[9Study] Đề thi thử TSA Môn Sinh học 2027 - Đề số 40

Đánh giá Tư duy (TSA)Môn Tư duy khoa học - Sinh họcNăm 202714 câuChuẩn GDPT mới

Phần I

Câu 1

Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:

ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT

Đường huyết (glucose trong máu) là dạng năng lượng được chuyển hóa từ thức ăn do cơ thể nạp vào. Glucose được vận chuyển liên tục từ máu vào trong tế bào, là nguyên liệu cho quá trình hô hấp tế bào, sinh năng lượng dưới dạng ATP để cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào. Quá trình vận chuyển glucose vào tế bào là kiểu vận chuyển thụ động qua kênh protein (glucose transporter – GLUT) được mô tả trong hình dưới đây:

Hình minh họa

Hình. Vận chuyển glucose vào tế bào dưới tác dụng của insulin

(1) Insulin liên kết với thụ thể insulin nằm trên màng tế bào.

(2) Hoạt hóa kênh protein vận chuyển glucose.

(3) Glucose được vận chuyển vào tế bào.

(5) Glucose được sử dụng trong hô hấp tế bào tạo ra ATP.

(4), (6) Glucose dư thừa được tích lũy dưới dạng glycogen hoặc acid béo.

Sau bữa ăn, khi đường huyết tăng cao, insulin có tác dụng thúc đẩy vận chuyển glucose vào trong tế bào để điều hòa đường huyết về giá trị ổn định. Tốc độ vận chuyển glucose phụ thuộc chủ yếu vào sự chênh lệch nồng độ glucose giữa bên trong và bên ngoài tế bào, số lượng kênh glucose trên màng tế bào và nồng độ insulin. Nếu quá trình này bị trục trặc, lượng đường từ máu vào trong tế bào ít, hàm lượng đường trong máu tăng cao sẽ gây nên bệnh đái tháo đường. Dựa trên sự phụ thuộc vào insulin hay không, đái tháo đường được chia hai type:

Đái tháo đường type I là loại bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin. Do thiếu hụt insulin, glucose không được vận chuyển vào tế bào để sinh năng lượng mà tích tụ lại trong máu. Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi (độ tuổi dưới 30), thường được phát hiện từ sớm với nhiều triệu chứng: gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều.

Đái tháo đường type II do thụ thể tiếp nhận insulin trên màng tế bào bị hỏng hoặc bị giảm sút về số lượng, khiến quá trình vận chuyển glucose vào tế bào không được kích hoạt ngay cả khi có đủ lượng insulin. Bệnh thường xuất hiện ở những người trưởng thành (trên 40 tuổi), có thể trạng béo phì; bệnh có diễn biến chậm, âm thầm nên chỉ phát hiện ra khi các dấu hiệu đã rõ ràng.

(Văn bản được biên soạn lại; hình lấy từ đề tham khảo ILP.)

Thức ăn được tiêu hóa thành các chất dinh dưỡng rồi được hấp thụ vào máu. Trong đó, [1]_____ được vận chuyển từ máu vào tế bào qua [2]_____ và được sử dụng cho quá trình [3]_____ để sinh năng lượng.

A
hô hấp tế bào
B
glucose
C
kênh protein vận chuyển glucose (GLUT)
D
glycogen
E
quang hợp

Câu 2

Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:

ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT

Đường huyết (glucose trong máu) là dạng năng lượng được chuyển hóa từ thức ăn do cơ thể nạp vào. Glucose được vận chuyển liên tục từ máu vào trong tế bào, là nguyên liệu cho quá trình hô hấp tế bào, sinh năng lượng dưới dạng ATP để cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào. Quá trình vận chuyển glucose vào tế bào là kiểu vận chuyển thụ động qua kênh protein (glucose transporter – GLUT) được mô tả trong hình dưới đây:

Hình minh họa

Hình. Vận chuyển glucose vào tế bào dưới tác dụng của insulin

(1) Insulin liên kết với thụ thể insulin nằm trên màng tế bào.

(2) Hoạt hóa kênh protein vận chuyển glucose.

(3) Glucose được vận chuyển vào tế bào.

(5) Glucose được sử dụng trong hô hấp tế bào tạo ra ATP.

(4), (6) Glucose dư thừa được tích lũy dưới dạng glycogen hoặc acid béo.

