Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:
ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT
Đường huyết (glucose trong máu) là dạng năng lượng được chuyển hóa từ thức ăn do cơ thể nạp vào. Glucose được vận chuyển liên tục từ máu vào trong tế bào, là nguyên liệu cho quá trình hô hấp tế bào, sinh năng lượng dưới dạng ATP để cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào. Quá trình vận chuyển glucose vào tế bào là kiểu vận chuyển thụ động qua kênh protein (glucose transporter – GLUT) được mô tả trong hình dưới đây:

Hình. Vận chuyển glucose vào tế bào dưới tác dụng của insulin
(1) Insulin liên kết với thụ thể insulin nằm trên màng tế bào.
(2) Hoạt hóa kênh protein vận chuyển glucose.
(3) Glucose được vận chuyển vào tế bào.
(5) Glucose được sử dụng trong hô hấp tế bào tạo ra ATP.
(4), (6) Glucose dư thừa được tích lũy dưới dạng glycogen hoặc acid béo.
Sau bữa ăn, khi đường huyết tăng cao, insulin có tác dụng thúc đẩy vận chuyển glucose vào trong tế bào để điều hòa đường huyết về giá trị ổn định. Tốc độ vận chuyển glucose phụ thuộc chủ yếu vào sự chênh lệch nồng độ glucose giữa bên trong và bên ngoài tế bào, số lượng kênh glucose trên màng tế bào và nồng độ insulin. Nếu quá trình này bị trục trặc, lượng đường từ máu vào trong tế bào ít, hàm lượng đường trong máu tăng cao sẽ gây nên bệnh đái tháo đường. Dựa trên sự phụ thuộc vào insulin hay không, đái tháo đường được chia hai type:
Đái tháo đường type I là loại bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin. Do thiếu hụt insulin, glucose không được vận chuyển vào tế bào để sinh năng lượng mà tích tụ lại trong máu. Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi (độ tuổi dưới 30), thường được phát hiện từ sớm với nhiều triệu chứng: gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều.
Đái tháo đường type II do thụ thể tiếp nhận insulin trên màng tế bào bị hỏng hoặc bị giảm sút về số lượng, khiến quá trình vận chuyển glucose vào tế bào không được kích hoạt ngay cả khi có đủ lượng insulin. Bệnh thường xuất hiện ở những người trưởng thành (trên 40 tuổi), có thể trạng béo phì; bệnh có diễn biến chậm, âm thầm nên chỉ phát hiện ra khi các dấu hiệu đã rõ ràng.
(Văn bản được biên soạn lại; hình lấy từ đề tham khảo ILP.)
Thức ăn được tiêu hóa thành các chất dinh dưỡng rồi được hấp thụ vào máu. Trong đó, [1]_____ được vận chuyển từ máu vào tế bào qua [2]_____ và được sử dụng cho quá trình [3]_____ để sinh năng lượng.
[1] = glucose (B): đường huyết là glucose được vận chuyển liên tục từ máu vào tế bào.
[2] = kênh protein vận chuyển glucose – GLUT (C): vận chuyển glucose vào tế bào là kiểu vận chuyển thụ động qua kênh protein GLUT.
[3] = hô hấp tế bào (A): glucose là nguyên liệu của hô hấp tế bào, sinh năng lượng dưới dạng ATP.
Chip glycogen (D) là dạng dự trữ khi glucose dư thừa; chip quang hợp (E) không phải quá trình trong tế bào người ⇒ không dùng.
Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:
ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT
Đường huyết (glucose trong máu) là dạng năng lượng được chuyển hóa từ thức ăn do cơ thể nạp vào. Glucose được vận chuyển liên tục từ máu vào trong tế bào, là nguyên liệu cho quá trình hô hấp tế bào, sinh năng lượng dưới dạng ATP để cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào. Quá trình vận chuyển glucose vào tế bào là kiểu vận chuyển thụ động qua kênh protein (glucose transporter – GLUT) được mô tả trong hình dưới đây:

Hình. Vận chuyển glucose vào tế bào dưới tác dụng của insulin
(1) Insulin liên kết với thụ thể insulin nằm trên màng tế bào.
