Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi: Acid lactic hay acid sữa là một hợp chất hóa học đóng vai trò rất quan trọng trong nhiều quá trình sinh hóa và được phân tách lần đầu tiên bởi nhà hóa học Thụy Điển Carl Wilhelm Scheele vào năm 1780. Acid lactic là một acid carboxylic có công thức phân tử là C3H6O3. Nó có một nhóm hydroxy (–OH) đứng gần nhóm carboxyl (–COOH) khiến nó là một acid alpha hydroxy (AHA). Trong dung dịch, nó có thể mất một proton từ nhóm acid, tạo ra ion lactat theo phương trình: Acid lactic là chất chính tạo ra cảm giác mỏi ở cơ bắp, đây là sản phẩm của quá trình oxi hoá. Khi vận động mạnh và cơ thể không cung cấp đủ oxi nữa, thì cơ thể sẽ thoái hóa glucose từ các tế bào để biến thành acid lactic. Cụ thể, trong quá trình tập luyện, một số bài tập cường độ cao khiến cơ thể không thể sử dụng oxygen đủ nhanh, lúc này cơ thể chuyển sang chế độ yếm khí (tức không cần oxygen), năng lượng dự trữ trong cơ thể bị phân hủy thành hợp chất gọi là pyruvate. Khi không có đủ oxi để hoạt động, cơ thể sẽ biến pyruvate thành lactat để cung cấp năng lượng cho cơ bắp trong vòng 1 – 3 phút. Sự tích tụ acid lactic có thể gây cảm giác nóng rát và nhức mỏi trong cơ. Sau khoảng 3 phút chuyển hóa năng lượng không cần oxygen, acid lactic sẽ báo hiệu đạt đến ngưỡng thể lực, khiến bạn gần như không thể thực hiện thêm động tác nào nữa. Việc sản xuất lactat chính là cơ chế bảo vệ giúp cơ chế bảo vệ giúp cơ thể bạn không gặp chấn thương trong quá trình luyện tập.
Acid lactic không có tính chất của axit, có tính chất của ancol.
Đúng.
Sai.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi: Acid lactic hay acid sữa là một hợp chất hóa học đóng vai trò rất quan trọng trong nhiều quá trình sinh hóa và được phân tách lần đầu tiên bởi nhà hóa học Thụy Điển Carl Wilhelm Scheele vào năm 1780. Acid lactic là một acid carboxylic có công thức phân tử là C3H6O3. Nó có một nhóm hydroxy (–OH) đứng gần nhóm carboxyl (–COOH) khiến nó là một acid alpha hydroxy (AHA). Trong dung dịch, nó có thể mất một proton từ nhóm acid, tạo ra ion lactat theo phương trình: Acid lactic là chất chính tạo ra cảm giác mỏi ở cơ bắp, đây là sản phẩm của quá trình oxi hoá. Khi vận động mạnh và cơ thể không cung cấp đủ oxi nữa, thì cơ thể sẽ thoái hóa glucose từ các tế bào để biến thành acid lactic. Cụ thể, trong quá trình tập luyện, một số bài tập cường độ cao khiến cơ thể không thể sử dụng oxygen đủ nhanh, lúc này cơ thể chuyển sang chế độ yếm khí (tức không cần oxygen), năng lượng dự trữ trong cơ thể bị phân hủy thành hợp chất gọi là pyruvate. Khi không có đủ oxi để hoạt động, cơ thể sẽ biến pyruvate thành lactat để cung cấp năng lượng cho cơ bắp trong vòng 1 – 3 phút. Sự tích tụ acid lactic có thể gây cảm giác nóng rát và nhức mỏi trong cơ. Sau khoảng 3 phút chuyển hóa năng lượng không cần oxygen, acid lactic sẽ báo hiệu đạt đến ngưỡng thể lực, khiến bạn gần như không thể thực hiện thêm động tác nào nữa. Việc sản xuất lactat chính là cơ chế bảo vệ giúp cơ chế bảo vệ giúp cơ thể bạn không gặp chấn thương trong quá trình luyện tập.