Sau bữa ăn, khi đường huyết tăng cao, insulin có tác dụng thúc đẩy vận chuyển glucose vào trong tế bào để điều hòa đường huyết về giá trị ổn định. Tốc độ vận chuyển glucose phụ thuộc chủ yếu vào sự chênh lệch nồng độ glucose giữa bên trong và bên ngoài tế bào, số lượng kênh glucose trên màng tế bào và nồng độ insulin. Nếu quá trình này bị trục trặc, lượng đường từ máu vào trong tế bào ít, hàm lượng đường trong máu tăng cao sẽ gây nên bệnh đái tháo đường. Dựa trên sự phụ thuộc vào insulin hay không, đái tháo đường được chia hai type:

Đái tháo đường type I là loại bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin. Do thiếu hụt insulin, glucose không được vận chuyển vào tế bào để sinh năng lượng mà tích tụ lại trong máu. Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi (độ tuổi dưới 30), thường được phát hiện từ sớm với nhiều triệu chứng: gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều.

Đái tháo đường type II do thụ thể tiếp nhận insulin trên màng tế bào bị hỏng hoặc bị giảm sút về số lượng, khiến quá trình vận chuyển glucose vào tế bào không được kích hoạt ngay cả khi có đủ lượng insulin. Bệnh thường xuất hiện ở những người trưởng thành (trên 40 tuổi), có thể trạng béo phì; bệnh có diễn biến chậm, âm thầm nên chỉ phát hiện ra khi các dấu hiệu đã rõ ràng.

(Văn bản được biên soạn lại; hình lấy từ đề tham khảo ILP.)

Bệnh đái tháo đường type I là bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin, nên có thể điều trị bằng cách bổ sung insulin (tiêm insulin). Phát biểu trên đúng hay sai?

 

A

Đúng

B

Sai

Câu 3

Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:

ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT

Đường huyết (glucose trong máu) là dạng năng lượng được chuyển hóa từ thức ăn do cơ thể nạp vào. Glucose được vận chuyển liên tục từ máu vào trong tế bào, là nguyên liệu cho quá trình hô hấp tế bào, sinh năng lượng dưới dạng ATP để cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào. Quá trình vận chuyển glucose vào tế bào là kiểu vận chuyển thụ động qua kênh protein (glucose transporter – GLUT) được mô tả trong hình dưới đây:

Hình minh họa

Hình. Vận chuyển glucose vào tế bào dưới tác dụng của insulin

(1) Insulin liên kết với thụ thể insulin nằm trên màng tế bào.

(2) Hoạt hóa kênh protein vận chuyển glucose.

(3) Glucose được vận chuyển vào tế bào.

(5) Glucose được sử dụng trong hô hấp tế bào tạo ra ATP.

(4), (6) Glucose dư thừa được tích lũy dưới dạng glycogen hoặc acid béo.

Sau bữa ăn, khi đường huyết tăng cao, insulin có tác dụng thúc đẩy vận chuyển glucose vào trong tế bào để điều hòa đường huyết về giá trị ổn định. Tốc độ vận chuyển glucose phụ thuộc chủ yếu vào sự chênh lệch nồng độ glucose giữa bên trong và bên ngoài tế bào, số lượng kênh glucose trên màng tế bào và nồng độ insulin. Nếu quá trình này bị trục trặc, lượng đường từ máu vào trong tế bào ít, hàm lượng đường trong máu tăng cao sẽ gây nên bệnh đái tháo đường. Dựa trên sự phụ thuộc vào insulin hay không, đái tháo đường được chia hai type:

Đái tháo đường type I là loại bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin. Do thiếu hụt insulin, glucose không được vận chuyển vào tế bào để sinh năng lượng mà tích tụ lại trong máu. Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi (độ tuổi dưới 30), thường được phát hiện từ sớm với nhiều triệu chứng: gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều.

Đái tháo đường type II do thụ thể tiếp nhận insulin trên màng tế bào bị hỏng hoặc bị giảm sút về số lượng, khiến quá trình vận chuyển glucose vào tế bào không được kích hoạt ngay cả khi có đủ lượng insulin. Bệnh thường xuất hiện ở những người trưởng thành (trên 40 tuổi), có thể trạng béo phì; bệnh có diễn biến chậm, âm thầm nên chỉ phát hiện ra khi các dấu hiệu đã rõ ràng.

(Văn bản được biên soạn lại; hình lấy từ đề tham khảo ILP.)

