[Dữ liệu 1]
Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người
Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.
Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.
Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ
hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng
khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.
Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.
Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

Biết diện tích cơ hoành khoảng 300 cm², khi cơ hoành hạ xuống một đoạn 2 cm trong động tác hít vào, thể tích khoang lồng ngực sẽ biến đổi như thế nào?
[Dữ liệu 1]
Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người
Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.
Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.
Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ
hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng
khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.
Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.
Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

Kéo thả các cụm từ thích hợp
| cơ hoành | phổi | cơ liên sườn | tiêu tốn năng lượng |
| nhanh hơn | chậm hơn | không cần dùng năng lượng |
Khi hít vào, [1] co lại và hạ thấp xuống, đòi hỏi sự co cơ chủ động nên quá trình này [2] . Ngược lại, động tác thở ra bình thường không cần cơ chủ động co nên được xem là quá trình thụ động. Tuy nhiên khi thở gắng sức, các cơ liên quan sẽ co để ép lồng ngực thu nhỏ [3] , lúc đó thở ra cũng trở thành một quá trình tích cực.
cơ hoành
tiêu tốn năng lượng
nhanh hơn
[Dữ liệu 1]
Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người
Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.
Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.
Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ
hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng
khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.
Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.
Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

Các nhận định dưới đây về mối quan hệ giữa lồng ngực và phổi trong hô hấp là Đúng hay Sai?
[Dữ liệu 1]
Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người
Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.
Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.
Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ
hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng
khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.
Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.
Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

, (NB) Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên đồng thời theo bao nhiêu chiều (hướng) trong không gian?
[Dữ liệu 1]
Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người
Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.
Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.
Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ
hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng
khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.
Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.
Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

Quan sát Hình 1 và Hình 2, hãy nối mỗi ý ở cột trái với đáp án phù hợp ở cột phải:
| 1. Hình 1 thể hiện | a. Phổi | |
| 2. Hình 2 thể hiện | b. Bộ phận hít vào | |
| 3. Bộ phận A là | c. Ổ bụng | |
| 4, Bộ phận B là | d. Quá trình thở ra | |
| e. cơ hoành | ||
| g. cơ liên sườn |
[Dữ liệu 1]
Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người
Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.
Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.
Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ
hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng
khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.
Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.
Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

Kéo thả các cụm từ vào đúng vị trí mô tả kiểu thở:
| Thở ngực | Thở bụng | Thở ngực bụng |
[1] : chủ yếu do các cơ vùng ngực hoạt động, thay đổi thể tích lồng ngực là chính – kiểu thở đặc trưng ở động vật đang mang thai.
[2] : chủ yếu do các cơ vùng bụng hoạt động, thay đổi thể tích xoang bụng là chính – kiểu thở đặc trưng ở gia súc non hoặc con vật bị thương vùng ngực.
[3] : có sự phối hợp của cả cơ vùng ngực lẫn vùng bụng – kiểu thở đặc trưng ở gia súc trưởng thành.
Thở ngực
Thở bụng
Thở ngực bụng
[Dữ liệu 1]
Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người
Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.
Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.
Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ
hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng
khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.
Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.
Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

Trong điều kiện nhiệt độ không đổi, hãy chọn tất cả các phát biểu đúng về sự thay đổi áp suất khí trong phổi khi hít vào và thở ra? ( chọn tất cả các phương án đúng )
Khi hít vào, áp suất trong phổi giảm xuống thấp hơn áp suất khí quyển, khiến không khí đi vào phổi.
Khi thở ra, thể tích lồng ngực giảm khiến không khí trong phổi bị đẩy ra ngoài.
Khi hít vào, áp suất trong phổi tăng cao hơn áp suất khí quyển, khiến không khí đi vào phổi.
Khi thở ra, áp suất trong phổi cao hơn áp suất khí quyển bên ngoài, làm không khí bị đẩy ra.
[Dữ liệu 1]
Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người
Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.
Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.
Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ
hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng
khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.
Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.
Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

Một người bịt kín mũi và miệng rồi chủ động mở rộng khoang ngực thêm 400 ml (không có khí mới đi vào phổi). Biết ban đầu phổi chứa 6000 ml khí ở áp suất 1 atm và nhiệt độ không đổi trong suốt quá trình. Tính áp suất khí trong phổi lúc này (làm tròn đến 2 chữ số thập phân).
[Dữ liệu 3]
Các kiểu truyền tín hiệu trong tế bào
Tế bào phản ứng với nhiều loại tín hiệu khác nhau – một số bắt nguồn từ bên ngoài cơ
thể, một số được tạo ra từ bên trong. Tín hiệu được tạo ra từ bên trong có thể được miêu tả theo phương thức chúng tìm tới đích. Một số phân tử tín hiệu được vận chuyển qua quãng đường dài nhờ mạch máu; một số khác có tác động tại chỗ nhiều hơn. Ở động vật, tín hiệu bởi phân tử ngoại bào có thể được chia thành ba dạng – nội tiết (endocrine), cận tiết (paracrine) hoặc tự tiết (autocrine) – tùy thuộc vào khoảng cách mà tín hiệu hoạt động (Hình 1. a; b; c). Thêm vào đó, một số protein màng nhất định trên một tế bào có thể trực tiếp truyền tín hiệu cho tế bào lân cận thông qua các truyền tín hiệu trực tiếp (hình d).