(2) Hoạt hóa kênh protein vận chuyển glucose.
(3) Glucose được vận chuyển vào tế bào.
(5) Glucose được sử dụng trong hô hấp tế bào tạo ra ATP.
(4), (6) Glucose dư thừa được tích lũy dưới dạng glycogen hoặc acid béo.
Sau bữa ăn, khi đường huyết tăng cao, insulin có tác dụng thúc đẩy vận chuyển glucose vào trong tế bào để điều hòa đường huyết về giá trị ổn định. Tốc độ vận chuyển glucose phụ thuộc chủ yếu vào sự chênh lệch nồng độ glucose giữa bên trong và bên ngoài tế bào, số lượng kênh glucose trên màng tế bào và nồng độ insulin. Nếu quá trình này bị trục trặc, lượng đường từ máu vào trong tế bào ít, hàm lượng đường trong máu tăng cao sẽ gây nên bệnh đái tháo đường. Dựa trên sự phụ thuộc vào insulin hay không, đái tháo đường được chia hai type:
Đái tháo đường type I là loại bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin. Do thiếu hụt insulin, glucose không được vận chuyển vào tế bào để sinh năng lượng mà tích tụ lại trong máu. Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi (độ tuổi dưới 30), thường được phát hiện từ sớm với nhiều triệu chứng: gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều.
Đái tháo đường type II do thụ thể tiếp nhận insulin trên màng tế bào bị hỏng hoặc bị giảm sút về số lượng, khiến quá trình vận chuyển glucose vào tế bào không được kích hoạt ngay cả khi có đủ lượng insulin. Bệnh thường xuất hiện ở những người trưởng thành (trên 40 tuổi), có thể trạng béo phì; bệnh có diễn biến chậm, âm thầm nên chỉ phát hiện ra khi các dấu hiệu đã rõ ràng.
(Văn bản được biên soạn lại; hình lấy từ đề tham khảo ILP.)
Bệnh đái tháo đường type I là bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin, nên có thể điều trị bằng cách bổ sung insulin (tiêm insulin). Phát biểu trên đúng hay sai?
Đúng
Sai
Chọn A
Văn bản nêu đái tháo đường type I do tế bào sản xuất insulin bị phá hủy, gây thiếu hụt insulin nên glucose không vào được tế bào mà tích tụ trong máu. Vì bệnh do thiếu insulin nên bổ sung insulin bằng cách tiêm là biện pháp điều trị hợp lí ⇒ phát biểu đúng.
Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:
ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT
Đường huyết (glucose trong máu) là dạng năng lượng được chuyển hóa từ thức ăn do cơ thể nạp vào. Glucose được vận chuyển liên tục từ máu vào trong tế bào, là nguyên liệu cho quá trình hô hấp tế bào, sinh năng lượng dưới dạng ATP để cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào. Quá trình vận chuyển glucose vào tế bào là kiểu vận chuyển thụ động qua kênh protein (glucose transporter – GLUT) được mô tả trong hình dưới đây:

Hình. Vận chuyển glucose vào tế bào dưới tác dụng của insulin
(1) Insulin liên kết với thụ thể insulin nằm trên màng tế bào.
(2) Hoạt hóa kênh protein vận chuyển glucose.
(3) Glucose được vận chuyển vào tế bào.
(5) Glucose được sử dụng trong hô hấp tế bào tạo ra ATP.
(4), (6) Glucose dư thừa được tích lũy dưới dạng glycogen hoặc acid béo.
Sau bữa ăn, khi đường huyết tăng cao, insulin có tác dụng thúc đẩy vận chuyển glucose vào trong tế bào để điều hòa đường huyết về giá trị ổn định. Tốc độ vận chuyển glucose phụ thuộc chủ yếu vào sự chênh lệch nồng độ glucose giữa bên trong và bên ngoài tế bào, số lượng kênh glucose trên màng tế bào và nồng độ insulin. Nếu quá trình này bị trục trặc, lượng đường từ máu vào trong tế bào ít, hàm lượng đường trong máu tăng cao sẽ gây nên bệnh đái tháo đường. Dựa trên sự phụ thuộc vào insulin hay không, đái tháo đường được chia hai type:
Đái tháo đường type I là loại bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin. Do thiếu hụt insulin, glucose không được vận chuyển vào tế bào để sinh năng lượng mà tích tụ lại trong máu. Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi (độ tuổi dưới 30), thường được phát hiện từ sớm với nhiều triệu chứng: gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều.