Để tạo ra nhiều ATP hơn so với hiếu khí..
Để tái tạo NAD⁺ giúp tiếp tục quá trình phân giải glucose.
Để loại bỏ acid lactic ra khỏi cơ nhanh hơn.
Để chuyển hóa toàn bộ acid lactic thành năng lượng ngay lập tức.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi: Acid lactic hay acid sữa là một hợp chất hóa học đóng vai trò rất quan trọng trong nhiều quá trình sinh hóa và được phân tách lần đầu tiên bởi nhà hóa học Thụy Điển Carl Wilhelm Scheele vào năm 1780. Acid lactic là một acid carboxylic có công thức phân tử là C3H6O3. Nó có một nhóm hydroxy (–OH) đứng gần nhóm carboxyl (–COOH) khiến nó là một acid alpha hydroxy (AHA). Trong dung dịch, nó có thể mất một proton từ nhóm acid, tạo ra ion lactat theo phương trình: Acid lactic là chất chính tạo ra cảm giác mỏi ở cơ bắp, đây là sản phẩm của quá trình oxi hoá. Khi vận động mạnh và cơ thể không cung cấp đủ oxi nữa, thì cơ thể sẽ thoái hóa glucose từ các tế bào để biến thành acid lactic. Cụ thể, trong quá trình tập luyện, một số bài tập cường độ cao khiến cơ thể không thể sử dụng oxygen đủ nhanh, lúc này cơ thể chuyển sang chế độ yếm khí (tức không cần oxygen), năng lượng dự trữ trong cơ thể bị phân hủy thành hợp chất gọi là pyruvate. Khi không có đủ oxi để hoạt động, cơ thể sẽ biến pyruvate thành lactat để cung cấp năng lượng cho cơ bắp trong vòng 1 – 3 phút. Sự tích tụ acid lactic có thể gây cảm giác nóng rát và nhức mỏi trong cơ. Sau khoảng 3 phút chuyển hóa năng lượng không cần oxygen, acid lactic sẽ báo hiệu đạt đến ngưỡng thể lực, khiến bạn gần như không thể thực hiện thêm động tác nào nữa. Việc sản xuất lactat chính là cơ chế bảo vệ giúp cơ chế bảo vệ giúp cơ thể bạn không gặp chấn thương trong quá trình luyện tập.
Xét phân tử acid lactic (CH₃–CH(OH)–COOH), ở trạng thái cô lập, số lượng liên kết hydro nội phân tử tiềm năng (giữa nhóm OH và COOH) là [[____]].
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi: Acid lactic hay acid sữa là một hợp chất hóa học đóng vai trò rất quan trọng trong nhiều quá trình sinh hóa và được phân tách lần đầu tiên bởi nhà hóa học Thụy Điển Carl Wilhelm Scheele vào năm 1780. Acid lactic là một acid carboxylic có công thức phân tử là C3H6O3. Nó có một nhóm hydroxy (–OH) đứng gần nhóm carboxyl (–COOH) khiến nó là một acid alpha hydroxy (AHA). Trong dung dịch, nó có thể mất một proton từ nhóm acid, tạo ra ion lactat theo phương trình: Acid lactic là chất chính tạo ra cảm giác mỏi ở cơ bắp, đây là sản phẩm của quá trình oxi hoá. Khi vận động mạnh và cơ thể không cung cấp đủ oxi nữa, thì cơ thể sẽ thoái hóa glucose từ các tế bào để biến thành acid lactic. Cụ thể, trong quá trình tập luyện, một số bài tập cường độ cao khiến cơ thể không thể sử dụng oxygen đủ nhanh, lúc này cơ thể chuyển sang chế độ yếm khí (tức không cần oxygen), năng lượng dự trữ trong cơ thể bị phân hủy thành hợp chất gọi là pyruvate. Khi không có đủ oxi để hoạt động, cơ thể sẽ biến pyruvate thành lactat để cung cấp năng lượng cho cơ bắp trong vòng 1 – 3 phút. Sự tích tụ acid lactic có thể gây cảm giác nóng rát và nhức mỏi trong cơ. Sau khoảng 3 phút chuyển hóa năng lượng không cần oxygen, acid lactic sẽ báo hiệu đạt đến ngưỡng thể lực, khiến bạn gần như không thể thực hiện thêm động tác nào nữa. Việc sản xuất lactat chính là cơ chế bảo vệ giúp cơ chế bảo vệ giúp cơ thể bạn không gặp chấn thương trong quá trình luyện tập.
