nước và muối giữa trong - ngoài tế bào. Đa số đột biến thay đổi amino acid trong protein CFTR hoặc mất một lượng nhỏ DNA khỏi gene CFTR sẽ gây đột biến gene CFTR. Gene CFTR bị lỗi sẽ không tạo được protein hoặc tạo protein lỗi không thực hiện được nhiệm vụ. Điều này khiến dịch nhầy cơ thể dày và dính hơn, ảnh hưởng đến quá trình và sự cân bằng nước - muối trong tế bào.
Có khoảng 3% dân số bình thường mang allele đột biến ở gene CFTR gây bệnh xơ nang. Trong một gia đình, cả người vợ và chồng đều là thể mang về một đột biến CFTR. Cặp vợ chồng này sinh ra đứa con đầu lòng bị bệnh xơ nang, vì vậy khi mang thai đứa con thứ hai họ muốn đến xin bác sĩ tư vấn và kiểm tra thai để xác định xem thai đó bị bệnh hay hoàn toàn không mang gene bệnh hay là thể mang trước khi sinh đứa trẻ. Các mẫu DNA từ các thành viên trong gia đình và thai nhi được xét nghiệm PCR và điện di trên gel, kết quả như hình bên. Biết rằng, locus gene CFTR có 4 allele khác nhau: A₁, A₂, A₃, A₄. Các vạch trên băng điện di biểu thị cho kết quả sự có mặt của các allele.
Hình (kết quả điện di):

Các phát biểu sau đây đúng hay sai?
BỆNH XƠ NANG VÀ GENE CFTR
Gene CFTR có vai trò giúp tổng hợp protein đặc hiệu, điều khiển sự chuyển động cân bằng của nước và muối giữa trong - ngoài tế bào. Đa số đột biến thay đổi amino acid trong protein CFTR hoặc mất một lượng nhỏ DNA khỏi gene CFTR sẽ gây đột biến gene CFTR. Gene CFTR bị lỗi sẽ không tạo được protein hoặc tạo protein lỗi không thực hiện được nhiệm vụ. Điều này khiến dịch nhầy cơ thể dày và dính hơn, ảnh hưởng đến quá trình và sự cân bằng nước - muối trong tế bào.
Có khoảng 3% dân số bình thường mang allele đột biến ở gene CFTR gây bệnh xơ nang. Trong một gia đình, cả người vợ và chồng đều là thể mang về một đột biến CFTR. Cặp vợ chồng này sinh ra đứa con đầu lòng bị bệnh xơ nang, vì vậy khi mang thai đứa con thứ hai họ muốn đến xin bác sĩ tư vấn và kiểm tra thai để xác định xem thai đó bị bệnh hay hoàn toàn không mang gene bệnh hay là thể mang trước khi sinh đứa trẻ. Các mẫu DNA từ các thành viên trong gia đình và thai nhi được xét nghiệm PCR và điện di trên gel, kết quả như hình bên. Biết rằng, locus gene CFTR có 4 allele khác nhau: A₁, A₂, A₃, A₄. Các vạch trên băng điện di biểu thị cho kết quả sự có mặt của các allele.
Hình (kết quả điện di):

Dựa vào kết quả điện di, những phát biểu nào sau đây đúng về thai nhi? (Chọn tất cả đáp án đúng)
BỆNH XƠ NANG VÀ GENE CFTR
Gene CFTR có vai trò giúp tổng hợp protein đặc hiệu, điều khiển sự chuyển động cân bằng của nước và muối giữa trong - ngoài tế bào. Đa số đột biến thay đổi amino acid trong protein CFTR hoặc mất một lượng nhỏ DNA khỏi gene CFTR sẽ gây đột biến gene CFTR. Gene CFTR bị lỗi sẽ không tạo được protein hoặc tạo protein lỗi không thực hiện được nhiệm vụ. Điều này khiến dịch nhầy cơ thể dày và dính hơn, ảnh hưởng đến quá trình và sự cân bằng nước - muối trong tế bào.
Có khoảng 3% dân số bình thường mang allele đột biến ở gene CFTR gây bệnh xơ nang. Trong một gia đình, cả người vợ và chồng đều là thể mang về một đột biến CFTR. Cặp vợ chồng này sinh ra đứa con đầu lòng bị bệnh xơ nang, vì vậy khi mang thai đứa con thứ hai họ muốn đến xin bác sĩ tư vấn và kiểm tra thai để xác định xem thai đó bị bệnh hay hoàn toàn không mang gene bệnh hay là thể mang trước khi sinh đứa trẻ. Các mẫu DNA từ các thành viên trong gia đình và thai nhi được xét nghiệm PCR và điện di trên gel, kết quả như hình bên. Biết rằng, locus gene CFTR có 4 allele khác nhau: A₁, A₂, A₃, A₄. Các vạch trên băng điện di biểu thị cho kết quả sự có mặt của các allele.
Hình (kết quả điện di):