Đái tháo đường type II do thụ thể tiếp nhận insulin trên màng tế bào bị hỏng hoặc bị giảm sút về số lượng, khiến quá trình vận chuyển glucose vào tế bào không được kích hoạt ngay cả khi có đủ lượng insulin. Bệnh thường xuất hiện ở những người trưởng thành (trên 40 tuổi), có thể trạng béo phì; bệnh có diễn biến chậm, âm thầm nên chỉ phát hiện ra khi các dấu hiệu đã rõ ràng.
(Văn bản được biên soạn lại; hình lấy từ đề tham khảo ILP.)
Đái tháo đường type I thường gặp ở người trẻ tuổi (dưới 30 tuổi) và thường được phát hiện sớm nhờ các triệu chứng như gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều. Phát biểu trên đúng hay sai?
Đúng
Sai
Chọn A
Văn bản nêu bệnh đái tháo đường type I thường gặp ở người trẻ tuổi (độ tuổi dưới 30), thường được phát hiện từ sớm với nhiều triệu chứng: gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều ⇒ phát biểu đúng.
Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:
ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT
Đường huyết (glucose trong máu) là dạng năng lượng được chuyển hóa từ thức ăn do cơ thể nạp vào. Glucose được vận chuyển liên tục từ máu vào trong tế bào, là nguyên liệu cho quá trình hô hấp tế bào, sinh năng lượng dưới dạng ATP để cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào. Quá trình vận chuyển glucose vào tế bào là kiểu vận chuyển thụ động qua kênh protein (glucose transporter – GLUT) được mô tả trong hình dưới đây:

Hình. Vận chuyển glucose vào tế bào dưới tác dụng của insulin
(1) Insulin liên kết với thụ thể insulin nằm trên màng tế bào.
(2) Hoạt hóa kênh protein vận chuyển glucose.
(3) Glucose được vận chuyển vào tế bào.
(5) Glucose được sử dụng trong hô hấp tế bào tạo ra ATP.
(4), (6) Glucose dư thừa được tích lũy dưới dạng glycogen hoặc acid béo.
Sau bữa ăn, khi đường huyết tăng cao, insulin có tác dụng thúc đẩy vận chuyển glucose vào trong tế bào để điều hòa đường huyết về giá trị ổn định. Tốc độ vận chuyển glucose phụ thuộc chủ yếu vào sự chênh lệch nồng độ glucose giữa bên trong và bên ngoài tế bào, số lượng kênh glucose trên màng tế bào và nồng độ insulin. Nếu quá trình này bị trục trặc, lượng đường từ máu vào trong tế bào ít, hàm lượng đường trong máu tăng cao sẽ gây nên bệnh đái tháo đường. Dựa trên sự phụ thuộc vào insulin hay không, đái tháo đường được chia hai type:
Đái tháo đường type I là loại bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin. Do thiếu hụt insulin, glucose không được vận chuyển vào tế bào để sinh năng lượng mà tích tụ lại trong máu. Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi (độ tuổi dưới 30), thường được phát hiện từ sớm với nhiều triệu chứng: gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều.
Đái tháo đường type II do thụ thể tiếp nhận insulin trên màng tế bào bị hỏng hoặc bị giảm sút về số lượng, khiến quá trình vận chuyển glucose vào tế bào không được kích hoạt ngay cả khi có đủ lượng insulin. Bệnh thường xuất hiện ở những người trưởng thành (trên 40 tuổi), có thể trạng béo phì; bệnh có diễn biến chậm, âm thầm nên chỉ phát hiện ra khi các dấu hiệu đã rõ ràng.
(Văn bản được biên soạn lại; hình lấy từ đề tham khảo ILP.)