Giả sử trong điều kiện yếm khí, 1 mol glucose tạo được 2 mol ATP. Nếu 60% năng lượng từ ATP được chuyển hóa thành nhiệt, và mỗi mol ATP giải phóng 30 kJ, thì 1 mol glucose tạo ra [[____]] nhiệt năng (kJ).
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi: Acid lactic hay acid sữa là một hợp chất hóa học đóng vai trò rất quan trọng trong nhiều quá trình sinh hóa và được phân tách lần đầu tiên bởi nhà hóa học Thụy Điển Carl Wilhelm Scheele vào năm 1780. Acid lactic là một acid carboxylic có công thức phân tử là C3H6O3. Nó có một nhóm hydroxy (–OH) đứng gần nhóm carboxyl (–COOH) khiến nó là một acid alpha hydroxy (AHA). Trong dung dịch, nó có thể mất một proton từ nhóm acid, tạo ra ion lactat theo phương trình: Acid lactic là chất chính tạo ra cảm giác mỏi ở cơ bắp, đây là sản phẩm của quá trình oxi hoá. Khi vận động mạnh và cơ thể không cung cấp đủ oxi nữa, thì cơ thể sẽ thoái hóa glucose từ các tế bào để biến thành acid lactic. Cụ thể, trong quá trình tập luyện, một số bài tập cường độ cao khiến cơ thể không thể sử dụng oxygen đủ nhanh, lúc này cơ thể chuyển sang chế độ yếm khí (tức không cần oxygen), năng lượng dự trữ trong cơ thể bị phân hủy thành hợp chất gọi là pyruvate. Khi không có đủ oxi để hoạt động, cơ thể sẽ biến pyruvate thành lactat để cung cấp năng lượng cho cơ bắp trong vòng 1 – 3 phút. Sự tích tụ acid lactic có thể gây cảm giác nóng rát và nhức mỏi trong cơ. Sau khoảng 3 phút chuyển hóa năng lượng không cần oxygen, acid lactic sẽ báo hiệu đạt đến ngưỡng thể lực, khiến bạn gần như không thể thực hiện thêm động tác nào nữa. Việc sản xuất lactat chính là cơ chế bảo vệ giúp cơ chế bảo vệ giúp cơ thể bạn không gặp chấn thương trong quá trình luyện tập.
Glucose.
Acetyl-CoA.
Pyruvate.
Acid citric.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi: Acid lactic hay acid sữa là một hợp chất hóa học đóng vai trò rất quan trọng trong nhiều quá trình sinh hóa và được phân tách lần đầu tiên bởi nhà hóa học Thụy Điển Carl Wilhelm Scheele vào năm 1780. Acid lactic là một acid carboxylic có công thức phân tử là C3H6O3. Nó có một nhóm hydroxy (–OH) đứng gần nhóm carboxyl (–COOH) khiến nó là một acid alpha hydroxy (AHA). Trong dung dịch, nó có thể mất một proton từ nhóm acid, tạo ra ion lactat theo phương trình: Acid lactic là chất chính tạo ra cảm giác mỏi ở cơ bắp, đây là sản phẩm của quá trình oxi hoá. Khi vận động mạnh và cơ thể không cung cấp đủ oxi nữa, thì cơ thể sẽ thoái hóa glucose từ các tế bào để biến thành acid lactic. Cụ thể, trong quá trình tập luyện, một số bài tập cường độ cao khiến cơ thể không thể sử dụng oxygen đủ nhanh, lúc này cơ thể chuyển sang chế độ yếm khí (tức không cần oxygen), năng lượng dự trữ trong cơ thể bị phân hủy thành hợp chất gọi là pyruvate. Khi không có đủ oxi để hoạt động, cơ thể sẽ biến pyruvate thành lactat để cung cấp năng lượng cho cơ bắp trong vòng 1 – 3 phút. Sự tích tụ acid lactic có thể gây cảm giác nóng rát và nhức mỏi trong cơ. Sau khoảng 3 phút chuyển hóa năng lượng không cần oxygen, acid lactic sẽ báo hiệu đạt đến ngưỡng thể lực, khiến bạn gần như không thể thực hiện thêm động tác nào nữa. Việc sản xuất lactat chính là cơ chế bảo vệ giúp cơ chế bảo vệ giúp cơ thể bạn không gặp chấn thương trong quá trình luyện tập.