Dựa vào kết quả điện di của cả gia đình, các allele nào sau đây là allele đột biến gây bệnh xơ nang?
BỆNH XƠ NANG VÀ GENE CFTR
Gene CFTR có vai trò giúp tổng hợp protein đặc hiệu, điều khiển sự chuyển động cân bằng của nước và muối giữa trong - ngoài tế bào. Đa số đột biến thay đổi amino acid trong protein CFTR hoặc mất một lượng nhỏ DNA khỏi gene CFTR sẽ gây đột biến gene CFTR. Gene CFTR bị lỗi sẽ không tạo được protein hoặc tạo protein lỗi không thực hiện được nhiệm vụ. Điều này khiến dịch nhầy cơ thể dày và dính hơn, ảnh hưởng đến quá trình và sự cân bằng nước - muối trong tế bào.
Có khoảng 3% dân số bình thường mang allele đột biến ở gene CFTR gây bệnh xơ nang. Trong một gia đình, cả người vợ và chồng đều là thể mang về một đột biến CFTR. Cặp vợ chồng này sinh ra đứa con đầu lòng bị bệnh xơ nang, vì vậy khi mang thai đứa con thứ hai họ muốn đến xin bác sĩ tư vấn và kiểm tra thai để xác định xem thai đó bị bệnh hay hoàn toàn không mang gene bệnh hay là thể mang trước khi sinh đứa trẻ. Các mẫu DNA từ các thành viên trong gia đình và thai nhi được xét nghiệm PCR và điện di trên gel, kết quả như hình bên. Biết rằng, locus gene CFTR có 4 allele khác nhau: A₁, A₂, A₃, A₄. Các vạch trên băng điện di biểu thị cho kết quả sự có mặt của các allele.
Hình (kết quả điện di):

Điền số thích hợp vào chỗ trống.
Nếu cặp vợ chồng trên sinh thêm đứa con thứ ba, xác suất đứa trẻ này bị bệnh xơ nang là ______%.
UNG THƯ
Ung thư có thể hình thành ở bất kỳ tế bào nào trong cơ thể và sẽ hoạt động rất khác so với một tế bào bình thường. Thay vì chết đi khi đã không còn hữu ích, tế bào ung thư lại tiếp tục phát triển và phân chia vượt khỏi tầm kiểm soát. Chúng cũng không thể trưởng thành như các tế bào khỏe mạnh khác mà vẫn ở mãi trạng thái chưa hoàn chỉnh.
Tế bào ung thư cũng có nhu cầu về oxy và chất dinh dưỡng từ máu như những tế bào bình thường khác để phát triển và tồn tại. Khi các tế bào ung thư không ngừng tăng sinh, khối u cũng dần hình thành. Một khối u nhỏ có thể dễ dàng phát triển nhờ được các mạch máu gần đó nuôi dưỡng.
Các nhà khoa học thực hiện để xác định ảnh hưởng của nồng độ glucose và calcium đối với sự phát triển của ba loại tế bào ung thư khác nhau. Mỗi đĩa nuôi cấy chứa 0,5 triệu tế bào, được thêm vào một dung dịch chứa nồng độ glucose hoặc calcium đã biết.

Hình 1. Kết quả thí nghiệm xác định ảnh hưởng của nồng độ glucose và calcium đối với sự phát triển của ba loại tế bào ung thư khác nhau.
Khi khối u trở nên lớn hơn, các tế bào ung thư có thể lan đến các mô xung quanh bằng một lực đẩy. Tế bào ung thư cũng tạo ra các enzyme khiến những tế bào và mô khỏe mạnh khác bị phá vỡ. Ung thư xuất hiện tại các mô lân cận vị trí cũ ban đầu được gọi là tế bào ung thư xâm lấn hoặc ung thư ác tính.
Tế bào ung thư cũng có thể tiến đến các bộ phận khác ở vị trí xa hơn nơi bắt đầu khởi phát của chúng. Quá trình này được gọi là di căn. Các tế bào ung thư di căn là khi chúng tách ra khỏi khối u và di chuyển đến một khu vực mới trong cơ thể thông qua hệ thống máu hoặc bạch huyết.
Khi các tế bào ung thư liên tục tăng sinh mà không bị kiểm soát thì dần hình thành ______.
UNG THƯ
Ung thư có thể hình thành ở bất kỳ tế bào nào trong cơ thể và sẽ hoạt động rất khác so với một tế bào bình thường. Thay vì chết đi khi đã không còn hữu ích, tế bào ung thư lại tiếp tục phát triển và phân chia vượt khỏi tầm kiểm soát. Chúng cũng không thể trưởng thành như các tế bào khỏe mạnh khác mà vẫn ở mãi trạng thái chưa hoàn chỉnh.
Tế bào ung thư cũng có nhu cầu về oxy và chất dinh dưỡng từ máu như những tế bào bình thường khác để phát triển và tồn tại. Khi các tế bào ung thư không ngừng tăng sinh, khối u cũng dần hình thành. Một khối u nhỏ có thể dễ dàng phát triển nhờ được các mạch máu gần đó nuôi dưỡng.
Các nhà khoa học thực hiện để xác định ảnh hưởng của nồng độ glucose và calcium đối với sự phát triển của ba loại tế bào ung thư khác nhau. Mỗi đĩa nuôi cấy chứa 0,5 triệu tế bào, được thêm vào một dung dịch chứa nồng độ glucose hoặc calcium đã biết.