Nhận định nào sau đây KHÔNG đúng khi nói về sự vận chuyển glucose từ máu vào trong tế bào?
Chọn C
Văn bản nêu vận chuyển glucose vào tế bào là vận chuyển thụ động qua kênh protein (GLUT), không đi trực tiếp qua lớp phospholipid ⇒ C sai.
A, B, D đúng: tốc độ vận chuyển phụ thuộc chủ yếu vào sự chênh lệch nồng độ glucose trong – ngoài tế bào, số lượng kênh glucose trên màng và nồng độ insulin; insulin thúc đẩy vận chuyển glucose vào tế bào.
Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:
ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT
Đường huyết (glucose trong máu) là dạng năng lượng được chuyển hóa từ thức ăn do cơ thể nạp vào. Glucose được vận chuyển liên tục từ máu vào trong tế bào, là nguyên liệu cho quá trình hô hấp tế bào, sinh năng lượng dưới dạng ATP để cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào. Quá trình vận chuyển glucose vào tế bào là kiểu vận chuyển thụ động qua kênh protein (glucose transporter – GLUT) được mô tả trong hình dưới đây:

Hình. Vận chuyển glucose vào tế bào dưới tác dụng của insulin
(1) Insulin liên kết với thụ thể insulin nằm trên màng tế bào.
(2) Hoạt hóa kênh protein vận chuyển glucose.
(3) Glucose được vận chuyển vào tế bào.
(5) Glucose được sử dụng trong hô hấp tế bào tạo ra ATP.
(4), (6) Glucose dư thừa được tích lũy dưới dạng glycogen hoặc acid béo.
Sau bữa ăn, khi đường huyết tăng cao, insulin có tác dụng thúc đẩy vận chuyển glucose vào trong tế bào để điều hòa đường huyết về giá trị ổn định. Tốc độ vận chuyển glucose phụ thuộc chủ yếu vào sự chênh lệch nồng độ glucose giữa bên trong và bên ngoài tế bào, số lượng kênh glucose trên màng tế bào và nồng độ insulin. Nếu quá trình này bị trục trặc, lượng đường từ máu vào trong tế bào ít, hàm lượng đường trong máu tăng cao sẽ gây nên bệnh đái tháo đường. Dựa trên sự phụ thuộc vào insulin hay không, đái tháo đường được chia hai type:
Đái tháo đường type I là loại bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin. Do thiếu hụt insulin, glucose không được vận chuyển vào tế bào để sinh năng lượng mà tích tụ lại trong máu. Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi (độ tuổi dưới 30), thường được phát hiện từ sớm với nhiều triệu chứng: gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều.
Đái tháo đường type II do thụ thể tiếp nhận insulin trên màng tế bào bị hỏng hoặc bị giảm sút về số lượng, khiến quá trình vận chuyển glucose vào tế bào không được kích hoạt ngay cả khi có đủ lượng insulin. Bệnh thường xuất hiện ở những người trưởng thành (trên 40 tuổi), có thể trạng béo phì; bệnh có diễn biến chậm, âm thầm nên chỉ phát hiện ra khi các dấu hiệu đã rõ ràng.
(Văn bản được biên soạn lại; hình lấy từ đề tham khảo ILP.)
Người bị đái tháo đường thường khát nước nên uống nhiều, hay đói và ăn nhiều nhưng vẫn gầy. Nguyên nhân hợp lí nhất là gì?
Chọn A
Ở người đái tháo đường, glucose không được vận chuyển vào tế bào (do thiếu insulin hoặc do thụ thể insulin bị hỏng, giảm số lượng) nên tế bào thiếu nguyên liệu hô hấp, thiếu năng lượng ⇒ người bệnh đói, ăn nhiều nhưng vẫn gầy; glucose tích tụ trong máu làm đường huyết tăng cao.
B, C sai vì thức ăn vẫn được tiêu hóa, hấp thụ vào máu; D sai vì trong tế bào lúc này thiếu glucose chứ không dư thừa.
Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:
ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT
Đường huyết (glucose trong máu) là dạng năng lượng được chuyển hóa từ thức ăn do cơ thể nạp vào. Glucose được vận chuyển liên tục từ máu vào trong tế bào, là nguyên liệu cho quá trình hô hấp tế bào, sinh năng lượng dưới dạng ATP để cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào. Quá trình vận chuyển glucose vào tế bào là kiểu vận chuyển thụ động qua kênh protein (glucose transporter – GLUT) được mô tả trong hình dưới đây:

Hình. Vận chuyển glucose vào tế bào dưới tác dụng của insulin
(1) Insulin liên kết với thụ thể insulin nằm trên màng tế bào.
(2) Hoạt hóa kênh protein vận chuyển glucose.
(3) Glucose được vận chuyển vào tế bào.
(5) Glucose được sử dụng trong hô hấp tế bào tạo ra ATP.
(4), (6) Glucose dư thừa được tích lũy dưới dạng glycogen hoặc acid béo.
Sau bữa ăn, khi đường huyết tăng cao, insulin có tác dụng thúc đẩy vận chuyển glucose vào trong tế bào để điều hòa đường huyết về giá trị ổn định. Tốc độ vận chuyển glucose phụ thuộc chủ yếu vào sự chênh lệch nồng độ glucose giữa bên trong và bên ngoài tế bào, số lượng kênh glucose trên màng tế bào và nồng độ insulin. Nếu quá trình này bị trục trặc, lượng đường từ máu vào trong tế bào ít, hàm lượng đường trong máu tăng cao sẽ gây nên bệnh đái tháo đường. Dựa trên sự phụ thuộc vào insulin hay không, đái tháo đường được chia hai type:
Đái tháo đường type I là loại bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin. Do thiếu hụt insulin, glucose không được vận chuyển vào tế bào để sinh năng lượng mà tích tụ lại trong máu. Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi (độ tuổi dưới 30), thường được phát hiện từ sớm với nhiều triệu chứng: gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều.
Đái tháo đường type II do thụ thể tiếp nhận insulin trên màng tế bào bị hỏng hoặc bị giảm sút về số lượng, khiến quá trình vận chuyển glucose vào tế bào không được kích hoạt ngay cả khi có đủ lượng insulin. Bệnh thường xuất hiện ở những người trưởng thành (trên 40 tuổi), có thể trạng béo phì; bệnh có diễn biến chậm, âm thầm nên chỉ phát hiện ra khi các dấu hiệu đã rõ ràng.
(Văn bản được biên soạn lại; hình lấy từ đề tham khảo ILP.)
Có thể phòng tránh hoặc hạn chế nguy cơ mắc đái tháo đường type II. Xét tính đúng sai của các nhận định sau?
a) Đúng. Vận động giúp kiểm soát cân nặng, giảm nguy cơ béo phì – thể trạng thường gặp ở người đái tháo đường type II.
b) Đúng. Chế độ ăn lành mạnh giúp kiểm soát cân nặng và đường huyết.
c) Sai. Người khỏe mạnh có insulin bình thường, không cần tiêm insulin; bệnh type II cũng không do thiếu insulin mà do thụ thể tiếp nhận insulin bị hỏng hoặc giảm số lượng.
d) Đúng. Văn bản nêu đái tháo đường type II thường gặp ở người có thể trạng béo phì; hạn chế thực phẩm nhiều chất béo giúp giảm nguy cơ béo phì.
Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:
ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT
Đường huyết (glucose trong máu) là dạng năng lượng được chuyển hóa từ thức ăn do cơ thể nạp vào. Glucose được vận chuyển liên tục từ máu vào trong tế bào, là nguyên liệu cho quá trình hô hấp tế bào, sinh năng lượng dưới dạng ATP để cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào. Quá trình vận chuyển glucose vào tế bào là kiểu vận chuyển thụ động qua kênh protein (glucose transporter – GLUT) được mô tả trong hình dưới đây:

Hình. Vận chuyển glucose vào tế bào dưới tác dụng của insulin
(1) Insulin liên kết với thụ thể insulin nằm trên màng tế bào.
(2) Hoạt hóa kênh protein vận chuyển glucose.
(3) Glucose được vận chuyển vào tế bào.