Acid lactic là nguyên nhân duy nhất gây ra cảm giác đau nhức cơ sau khi tập luyện.
Sự tích tụ acid lactic trong cơ chủ yếu làm giảm nồng độ oxy trong tế bào, từ đó gây cảm giác mỏi cơ.
Cơ thể sản xuất lactat như một cơ chế bảo vệ để hạn chế tổn thương khi vận động quá sức.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
PHÂN TÍCH HÀM LƯỢNG KHOÁNG CHẤT TRONG ĐẤT
Trong nông nghiệp, đất có thể được phân loại dựa trên hàm lượng khoáng chất (lượng kim loại khác nhau có trong đất) và hàm lượng hữu cơ (phần trăm thể tích đất bị chiếm giữ bởi vật chất được tạo ra bởi các sính vật sống). Nồng độ lí tưởng của khoáng chất khác nhau được tính bằng phần triệu (ppm) và được thể hiện trong bảng 1. Nếu hàm lượng của các loại khoáng chất khác nhau là như nhau so với mức tối ưu trong cùng một loại đất thì đất đó được cho là đất được xác định rõ. Ngược lại, nếu hàm lượng các loại khoáng chất khác nhau trong cùng một loại đất thay đổi nhiều so với múc tối ưu thì đất đó được cho là chưa xác định rõ.
Bảng 1. Nồng độ lí tưởng của các loại khoáng trong đất
Loại khoáng chất | Nồng độ lí tưởng (ppm) |
N | 22 |
P | 14 |
K | 129 |
Cl | 12 |
S | 88 |
Fe | 6,9 |
Mn | 2,7 |
Thí nghiệm 1:
Người ta thu thập mẫu đất của 5 trang trại khác nhau và mang về phòng thí nghiệm để nghiên cứu. Đất được làm khô sau đó được pha thành 1L mẫu thử nghiệm. Để đảm bảo rằng không có khoáng chất nào bị giữ lại trong chất hữu cơ của đất, mẫu đất được nung nóng ở nhiệt độ 500oC trong 20 phút, tro của chất hữu cơ được loại bỏ và phần đất còn lại được phân tích nồng độ các loại khoáng chất khác nhau. Kết quả phân tích được trình bày dưới dạng phần trăm của nồng độ lý tưởng trong bảng 2:

Thí nghiệm 2:
Để xác định phần trăm khối lượng của từng loại đất có chứa chất hữu cơ, quy trình trên được lặp lại, đất được cân trước khi cho vào nung nóng và sau khi loại bỏ tro. Số lượng tế bào sống (vi khuẩn, nấm,...) trong một mm khối của mỗi loại đất được xác định bằng phân tích kính hiển vi, kết quả được trình bày ở bảng 3:
Nông trại | % chất hữu cơ | Tế bào sống/mm3 |
1 | 7,1 | 2,964 |
2 | 8,9 | 3,920 |
3 | 4,8 | 1,642 |
4 | 6,6 | 2,672 |
5 | 18,9 | 9,467 |
S.
Cl.
Mn.