Đái tháo đường type I thường gặp ở người trẻ tuổi (dưới 30 tuổi) và thường được phát hiện sớm nhờ các triệu chứng như gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều. Phát biểu trên đúng hay sai?

 

A

Đúng

B

Sai

Câu 4

Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:

ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT

Đường huyết (glucose trong máu) là dạng năng lượng được chuyển hóa từ thức ăn do cơ thể nạp vào. Glucose được vận chuyển liên tục từ máu vào trong tế bào, là nguyên liệu cho quá trình hô hấp tế bào, sinh năng lượng dưới dạng ATP để cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào. Quá trình vận chuyển glucose vào tế bào là kiểu vận chuyển thụ động qua kênh protein (glucose transporter – GLUT) được mô tả trong hình dưới đây:

Hình minh họa

Hình. Vận chuyển glucose vào tế bào dưới tác dụng của insulin

(1) Insulin liên kết với thụ thể insulin nằm trên màng tế bào.

(2) Hoạt hóa kênh protein vận chuyển glucose.

(3) Glucose được vận chuyển vào tế bào.

(5) Glucose được sử dụng trong hô hấp tế bào tạo ra ATP.

(4), (6) Glucose dư thừa được tích lũy dưới dạng glycogen hoặc acid béo.

Sau bữa ăn, khi đường huyết tăng cao, insulin có tác dụng thúc đẩy vận chuyển glucose vào trong tế bào để điều hòa đường huyết về giá trị ổn định. Tốc độ vận chuyển glucose phụ thuộc chủ yếu vào sự chênh lệch nồng độ glucose giữa bên trong và bên ngoài tế bào, số lượng kênh glucose trên màng tế bào và nồng độ insulin. Nếu quá trình này bị trục trặc, lượng đường từ máu vào trong tế bào ít, hàm lượng đường trong máu tăng cao sẽ gây nên bệnh đái tháo đường. Dựa trên sự phụ thuộc vào insulin hay không, đái tháo đường được chia hai type:

Đái tháo đường type I là loại bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin. Do thiếu hụt insulin, glucose không được vận chuyển vào tế bào để sinh năng lượng mà tích tụ lại trong máu. Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi (độ tuổi dưới 30), thường được phát hiện từ sớm với nhiều triệu chứng: gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều.

Đái tháo đường type II do thụ thể tiếp nhận insulin trên màng tế bào bị hỏng hoặc bị giảm sút về số lượng, khiến quá trình vận chuyển glucose vào tế bào không được kích hoạt ngay cả khi có đủ lượng insulin. Bệnh thường xuất hiện ở những người trưởng thành (trên 40 tuổi), có thể trạng béo phì; bệnh có diễn biến chậm, âm thầm nên chỉ phát hiện ra khi các dấu hiệu đã rõ ràng.

(Văn bản được biên soạn lại; hình lấy từ đề tham khảo ILP.)

Nhận định nào sau đây KHÔNG đúng khi nói về sự vận chuyển glucose từ máu vào trong tế bào?

A
Tốc độ vận chuyển phụ thuộc vào số lượng kênh glucose trên màng tế bào.
B
Quá trình này được thúc đẩy nhờ hormone insulin.
C
Glucose đi thẳng qua lớp phospholipid kép của màng mà không cần kênh protein.
D
Tốc độ vận chuyển phụ thuộc vào sự chênh lệch nồng độ glucose giữa bên trong và bên ngoài tế bào.

Câu 5

Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:

ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT

Đường huyết (glucose trong máu) là dạng năng lượng được chuyển hóa từ thức ăn do cơ thể nạp vào. Glucose được vận chuyển liên tục từ máu vào trong tế bào, là nguyên liệu cho quá trình hô hấp tế bào, sinh năng lượng dưới dạng ATP để cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào. Quá trình vận chuyển glucose vào tế bào là kiểu vận chuyển thụ động qua kênh protein (glucose transporter – GLUT) được mô tả trong hình dưới đây:

Hình minh họa

Hình. Vận chuyển glucose vào tế bào dưới tác dụng của insulin

(1) Insulin liên kết với thụ thể insulin nằm trên màng tế bào.

(2) Hoạt hóa kênh protein vận chuyển glucose.

(3) Glucose được vận chuyển vào tế bào.

(5) Glucose được sử dụng trong hô hấp tế bào tạo ra ATP.