(5) Glucose được sử dụng trong hô hấp tế bào tạo ra ATP.
(4), (6) Glucose dư thừa được tích lũy dưới dạng glycogen hoặc acid béo.
Sau bữa ăn, khi đường huyết tăng cao, insulin có tác dụng thúc đẩy vận chuyển glucose vào trong tế bào để điều hòa đường huyết về giá trị ổn định. Tốc độ vận chuyển glucose phụ thuộc chủ yếu vào sự chênh lệch nồng độ glucose giữa bên trong và bên ngoài tế bào, số lượng kênh glucose trên màng tế bào và nồng độ insulin. Nếu quá trình này bị trục trặc, lượng đường từ máu vào trong tế bào ít, hàm lượng đường trong máu tăng cao sẽ gây nên bệnh đái tháo đường. Dựa trên sự phụ thuộc vào insulin hay không, đái tháo đường được chia hai type:
Đái tháo đường type I là loại bệnh tự miễn dẫn đến sự phá hủy các tế bào sản xuất insulin. Do thiếu hụt insulin, glucose không được vận chuyển vào tế bào để sinh năng lượng mà tích tụ lại trong máu. Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi (độ tuổi dưới 30), thường được phát hiện từ sớm với nhiều triệu chứng: gầy nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều.
Đái tháo đường type II do thụ thể tiếp nhận insulin trên màng tế bào bị hỏng hoặc bị giảm sút về số lượng, khiến quá trình vận chuyển glucose vào tế bào không được kích hoạt ngay cả khi có đủ lượng insulin. Bệnh thường xuất hiện ở những người trưởng thành (trên 40 tuổi), có thể trạng béo phì; bệnh có diễn biến chậm, âm thầm nên chỉ phát hiện ra khi các dấu hiệu đã rõ ràng.
(Văn bản được biên soạn lại; hình lấy từ đề tham khảo ILP.)
Sau bữa ăn giàu tinh bột, đường huyết tăng cao, cơ thể có các cơ chế điều hòa để đưa đường huyết về giá trị an toàn. Xét tính đúng sai của các nhận định sau?
a) Đúng. Khi đường huyết tăng cao, insulin được tiết nhiều hơn để thúc đẩy vận chuyển glucose vào tế bào.
b) Đúng. Insulin thúc đẩy vận chuyển glucose từ máu vào tế bào, làm đường huyết giảm về giá trị ổn định.
c) Đúng. Glucose dư thừa được tích lũy dưới dạng glycogen hoặc acid béo (các bước (4), (6) trong hình).
d) Sai. Phân giải glycogen thành glucose làm tăng thêm glucose trong máu, không giúp giảm đường huyết sau bữa ăn.
Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 8 đến 14:
TẬP TÍNH SINH SẢN CỦA RUỒI BỌ CẠP
Ruồi “bọ cạp” (Scorpionfly) là một loài trong họ Panorpidae, thuộc nhóm động vật ăn xác thối. Loài ruồi này sống chủ yếu ở vùng Tây Âu và thường ăn xác các côn trùng chết, mật hoa và hoa quả thối rữa, chúng hút dịch lỏng trên xác chết. Trong quá trình giao phối, con đực có thể mang con mồi hoặc tiết nước bọt chứa dinh dưỡng như tặng phẩm (mồi nhử) đến cho con cái. Người ta nghiên cứu tỉ lệ giao phối thành công của con đực với kích thước khác nhau, tặng phẩm khác nhau cho con cái và tỉ lệ sử dụng các loại tặng phẩm của con đực. Giá trị thích nghi của các con đực tỉ lệ thuận với tỉ lệ thành công trong giao phối. Kết quả các thí nghiệm được thể hiện trong các biểu đồ A, B, C dưới đây:

Hình. Biểu đồ A: tỉ lệ giao phối thành công theo loại tặng phẩm; B: tỉ lệ phần trăm con đực dùng từng loại tặng phẩm theo kích thước; C: tỉ lệ giao phối thành công theo kích thước con đực
Khi ruồi bọ cạp đực sử dụng “mồi nhử” sẽ có khả năng sinh sản thành công cao hơn và giá trị dinh dưỡng của mồi nhử càng cao thì tỉ lệ sinh sản thành công càng cao: khi không có mồi nhử, tỉ lệ giao phối thành công chỉ khoảng 10%; khi sử dụng mồi nhử có “giá trị” càng cao thì tỉ lệ giao phối thành công càng tăng (trên 50%).