N.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
PHÂN TÍCH HÀM LƯỢNG KHOÁNG CHẤT TRONG ĐẤT
Trong nông nghiệp, đất có thể được phân loại dựa trên hàm lượng khoáng chất (lượng kim loại khác nhau có trong đất) và hàm lượng hữu cơ (phần trăm thể tích đất bị chiếm giữ bởi vật chất được tạo ra bởi các sính vật sống). Nồng độ lí tưởng của khoáng chất khác nhau được tính bằng phần triệu (ppm) và được thể hiện trong bảng 1. Nếu hàm lượng của các loại khoáng chất khác nhau là như nhau so với mức tối ưu trong cùng một loại đất thì đất đó được cho là đất được xác định rõ. Ngược lại, nếu hàm lượng các loại khoáng chất khác nhau trong cùng một loại đất thay đổi nhiều so với múc tối ưu thì đất đó được cho là chưa xác định rõ.
Bảng 1. Nồng độ lí tưởng của các loại khoáng trong đất
Loại khoáng chất | Nồng độ lí tưởng (ppm) |
N | 22 |
P | 14 |
K | 129 |
Cl | 12 |
S | 88 |
Fe | 6,9 |
Mn | 2,7 |
Thí nghiệm 1:
Người ta thu thập mẫu đất của 5 trang trại khác nhau và mang về phòng thí nghiệm để nghiên cứu. Đất được làm khô sau đó được pha thành 1L mẫu thử nghiệm. Để đảm bảo rằng không có khoáng chất nào bị giữ lại trong chất hữu cơ của đất, mẫu đất được nung nóng ở nhiệt độ 500oC trong 20 phút, tro của chất hữu cơ được loại bỏ và phần đất còn lại được phân tích nồng độ các loại khoáng chất khác nhau. Kết quả phân tích được trình bày dưới dạng phần trăm của nồng độ lý tưởng trong bảng 2:

Thí nghiệm 2:
Để xác định phần trăm khối lượng của từng loại đất có chứa chất hữu cơ, quy trình trên được lặp lại, đất được cân trước khi cho vào nung nóng và sau khi loại bỏ tro. Số lượng tế bào sống (vi khuẩn, nấm,...) trong một mm khối của mỗi loại đất được xác định bằng phân tích kính hiển vi, kết quả được trình bày ở bảng 3:
Nông trại | % chất hữu cơ | Tế bào sống/mm3 |
1 | 7,1 | 2,964 |
2 | 8,9 | 3,920 |
3 | 4,8 | 1,642 |
4 | 6,6 | 2,672 |
5 | 18,9 | 9,467 |
Chênh lệch phần trăm khoáng chất P giữa nông trại có mức thấp nhất và mức cao nhất là[[____]].
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
PHÂN TÍCH HÀM LƯỢNG KHOÁNG CHẤT TRONG ĐẤT
Trong nông nghiệp, đất có thể được phân loại dựa trên hàm lượng khoáng chất (lượng kim loại khác nhau có trong đất) và hàm lượng hữu cơ (phần trăm thể tích đất bị chiếm giữ bởi vật chất được tạo ra bởi các sính vật sống). Nồng độ lí tưởng của khoáng chất khác nhau được tính bằng phần triệu (ppm) và được thể hiện trong bảng 1. Nếu hàm lượng của các loại khoáng chất khác nhau là như nhau so với mức tối ưu trong cùng một loại đất thì đất đó được cho là đất được xác định rõ. Ngược lại, nếu hàm lượng các loại khoáng chất khác nhau trong cùng một loại đất thay đổi nhiều so với múc tối ưu thì đất đó được cho là chưa xác định rõ.