(4), (6) Glucose dư thừa được tích lũy dưới dạng glycogen hoặc acid béo.

Sau bữa ăn, khi đường huyết tăng cao, insulin có tác dụng thúc đẩy vận chuyển glucose vào trong tế bào để điều hòa đường huyết về giá trị ổn định. Tốc độ vận chuyển glucose phụ thuộc chủ yếu vào sự chênh lệch nồng độ glucose giữa bên trong và bên ngoài tế bào, số lượng kênh glucose trên màng tế bào và nồng độ insulin. Nếu quá trình này bị trục trặc, lượng đường từ máu vào trong tế bào ít, hàm lượng đường trong máu tăng cao sẽ gây nên bệnh đái tháo đường. Dựa trên sự phụ thuộc vào insulin hay không, đái tháo đường được chia hai type:

Đái tháo đường type I là loại bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin. Do thiếu hụt insulin, glucose không được vận chuyển vào tế bào để sinh năng lượng mà tích tụ lại trong máu. Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi (độ tuổi dưới 30), thường được phát hiện từ sớm với nhiều triệu chứng: gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều.

Đái tháo đường type II do thụ thể tiếp nhận insulin trên màng tế bào bị hỏng hoặc bị giảm sút về số lượng, khiến quá trình vận chuyển glucose vào tế bào không được kích hoạt ngay cả khi có đủ lượng insulin. Bệnh thường xuất hiện ở những người trưởng thành (trên 40 tuổi), có thể trạng béo phì; bệnh có diễn biến chậm, âm thầm nên chỉ phát hiện ra khi các dấu hiệu đã rõ ràng.

(Văn bản được biên soạn lại; hình lấy từ đề tham khảo ILP.)

Người bị đái tháo đường thường khát nước nên uống nhiều, hay đói và ăn nhiều nhưng vẫn gầy. Nguyên nhân hợp lí nhất là gì?

A
Glucose không được vận chuyển vào tế bào để sinh năng lượng mà bị tích tụ lại trong máu.
B
Glucose không được hấp thụ từ ruột non vào máu.
C
Cơ thể không nạp được glucose từ thức ăn.
D
Glucose trong tế bào luôn dư thừa nên bị đào thải ra ngoài.

Câu 6

Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:

ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT

Đường huyết (glucose trong máu) là dạng năng lượng được chuyển hóa từ thức ăn do cơ thể nạp vào. Glucose được vận chuyển liên tục từ máu vào trong tế bào, là nguyên liệu cho quá trình hô hấp tế bào, sinh năng lượng dưới dạng ATP để cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào. Quá trình vận chuyển glucose vào tế bào là kiểu vận chuyển thụ động qua kênh protein (glucose transporter – GLUT) được mô tả trong hình dưới đây:

Hình minh họa

Hình. Vận chuyển glucose vào tế bào dưới tác dụng của insulin

(1) Insulin liên kết với thụ thể insulin nằm trên màng tế bào.

(2) Hoạt hóa kênh protein vận chuyển glucose.

(3) Glucose được vận chuyển vào tế bào.

(5) Glucose được sử dụng trong hô hấp tế bào tạo ra ATP.

(4), (6) Glucose dư thừa được tích lũy dưới dạng glycogen hoặc acid béo.

Sau bữa ăn, khi đường huyết tăng cao, insulin có tác dụng thúc đẩy vận chuyển glucose vào trong tế bào để điều hòa đường huyết về giá trị ổn định. Tốc độ vận chuyển glucose phụ thuộc chủ yếu vào sự chênh lệch nồng độ glucose giữa bên trong và bên ngoài tế bào, số lượng kênh glucose trên màng tế bào và nồng độ insulin. Nếu quá trình này bị trục trặc, lượng đường từ máu vào trong tế bào ít, hàm lượng đường trong máu tăng cao sẽ gây nên bệnh đái tháo đường. Dựa trên sự phụ thuộc vào insulin hay không, đái tháo đường được chia hai type:

Đái tháo đường type I là loại bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin. Do thiếu hụt insulin, glucose không được vận chuyển vào tế bào để sinh năng lượng mà tích tụ lại trong máu. Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi (độ tuổi dưới 30), thường được phát hiện từ sớm với nhiều triệu chứng: gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều.