Kích thước của con đực cũng ảnh hưởng đến loại mồi nhử mà nó sử dụng làm tặng phẩm cho con cái, từ đó ảnh hưởng đến tỉ lệ giao phối thành công của mỗi con đực: con đực có kích thước lớn thường sử dụng mồi nhử có kích thước lớn hơn, dẫn đến có tỉ lệ giao phối thành công cao hơn. Điều này liên quan đến chiến lược sinh sản: con đực có kích thước lớn hơn có ưu thế lớn hơn trong việc tìm kiếm thức ăn, do đó có ưu thế để sử dụng mồi nhử hấp dẫn con cái.
(Văn bản được biên soạn lại; hình và ba biểu đồ lấy từ đề tham khảo ILP, giữ nguyên.)
Khi mồi nhử mà ruồi bọ cạp đực mang đến có “giá trị” càng cao thì tỉ lệ giao phối thành công càng [1]_____. Con đực có kích thước càng lớn thì càng có ưu thế trong việc [2]_____ nên dễ sử dụng mồi nhử hấp dẫn con cái.
[1] = cao (A): văn bản nêu giá trị dinh dưỡng của mồi nhử càng cao thì tỉ lệ giao phối thành công càng cao (biểu đồ A: không mồi chỉ khoảng 10%, có mồi nhử giá trị cao thì > 50%).
[2] = tìm kiếm thức ăn (C): con đực kích thước lớn hơn có ưu thế lớn hơn trong việc tìm kiếm thức ăn, do đó có ưu thế để dùng mồi nhử hấp dẫn con cái.
Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 8 đến 14:
TẬP TÍNH SINH SẢN CỦA RUỒI BỌ CẠP
Ruồi “bọ cạp” (Scorpionfly) là một loài trong họ Panorpidae, thuộc nhóm động vật ăn xác thối. Loài ruồi này sống chủ yếu ở vùng Tây Âu và thường ăn xác các côn trùng chết, mật hoa và hoa quả thối rữa, chúng hút dịch lỏng trên xác chết. Trong quá trình giao phối, con đực có thể mang con mồi hoặc tiết nước bọt chứa dinh dưỡng như tặng phẩm (mồi nhử) đến cho con cái. Người ta nghiên cứu tỉ lệ giao phối thành công của con đực với kích thước khác nhau, tặng phẩm khác nhau cho con cái và tỉ lệ sử dụng các loại tặng phẩm của con đực. Giá trị thích nghi của các con đực tỉ lệ thuận với tỉ lệ thành công trong giao phối. Kết quả các thí nghiệm được thể hiện trong các biểu đồ A, B, C dưới đây:

Hình. Biểu đồ A: tỉ lệ giao phối thành công theo loại tặng phẩm; B: tỉ lệ phần trăm con đực dùng từng loại tặng phẩm theo kích thước; C: tỉ lệ giao phối thành công theo kích thước con đực
Khi ruồi bọ cạp đực sử dụng “mồi nhử” sẽ có khả năng sinh sản thành công cao hơn và giá trị dinh dưỡng của mồi nhử càng cao thì tỉ lệ sinh sản thành công càng cao: khi không có mồi nhử, tỉ lệ giao phối thành công chỉ khoảng 10%; khi sử dụng mồi nhử có “giá trị” càng cao thì tỉ lệ giao phối thành công càng tăng (trên 50%).
Kích thước của con đực cũng ảnh hưởng đến loại mồi nhử mà nó sử dụng làm tặng phẩm cho con cái, từ đó ảnh hưởng đến tỉ lệ giao phối thành công của mỗi con đực: con đực có kích thước lớn thường sử dụng mồi nhử có kích thước lớn hơn, dẫn đến có tỉ lệ giao phối thành công cao hơn. Điều này liên quan đến chiến lược sinh sản: con đực có kích thước lớn hơn có ưu thế lớn hơn trong việc tìm kiếm thức ăn, do đó có ưu thế để sử dụng mồi nhử hấp dẫn con cái.