Bảng 1. Nồng độ lí tưởng của các loại khoáng trong đất
Loại khoáng chất | Nồng độ lí tưởng (ppm) |
N | 22 |
P | 14 |
K | 129 |
Cl | 12 |
S | 88 |
Fe | 6,9 |
Mn | 2,7 |
Thí nghiệm 1:
Người ta thu thập mẫu đất của 5 trang trại khác nhau và mang về phòng thí nghiệm để nghiên cứu. Đất được làm khô sau đó được pha thành 1L mẫu thử nghiệm. Để đảm bảo rằng không có khoáng chất nào bị giữ lại trong chất hữu cơ của đất, mẫu đất được nung nóng ở nhiệt độ 500oC trong 20 phút, tro của chất hữu cơ được loại bỏ và phần đất còn lại được phân tích nồng độ các loại khoáng chất khác nhau. Kết quả phân tích được trình bày dưới dạng phần trăm của nồng độ lý tưởng trong bảng 2:

Thí nghiệm 2:
Để xác định phần trăm khối lượng của từng loại đất có chứa chất hữu cơ, quy trình trên được lặp lại, đất được cân trước khi cho vào nung nóng và sau khi loại bỏ tro. Số lượng tế bào sống (vi khuẩn, nấm,...) trong một mm khối của mỗi loại đất được xác định bằng phân tích kính hiển vi, kết quả được trình bày ở bảng 3:
Nông trại | % chất hữu cơ | Tế bào sống/mm3 |
1 | 7,1 | 2,964 |
2 | 8,9 | 3,920 |
3 | 4,8 | 1,642 |
4 | 6,6 | 2,672 |
5 | 18,9 | 9,467 |
Sau khi nung đất ở 500°C, phần hữu cơ bị loại bỏ, phần còn lại được dùng để đo [[____]] khoáng chất.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
PHÂN TÍCH HÀM LƯỢNG KHOÁNG CHẤT TRONG ĐẤT
Trong nông nghiệp, đất có thể được phân loại dựa trên hàm lượng khoáng chất (lượng kim loại khác nhau có trong đất) và hàm lượng hữu cơ (phần trăm thể tích đất bị chiếm giữ bởi vật chất được tạo ra bởi các sính vật sống). Nồng độ lí tưởng của khoáng chất khác nhau được tính bằng phần triệu (ppm) và được thể hiện trong bảng 1. Nếu hàm lượng của các loại khoáng chất khác nhau là như nhau so với mức tối ưu trong cùng một loại đất thì đất đó được cho là đất được xác định rõ. Ngược lại, nếu hàm lượng các loại khoáng chất khác nhau trong cùng một loại đất thay đổi nhiều so với múc tối ưu thì đất đó được cho là chưa xác định rõ.
Bảng 1. Nồng độ lí tưởng của các loại khoáng trong đất
Loại khoáng chất | Nồng độ lí tưởng (ppm) |
N | 22 |
P | 14 |
K | 129 |
Cl | 12 |
S | 88 |
Fe | 6,9 |
Mn | 2,7 |
Thí nghiệm 1:
Người ta thu thập mẫu đất của 5 trang trại khác nhau và mang về phòng thí nghiệm để nghiên cứu. Đất được làm khô sau đó được pha thành 1L mẫu thử nghiệm. Để đảm bảo rằng không có khoáng chất nào bị giữ lại trong chất hữu cơ của đất, mẫu đất được nung nóng ở nhiệt độ 500oC trong 20 phút, tro của chất hữu cơ được loại bỏ và phần đất còn lại được phân tích nồng độ các loại khoáng chất khác nhau. Kết quả phân tích được trình bày dưới dạng phần trăm của nồng độ lý tưởng trong bảng 2:

Thí nghiệm 2:
Để xác định phần trăm khối lượng của từng loại đất có chứa chất hữu cơ, quy trình trên được lặp lại, đất được cân trước khi cho vào nung nóng và sau khi loại bỏ tro. Số lượng tế bào sống (vi khuẩn, nấm,...) trong một mm khối của mỗi loại đất được xác định bằng phân tích kính hiển vi, kết quả được trình bày ở bảng 3:
Nông trại | % chất hữu cơ | Tế bào sống/mm3 |
1 | 7,1 | 2,964 |
2 | 8,9 | 3,920 |
3 | 4,8 | 1,642 |
4 | 6,6 | 2,672 |
5 | 18,9 | 9,467 |
N.
P.
Fe.
Mn.
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 40 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.
Đăng nhập để làm bài