Hình 1. Kết quả thí nghiệm xác định ảnh hưởng của nồng độ glucose và calcium đối với sự phát triển của ba loại tế bào ung thư khác nhau.
Khi khối u trở nên lớn hơn, các tế bào ung thư có thể lan đến các mô xung quanh bằng một lực đẩy. Tế bào ung thư cũng tạo ra các enzyme khiến những tế bào và mô khỏe mạnh khác bị phá vỡ. Ung thư xuất hiện tại các mô lân cận vị trí cũ ban đầu được gọi là tế bào ung thư xâm lấn hoặc ung thư ác tính.
Tế bào ung thư cũng có thể tiến đến các bộ phận khác ở vị trí xa hơn nơi bắt đầu khởi phát của chúng. Quá trình này được gọi là di căn. Các tế bào ung thư di căn là khi chúng tách ra khỏi khối u và di chuyển đến một khu vực mới trong cơ thể thông qua hệ thống máu hoặc bạch huyết.
Chọn các cụm từ sau để điền vào chỗ trống: carbon dioxide, oxygen, máu, ống tiêu hóa.
Để tồn tại và phát triển, tế bào ung thư cũng như tế bào bình thường đều cần lấy [1] và chất dinh dưỡng từ [2].
UNG THƯ
Ung thư có thể hình thành ở bất kỳ tế bào nào trong cơ thể và sẽ hoạt động rất khác so với một tế bào bình thường. Thay vì chết đi khi đã không còn hữu ích, tế bào ung thư lại tiếp tục phát triển và phân chia vượt khỏi tầm kiểm soát. Chúng cũng không thể trưởng thành như các tế bào khỏe mạnh khác mà vẫn ở mãi trạng thái chưa hoàn chỉnh.
Tế bào ung thư cũng có nhu cầu về oxy và chất dinh dưỡng từ máu như những tế bào bình thường khác để phát triển và tồn tại. Khi các tế bào ung thư không ngừng tăng sinh, khối u cũng dần hình thành. Một khối u nhỏ có thể dễ dàng phát triển nhờ được các mạch máu gần đó nuôi dưỡng.
Các nhà khoa học thực hiện để xác định ảnh hưởng của nồng độ glucose và calcium đối với sự phát triển của ba loại tế bào ung thư khác nhau. Mỗi đĩa nuôi cấy chứa 0,5 triệu tế bào, được thêm vào một dung dịch chứa nồng độ glucose hoặc calcium đã biết.