(Văn bản được biên soạn lại; hình và ba biểu đồ lấy từ đề tham khảo ILP, giữ nguyên.)
Theo biểu đồ C, tỉ lệ giao phối thành công của ruồi bọ cạp đực có kích thước nhỏ không vượt quá 20%. Phát biểu trên đúng hay sai?
Đúng
Sai
Chọn A
Biểu đồ C: con đực kích thước nhỏ có tỉ lệ giao phối thành công khoảng 15% (< 20%), trung bình khoảng 24%, lớn khoảng 61% ⇒ con đực nhỏ có tỉ lệ không vượt quá 20% ⇒ phát biểu đúng.
Dựa vào thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 8 đến 14:
TẬP TÍNH SINH SẢN CỦA RUỒI BỌ CẠP
Ruồi “bọ cạp” (Scorpionfly) là một loài trong họ Panorpidae, thuộc nhóm động vật ăn xác thối. Loài ruồi này sống chủ yếu ở vùng Tây Âu và thường ăn xác các côn trùng chết, mật hoa và hoa quả thối rữa, chúng hút dịch lỏng trên xác chết. Trong quá trình giao phối, con đực có thể mang con mồi hoặc tiết nước bọt chứa dinh dưỡng như tặng phẩm (mồi nhử) đến cho con cái. Người ta nghiên cứu tỉ lệ giao phối thành công của con đực với kích thước khác nhau, tặng phẩm khác nhau cho con cái và tỉ lệ sử dụng các loại tặng phẩm của con đực. Giá trị thích nghi của các con đực tỉ lệ thuận với tỉ lệ thành công trong giao phối. Kết quả các thí nghiệm được thể hiện trong các biểu đồ A, B, C dưới đây:

Hình. Biểu đồ A: tỉ lệ giao phối thành công theo loại tặng phẩm; B: tỉ lệ phần trăm con đực dùng từng loại tặng phẩm theo kích thước; C: tỉ lệ giao phối thành công theo kích thước con đực
Khi ruồi bọ cạp đực sử dụng “mồi nhử” sẽ có khả năng sinh sản thành công cao hơn và giá trị dinh dưỡng của mồi nhử càng cao thì tỉ lệ sinh sản thành công càng cao: khi không có mồi nhử, tỉ lệ giao phối thành công chỉ khoảng 10%; khi sử dụng mồi nhử có “giá trị” càng cao thì tỉ lệ giao phối thành công càng tăng (trên 50%).
Kích thước của con đực cũng ảnh hưởng đến loại mồi nhử mà nó sử dụng làm tặng phẩm cho con cái, từ đó ảnh hưởng đến tỉ lệ giao phối thành công của mỗi con đực: con đực có kích thước lớn thường sử dụng mồi nhử có kích thước lớn hơn, dẫn đến có tỉ lệ giao phối thành công cao hơn. Điều này liên quan đến chiến lược sinh sản: con đực có kích thước lớn hơn có ưu thế lớn hơn trong việc tìm kiếm thức ăn, do đó có ưu thế để sử dụng mồi nhử hấp dẫn con cái.
(Văn bản được biên soạn lại; hình và ba biểu đồ lấy từ đề tham khảo ILP, giữ nguyên.)
Theo biểu đồ B, phần lớn ruồi bọ cạp đực có kích thước lớn sử dụng dế (con mồi) làm mồi nhử cho con cái. Phát biểu trên đúng hay sai?
Đúng
Sai
Chọn A
Biểu đồ B, nhóm con đực kích thước lớn: dùng dế khoảng 70%, dùng nước bọt khoảng 25%, không dùng mồi nhử khoảng 5% ⇒ phần lớn (khoảng 70%) con đực lớn dùng dế làm mồi nhử ⇒ phát biểu đúng.
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đáp án | - | A | A | C | A | A | A | - | A | A |
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 14 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.
Đăng nhập để làm bài