Trong truyền tín hiệu tự tiết, tế bào đáp ứng với hợp chất mà chính chúng giải phóng ra. Một số yếu tố sinh trưởng hoạt động theo kiểu này, và tế bào nuôi cấy thường tiết ra các yếu tố sinh trưởng kích thích sự tăng trưởng và tăng sinh của chính bản thân chúng. Dạng tín hiệu này là đặc điểm đặc trưng của các tế bào ung thư, nhiều trong số đó sản xuất quá thừa và tiết ra các yếu tố sinh trưởng kích thích sự tự tăng sinh không phù hợp và mất kiểm soát, một quá trình có thể dẫn tới hình thành khối u.
Trong truyền tín hiệu nội tiết, phân tử tín hiệu được tổng hợp và tiết ra bởi tế bào tạo
tín hiệu (ví dụ những tế bào được tìm thấy trong tuyến nội tiết), được vận chuyển qua
hệ tuần hoàn của cơ thể, và cuối cùng tác động lên tế bào đích ở cách xa so với nơi
chúng được tổng hợp. Thuật ngữ hormone thường để chỉ những phân tử tín hiệu điều
tiết quá trình truyền tín hiệu endocrine.
Trong truyền tín hiệu cận tiết, phân tử tín hiệu giải phóng bởi một tế bào chỉ có thể tác động lên các tế bào đích ở cự ly gần. Một tế bào thần kinh giải phóng chất dẫn truyền xung thần kinh (ví dụ acetylcholine) tác động lên một tế bào thần kinh lân cận hoặc một tế bào cơ (kích thích hoặc ức chế co cơ) là ví dụ của truyền tín hiệu cận tiết.
Trong truyền tín hiệu qua tiếp xúc trực tiếp, protein xuyên màng tại màng tế bào cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền tín hiệu. Trong một vài trường hợp, những phân tử tín hiệu gắn màng trên một tế bào gắn vào thụ thể trên bề mặt một tế bào đích lân cận, gây ra quá trình biệt hóa. Trong trường hợp khác, sự phân giải của protein tín hiệu đính màng giải phóng miền ngoại bào có chức năng như một phân tử tín hiệu hòa
Dựa theo khoảng cách và phương thức mà tín hiệu được truyền từ tế bào này sang tế bào khác, các nhà khoa học phân chia truyền tín hiệu tế bào thành mấy kiểu chính?
[Dữ liệu 3]
Các kiểu truyền tín hiệu trong tế bào
Tế bào phản ứng với nhiều loại tín hiệu khác nhau – một số bắt nguồn từ bên ngoài cơ
thể, một số được tạo ra từ bên trong. Tín hiệu được tạo ra từ bên trong có thể được miêu tả theo phương thức chúng tìm tới đích. Một số phân tử tín hiệu được vận chuyển qua quãng đường dài nhờ mạch máu; một số khác có tác động tại chỗ nhiều hơn. Ở động vật, tín hiệu bởi phân tử ngoại bào có thể được chia thành ba dạng – nội tiết (endocrine), cận tiết (paracrine) hoặc tự tiết (autocrine) – tùy thuộc vào khoảng cách mà tín hiệu hoạt động (Hình 1. a; b; c). Thêm vào đó, một số protein màng nhất định trên một tế bào có thể trực tiếp truyền tín hiệu cho tế bào lân cận thông qua các truyền tín hiệu trực tiếp (hình d).

Trong truyền tín hiệu tự tiết, tế bào đáp ứng với hợp chất mà chính chúng giải phóng ra. Một số yếu tố sinh trưởng hoạt động theo kiểu này, và tế bào nuôi cấy thường tiết ra các yếu tố sinh trưởng kích thích sự tăng trưởng và tăng sinh của chính bản thân chúng. Dạng tín hiệu này là đặc điểm đặc trưng của các tế bào ung thư, nhiều trong số đó sản xuất quá thừa và tiết ra các yếu tố sinh trưởng kích thích sự tự tăng sinh không phù hợp và mất kiểm soát, một quá trình có thể dẫn tới hình thành khối u.
Trong truyền tín hiệu nội tiết, phân tử tín hiệu được tổng hợp và tiết ra bởi tế bào tạo
tín hiệu (ví dụ những tế bào được tìm thấy trong tuyến nội tiết), được vận chuyển qua
hệ tuần hoàn của cơ thể, và cuối cùng tác động lên tế bào đích ở cách xa so với nơi
chúng được tổng hợp. Thuật ngữ hormone thường để chỉ những phân tử tín hiệu điều
tiết quá trình truyền tín hiệu endocrine.
Trong truyền tín hiệu cận tiết, phân tử tín hiệu giải phóng bởi một tế bào chỉ có thể tác động lên các tế bào đích ở cự ly gần. Một tế bào thần kinh giải phóng chất dẫn truyền xung thần kinh (ví dụ acetylcholine) tác động lên một tế bào thần kinh lân cận hoặc một tế bào cơ (kích thích hoặc ức chế co cơ) là ví dụ của truyền tín hiệu cận tiết.
Trong truyền tín hiệu qua tiếp xúc trực tiếp, protein xuyên màng tại màng tế bào cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền tín hiệu. Trong một vài trường hợp, những phân tử tín hiệu gắn màng trên một tế bào gắn vào thụ thể trên bề mặt một tế bào đích lân cận, gây ra quá trình biệt hóa. Trong trường hợp khác, sự phân giải của protein tín hiệu đính màng giải phóng miền ngoại bào có chức năng như một phân tử tín hiệu hòa
Sắp xếp các giai đoạn sau theo đúng trình tự diễn ra khi một tế bào tương tác với một phân tử tín hiệu ngoại bào:
| Giai đoạn | Thứ tự sắp xếp đúng |
| 1. Truyền tin nội bào (khuếch đại tín hiệu bên trong tế bào) | |
| 2. Phân tử tín hiệu được giải phóng từ tế bào tiết ra | |
| 3. Thay đổi hoạt động chức năng của tế bào đích | |
| 4. Phân tử tín hiệu gắn kết đặc hiệu với thụ thể |
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.
Đăng nhập để làm bài