Hình 1. Kết quả thí nghiệm xác định ảnh hưởng của nồng độ glucose và calcium đối với sự phát triển của ba loại tế bào ung thư khác nhau.
Khi khối u trở nên lớn hơn, các tế bào ung thư có thể lan đến các mô xung quanh bằng một lực đẩy. Tế bào ung thư cũng tạo ra các enzyme khiến những tế bào và mô khỏe mạnh khác bị phá vỡ. Ung thư xuất hiện tại các mô lân cận vị trí cũ ban đầu được gọi là tế bào ung thư xâm lấn hoặc ung thư ác tính.
Tế bào ung thư cũng có thể tiến đến các bộ phận khác ở vị trí xa hơn nơi bắt đầu khởi phát của chúng. Quá trình này được gọi là di căn. Các tế bào ung thư di căn là khi chúng tách ra khỏi khối u và di chuyển đến một khu vực mới trong cơ thể thông qua hệ thống máu hoặc bạch huyết.
Những đặc điểm nào sau đây đúng với tế bào ung thư? (Chọn tất cả đáp án đúng)
UNG THƯ
Ung thư có thể hình thành ở bất kỳ tế bào nào trong cơ thể và sẽ hoạt động rất khác so với một tế bào bình thường. Thay vì chết đi khi đã không còn hữu ích, tế bào ung thư lại tiếp tục phát triển và phân chia vượt khỏi tầm kiểm soát. Chúng cũng không thể trưởng thành như các tế bào khỏe mạnh khác mà vẫn ở mãi trạng thái chưa hoàn chỉnh.
Tế bào ung thư cũng có nhu cầu về oxy và chất dinh dưỡng từ máu như những tế bào bình thường khác để phát triển và tồn tại. Khi các tế bào ung thư không ngừng tăng sinh, khối u cũng dần hình thành. Một khối u nhỏ có thể dễ dàng phát triển nhờ được các mạch máu gần đó nuôi dưỡng.
Các nhà khoa học thực hiện để xác định ảnh hưởng của nồng độ glucose và calcium đối với sự phát triển của ba loại tế bào ung thư khác nhau. Mỗi đĩa nuôi cấy chứa 0,5 triệu tế bào, được thêm vào một dung dịch chứa nồng độ glucose hoặc calcium đã biết.

Hình 1. Kết quả thí nghiệm xác định ảnh hưởng của nồng độ glucose và calcium đối với sự phát triển của ba loại tế bào ung thư khác nhau.
Khi khối u trở nên lớn hơn, các tế bào ung thư có thể lan đến các mô xung quanh bằng một lực đẩy. Tế bào ung thư cũng tạo ra các enzyme khiến những tế bào và mô khỏe mạnh khác bị phá vỡ. Ung thư xuất hiện tại các mô lân cận vị trí cũ ban đầu được gọi là tế bào ung thư xâm lấn hoặc ung thư ác tính.
Tế bào ung thư cũng có thể tiến đến các bộ phận khác ở vị trí xa hơn nơi bắt đầu khởi phát của chúng. Quá trình này được gọi là di căn. Các tế bào ung thư di căn là khi chúng tách ra khỏi khối u và di chuyển đến một khu vực mới trong cơ thể thông qua hệ thống máu hoặc bạch huyết.
Các phát biểu sau đây đúng hay sai?
UNG THƯ
Ung thư có thể hình thành ở bất kỳ tế bào nào trong cơ thể và sẽ hoạt động rất khác so với một tế bào bình thường. Thay vì chết đi khi đã không còn hữu ích, tế bào ung thư lại tiếp tục phát triển và phân chia vượt khỏi tầm kiểm soát. Chúng cũng không thể trưởng thành như các tế bào khỏe mạnh khác mà vẫn ở mãi trạng thái chưa hoàn chỉnh.
Tế bào ung thư cũng có nhu cầu về oxy và chất dinh dưỡng từ máu như những tế bào bình thường khác để phát triển và tồn tại. Khi các tế bào ung thư không ngừng tăng sinh, khối u cũng dần hình thành. Một khối u nhỏ có thể dễ dàng phát triển nhờ được các mạch máu gần đó nuôi dưỡng.
Các nhà khoa học thực hiện để xác định ảnh hưởng của nồng độ glucose và calcium đối với sự phát triển của ba loại tế bào ung thư khác nhau. Mỗi đĩa nuôi cấy chứa 0,5 triệu tế bào, được thêm vào một dung dịch chứa nồng độ glucose hoặc calcium đã biết.

Hình 1. Kết quả thí nghiệm xác định ảnh hưởng của nồng độ glucose và calcium đối với sự phát triển của ba loại tế bào ung thư khác nhau.
Khi khối u trở nên lớn hơn, các tế bào ung thư có thể lan đến các mô xung quanh bằng một lực đẩy. Tế bào ung thư cũng tạo ra các enzyme khiến những tế bào và mô khỏe mạnh khác bị phá vỡ. Ung thư xuất hiện tại các mô lân cận vị trí cũ ban đầu được gọi là tế bào ung thư xâm lấn hoặc ung thư ác tính.
Tế bào ung thư cũng có thể tiến đến các bộ phận khác ở vị trí xa hơn nơi bắt đầu khởi phát của chúng. Quá trình này được gọi là di căn. Các tế bào ung thư di căn là khi chúng tách ra khỏi khối u và di chuyển đến một khu vực mới trong cơ thể thông qua hệ thống máu hoặc bạch huyết.
Khi nồng độ calcium tăng từ 5 µM lên 20 µM, loại tế bào nào có số lượng tăng rõ rệt nhất?
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.
Đăng nhập để làm bài