Đái tháo đường type II do thụ thể tiếp nhận insulin trên màng tế bào bị hỏng hoặc bị giảm sút về số lượng, khiến quá trình vận chuyển glucose vào tế bào không được kích hoạt ngay cả khi có đủ lượng insulin. Bệnh thường xuất hiện ở những người trưởng thành (trên 40 tuổi), có thể trạng béo phì; bệnh có diễn biến chậm, âm thầm nên chỉ phát hiện ra khi các dấu hiệu đã rõ ràng.

(Văn bản được biên soạn lại; hình lấy từ đề tham khảo ILP.)

Có thể phòng tránh hoặc hạn chế nguy cơ mắc đái tháo đường type II. Xét tính đúng sai của các nhận định sau?

A
Tập thể dục và duy trì vận động đều đặn giúp hạn chế nguy cơ mắc bệnh.
B
Xây dựng chế độ ăn uống lành mạnh giúp hạn chế nguy cơ mắc bệnh.
C
Người khỏe mạnh cần tiêm insulin hằng ngày để phòng bệnh.
D
Hạn chế thực phẩm nhiều chất béo giúp giảm nguy cơ béo phì, từ đó giảm nguy cơ mắc bệnh.

Câu 7

Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:

ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT

Đường huyết (glucose trong máu) là dạng năng lượng được chuyển hóa từ thức ăn do cơ thể nạp vào. Glucose được vận chuyển liên tục từ máu vào trong tế bào, là nguyên liệu cho quá trình hô hấp tế bào, sinh năng lượng dưới dạng ATP để cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào. Quá trình vận chuyển glucose vào tế bào là kiểu vận chuyển thụ động qua kênh protein (glucose transporter – GLUT) được mô tả trong hình dưới đây:

Hình minh họa

Hình. Vận chuyển glucose vào tế bào dưới tác dụng của insulin

(1) Insulin liên kết với thụ thể insulin nằm trên màng tế bào.

(2) Hoạt hóa kênh protein vận chuyển glucose.

(3) Glucose được vận chuyển vào tế bào.

(5) Glucose được sử dụng trong hô hấp tế bào tạo ra ATP.

(4), (6) Glucose dư thừa được tích lũy dưới dạng glycogen hoặc acid béo.

Sau bữa ăn, khi đường huyết tăng cao, insulin có tác dụng thúc đẩy vận chuyển glucose vào trong tế bào để điều hòa đường huyết về giá trị ổn định. Tốc độ vận chuyển glucose phụ thuộc chủ yếu vào sự chênh lệch nồng độ glucose giữa bên trong và bên ngoài tế bào, số lượng kênh glucose trên màng tế bào và nồng độ insulin. Nếu quá trình này bị trục trặc, lượng đường từ máu vào trong tế bào ít, hàm lượng đường trong máu tăng cao sẽ gây nên bệnh đái tháo đường. Dựa trên sự phụ thuộc vào insulin hay không, đái tháo đường được chia hai type:

Đái tháo đường type I là loại bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin. Do thiếu hụt insulin, glucose không được vận chuyển vào tế bào để sinh năng lượng mà tích tụ lại trong máu. Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi (độ tuổi dưới 30), thường được phát hiện từ sớm với nhiều triệu chứng: gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều.

Đái tháo đường type II do thụ thể tiếp nhận insulin trên màng tế bào bị hỏng hoặc bị giảm sút về số lượng, khiến quá trình vận chuyển glucose vào tế bào không được kích hoạt ngay cả khi có đủ lượng insulin. Bệnh thường xuất hiện ở những người trưởng thành (trên 40 tuổi), có thể trạng béo phì; bệnh có diễn biến chậm, âm thầm nên chỉ phát hiện ra khi các dấu hiệu đã rõ ràng.

(Văn bản được biên soạn lại; hình lấy từ đề tham khảo ILP.)

Sau bữa ăn giàu tinh bột, đường huyết tăng cao, cơ thể có các cơ chế điều hòa để đưa đường huyết về giá trị an toàn. Xét tính đúng sai của các nhận định sau?

A
Tăng sản xuất insulin.
B
Tăng vận chuyển glucose từ máu vào tế bào.
C
Tăng dự trữ glucose dư thừa dưới dạng glycogen hoặc acid béo.
D
Tăng phân giải glycogen thành glucose.

Câu 8

Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 8 đến 14:

TẬP TÍNH SINH SẢN CỦA RUỒI BỌ CẠP

Ruồi “bọ cạp” (Scorpionfly) là một loài trong họ Panorpidae, thuộc nhóm động vật ăn xác thối. Loài ruồi này sống chủ yếu ở vùng Tây Âu và thường ăn xác các côn trùng chết, mật hoa và hoa quả thối rữa, chúng hút dịch lỏng trên xác chết. Trong quá trình giao phối, con đực có thể mang con mồi hoặc tiết nước bọt chứa dinh dưỡng như tặng phẩm (mồi nhử) đến cho con cái. Người ta nghiên cứu tỉ lệ giao phối thành công của con đực với kích thước khác nhau, tặng phẩm khác nhau cho con cái và tỉ lệ sử dụng các loại tặng phẩm của con đực. Giá trị thích nghi của các con đực tỉ lệ thuận với tỉ lệ thành công trong giao phối. Kết quả các thí nghiệm được thể hiện trong các biểu đồ A, B, C dưới đây:

Hình minh họa

Hình. Biểu đồ A: tỉ lệ giao phối thành công theo loại tặng phẩm; B: tỉ lệ phần trăm con đực dùng từng loại tặng phẩm theo kích thước; C: tỉ lệ giao phối thành công theo kích thước con đực

Khi ruồi bọ cạp đực sử dụng “mồi nhử” sẽ có khả năng sinh sản thành công cao hơn và giá trị dinh dưỡng của mồi nhử càng cao thì tỉ lệ sinh sản thành công càng cao: khi không có mồi nhử, tỉ lệ giao phối thành công chỉ khoảng 10%; khi sử dụng mồi nhử có “giá trị” càng cao thì tỉ lệ giao phối thành công càng tăng (trên 50%).

Kích thước của con đực cũng ảnh hưởng đến loại mồi nhử mà nó sử dụng làm tặng phẩm cho con cái, từ đó ảnh hưởng đến tỉ lệ giao phối thành công của mỗi con đực: con đực có kích thước lớn thường sử dụng mồi nhử có kích thước lớn hơn, dẫn đến có tỉ lệ giao phối thành công cao hơn. Điều này liên quan đến chiến lược sinh sản: con đực có kích thước lớn hơn có ưu thế lớn hơn trong việc tìm kiếm thức ăn, do đó có ưu thế để sử dụng mồi nhử hấp dẫn con cái.

(Văn bản được biên soạn lại; hình và ba biểu đồ lấy từ đề tham khảo ILP, giữ nguyên.)

Khi mồi nhử mà ruồi bọ cạp đực mang đến có “giá trị” càng cao thì tỉ lệ giao phối thành công càng [1]_____. Con đực có kích thước càng lớn thì càng có ưu thế trong việc [2]_____ nên dễ sử dụng mồi nhử hấp dẫn con cái.

A
cao
B
thấp
C
tìm kiếm thức ăn
D
tránh kẻ thù
E
tìm nơi ở

Câu 9

Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 8 đến 14:

TẬP TÍNH SINH SẢN CỦA RUỒI BỌ CẠP

Ruồi “bọ cạp” (Scorpionfly) là một loài trong họ Panorpidae, thuộc nhóm động vật ăn xác thối. Loài ruồi này sống chủ yếu ở vùng Tây Âu và thường ăn xác các côn trùng chết, mật hoa và hoa quả thối rữa, chúng hút dịch lỏng trên xác chết. Trong quá trình giao phối, con đực có thể mang con mồi hoặc tiết nước bọt chứa dinh dưỡng như tặng phẩm (mồi nhử) đến cho con cái. Người ta nghiên cứu tỉ lệ giao phối thành công của con đực với kích thước khác nhau, tặng phẩm khác nhau cho con cái và tỉ lệ sử dụng các loại tặng phẩm của con đực. Giá trị thích nghi của các con đực tỉ lệ thuận với tỉ lệ thành công trong giao phối. Kết quả các thí nghiệm được thể hiện trong các biểu đồ A, B, C dưới đây:

Hình minh họa

Hình. Biểu đồ A: tỉ lệ giao phối thành công theo loại tặng phẩm; B: tỉ lệ phần trăm con đực dùng từng loại tặng phẩm theo kích thước; C: tỉ lệ giao phối thành công theo kích thước con đực

Khi ruồi bọ cạp đực sử dụng “mồi nhử” sẽ có khả năng sinh sản thành công cao hơn và giá trị dinh dưỡng của mồi nhử càng cao thì tỉ lệ sinh sản thành công càng cao: khi không có mồi nhử, tỉ lệ giao phối thành công chỉ khoảng 10%; khi sử dụng mồi nhử có “giá trị” càng cao thì tỉ lệ giao phối thành công càng tăng (trên 50%).

Kích thước của con đực cũng ảnh hưởng đến loại mồi nhử mà nó sử dụng làm tặng phẩm cho con cái, từ đó ảnh hưởng đến tỉ lệ giao phối thành công của mỗi con đực: con đực có kích thước lớn thường sử dụng mồi nhử có kích thước lớn hơn, dẫn đến có tỉ lệ giao phối thành công cao hơn. Điều này liên quan đến chiến lược sinh sản: con đực có kích thước lớn hơn có ưu thế lớn hơn trong việc tìm kiếm thức ăn, do đó có ưu thế để sử dụng mồi nhử hấp dẫn con cái.

(Văn bản được biên soạn lại; hình và ba biểu đồ lấy từ đề tham khảo ILP, giữ nguyên.)

Theo biểu đồ C, tỉ lệ giao phối thành công của ruồi bọ cạp đực có kích thước nhỏ không vượt quá 20%. Phát biểu trên đúng hay sai?

 

A

Đúng

B

Sai

Câu 10

Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 8 đến 14:

TẬP TÍNH SINH SẢN CỦA RUỒI BỌ CẠP

Ruồi “bọ cạp” (Scorpionfly) là một loài trong họ Panorpidae, thuộc nhóm động vật ăn xác thối. Loài ruồi này sống chủ yếu ở vùng Tây Âu và thường ăn xác các côn trùng chết, mật hoa và hoa quả thối rữa, chúng hút dịch lỏng trên xác chết. Trong quá trình giao phối, con đực có thể mang con mồi hoặc tiết nước bọt chứa dinh dưỡng như tặng phẩm (mồi nhử) đến cho con cái. Người ta nghiên cứu tỉ lệ giao phối thành công của con đực với kích thước khác nhau, tặng phẩm khác nhau cho con cái và tỉ lệ sử dụng các loại tặng phẩm của con đực. Giá trị thích nghi của các con đực tỉ lệ thuận với tỉ lệ thành công trong giao phối. Kết quả các thí nghiệm được thể hiện trong các biểu đồ A, B, C dưới đây:

Hình minh họa

Hình. Biểu đồ A: tỉ lệ giao phối thành công theo loại tặng phẩm; B: tỉ lệ phần trăm con đực dùng từng loại tặng phẩm theo kích thước; C: tỉ lệ giao phối thành công theo kích thước con đực

Khi ruồi bọ cạp đực sử dụng “mồi nhử” sẽ có khả năng sinh sản thành công cao hơn và giá trị dinh dưỡng của mồi nhử càng cao thì tỉ lệ sinh sản thành công càng cao: khi không có mồi nhử, tỉ lệ giao phối thành công chỉ khoảng 10%; khi sử dụng mồi nhử có “giá trị” càng cao thì tỉ lệ giao phối thành công càng tăng (trên 50%).

Kích thước của con đực cũng ảnh hưởng đến loại mồi nhử mà nó sử dụng làm tặng phẩm cho con cái, từ đó ảnh hưởng đến tỉ lệ giao phối thành công của mỗi con đực: con đực có kích thước lớn thường sử dụng mồi nhử có kích thước lớn hơn, dẫn đến có tỉ lệ giao phối thành công cao hơn. Điều này liên quan đến chiến lược sinh sản: con đực có kích thước lớn hơn có ưu thế lớn hơn trong việc tìm kiếm thức ăn, do đó có ưu thế để sử dụng mồi nhử hấp dẫn con cái.

(Văn bản được biên soạn lại; hình và ba biểu đồ lấy từ đề tham khảo ILP, giữ nguyên.)

Theo biểu đồ B, phần lớn ruồi bọ cạp đực có kích thước lớn sử dụng dế (con mồi) làm mồi nhử cho con cái. Phát biểu trên đúng hay sai?

 

A

Đúng

B

Sai

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 14 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.

Đăng nhập để làm bài
Đề thi: [9Study] Đề thi thử TSA Môn Sinh học 2027 - Đề số 40 môn Tư duy khoa học - Sinh học 2027 (Đánh giá Tư duy (TSA)) - 9Study