Đáp án & lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 7 - Sinh học

Đánh giá Tư duy (TSA)Môn Tư duy khoa học - Sinh họcNăm 202713 câuChuẩn GDPT mới

Phần I

Câu 1

[Dữ liệu 1]

Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người

Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.

Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.

Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ

hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng

khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.

Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.

Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

Hình minh họa

Biết diện tích cơ hoành khoảng 300 cm², khi cơ hoành hạ xuống một đoạn 2 cm trong động tác hít vào, thể tích khoang lồng ngực sẽ biến đổi như thế nào?

A
Giảm 300 cm³
B
Tăng 600 cm³
C
Giảm 600 cm³
D
Tăng 300 cm³

Lời giải

Chọn B

Cơ hoành hoạt động như một piston, thể tích tăng thêm = diện tích × quãng đường di chuyển = 300 cm² × 2 cm = 600 cm³. Vì cơ hoành hạ xuống (co lại) nên thể tích lồng ngực tăng, không phải giảm.

Câu 2

[Dữ liệu 1]

Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người

Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.

Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.

Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ

hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng

khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.

Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.

Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

Hình minh họa

Kéo thả các cụm từ thích hợp

cơ hoành phổi cơ liên sườn tiêu tốn năng lượng
nhanh hơn chậm hơn không cần dùng năng lượng

Khi hít vào, [1] co lại và hạ thấp xuống, đòi hỏi sự co cơ chủ động nên quá trình này [2]  . Ngược lại, động tác thở ra bình thường không cần cơ chủ động co nên được xem là quá trình thụ động. Tuy nhiên khi thở gắng sức, các cơ liên quan sẽ co để ép lồng ngực thu nhỏ [3] , lúc đó thở ra cũng trở thành một quá trình tích cực.

A

cơ hoành

B

tiêu tốn năng lượng

C

nhanh hơn

Đáp án đúng: tiêu tốn năng lượng — cơ hoành — nhanh hơn

Lời giải

Hít vào cần cơ hoành co chủ động → tiêu tốn năng lượng. Khi thở ra gắng sức, cơ tham gia co để ép lồng ngực nhanh hơn so với thở ra bình thường (thụ động, chỉ nhờ đàn hồi).

Câu 3

[Dữ liệu 1]

Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người

Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.

Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.

Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ

hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng

khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.

Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.

Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

Hình minh họa

Các nhận định dưới đây về mối quan hệ giữa lồng ngực và phổi trong hô hấp là Đúng hay Sai?

A
Thể tích lồng ngực tăng theo chiều trước–sau chủ yếu là nhờ cơ hoành co và hạ thấp xuống.
B
Mô phổi luôn ở trạng thái căng (không xẹp hoàn toàn) trong suốt chu kỳ hô hấp.
C
Ở mọi thời điểm của hít vào và thở ra, phổi luôn áp sát và lấp đầy khoang lồng ngực.

Lời giải

a) Đúng theo nội dung đoạn văn.

b và c) Đúng

Vì áp suất âm trong khoang màng phổi luôn giữ cho phổi dán sát thành ngực, nên phổi luôn giãn ở một mức nhất định và lấp đầy khoang ngực dù đang hít vào hay thở ra; phổi tự nó không có cơ nên hoàn toàn thụ động theo lồng ngực.

Câu 4

[Dữ liệu 1]

Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người

Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.

Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.

Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ

hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng

khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.

Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.

Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

Hình minh họa

, (NB) Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên đồng thời theo bao nhiêu chiều (hướng) trong không gian?

Đáp án đúng: 3

Lời giải

Chọn 3

Lồng ngực tăng thể tích theo 3 chiều: trước–sau (do cơ hoành), trên–dưới và trái–phải (do cơ liên sườn ngoài).

Câu 5

[Dữ liệu 1]

Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người

Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.

Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.

Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ

hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng

khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.

Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.

Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

Hình minh họa

Quan sát Hình 1 và Hình 2, hãy nối mỗi ý ở cột trái với đáp án phù hợp ở cột phải:

1. Hình 1 thể hiện a. Phổi
2. Hình 2 thể hiện b. Bộ phận hít vào
3. Bộ phận A là c. Ổ bụng
4, Bộ phận B là d. Quá trình thở ra
  e. cơ hoành
  g. cơ liên sườn
Đáp án đúng: adbe

Lời giải

Hình 1 phổi căng phồng (màu xanh sáng) → đang hít vào; Hình 2 phổi thu nhỏ, cơ hoành phồng lên cao (đỏ) → đang thở ra. A chỉ vào phổi, B chỉ vào cơ hoành (vòm cong nằm dưới phổi, ngăn cách lồng ngực và ổ bụng).

Câu 6

[Dữ liệu 1]

Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người

Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.

Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.

Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ

hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng

khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.

Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.

Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

Hình minh họa

Kéo thả các cụm từ vào đúng vị trí mô tả kiểu thở:

Thở ngực Thở bụng Thở ngực bụng

[1] : chủ yếu do các cơ vùng ngực hoạt động, thay đổi thể tích lồng ngực là chính – kiểu thở đặc trưng ở động vật đang mang thai.

[2] : chủ yếu do các cơ vùng bụng hoạt động, thay đổi thể tích xoang bụng là chính – kiểu thở đặc trưng ở gia súc non hoặc con vật bị thương vùng ngực.

[3] : có sự phối hợp của cả cơ vùng ngực lẫn vùng bụng – kiểu thở đặc trưng ở gia súc trưởng thành.

A

Thở ngực

B

Thở bụng

C

Thở ngực bụng

Đáp án đúng: Thở bụng — Thở ngực bụng — Thở ngực

Lời giải

Kiểu thở được gọi tên theo nhóm cơ đóng vai trò chính làm thay đổi thể tích khoang chứa phổi. Ở con vật có chửa, tử cung to chèn ép ổ bụng khiến cơ hoành khó hạ sâu, nên cơ liên sườn (vùng ngực) phải hoạt động mạnh hơn → thở ngực. Ở gia súc non (cơ liên sườn còn yếu) hoặc con vật bị thương vùng ngực (khó cử động cơ liên sườn), cơ hoành và cơ bụng phải đảm nhiệm chính → thở bụng. Còn ở gia súc trưởng thành, cả hai nhóm cơ đều phát triển đầy đủ và phối hợp cân bằng → thở ngực bụng.

Sử dụng kết hợp với thông tin sau để trả lời Câu 7, Câu 8:

Đối với một lượng khí lí tưởng xác định, khi thể tích, nhiệt độ và áp suất của một khối

lượng khí xác định không thay đổi, ta nói lượng khí ở trạng thái cân bằng. Thể tích, áp

suất và nhiệt độ của lượng khí được gọi là các thông số trạng thái của nó. Khí chuyển

từ trạng thái này sang trạng thái khác bằng các quá trình biến đổi trạng thái, gọi tắt là

quá trình. Trong hầu hết các quá trình biến đổi trạng thái của một khối lượng khí xác

định thì cả ba thông số trạng thái (áp suất p, thể tích V, nhiệt độ T) đều có thể biến đổi.

Nếu một trong ba thông số trên giữ nguyên, hai thông số còn lại thay đổi trong quá trình

biến đổi trạng thái thì được gọi là đẳng quá trình. Chẳng hạn:

- Áp suất không đổi: quá trình đẳng áp. Khi áp suất của một khối lượng khí xác

định giữ không đổi thì thể tích của khí tỉ lệ thuận với nhiệt độ tuyệt đối của nó:

V/T = hằng số.

- Nhiệt độ không đổi: quá trình đẳng nhiệt. Khi nhiệt độ của một khối lượng khí

xác định giữ không đổi thì áp suất gây ra bởi khí tỉ lệ nghịch với thể tích của nó:

pV = hằng số (Định luật Boyle).

Khí thực khi biến đổi các thông số trạng thái ở điều kiện phòng được có thể coi tuân

theo đúng như các định luật trên.

Câu 7

[Dữ liệu 1]

Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người

Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.

Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.

Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ

hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng

khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.

Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.

Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

Hình minh họa

Trong điều kiện nhiệt độ không đổi, hãy chọn tất cả các phát biểu đúng về sự thay đổi áp suất khí trong phổi khi hít vào và thở ra? ( chọn tất cả các phương án đúng )

A

Khi hít vào, áp suất trong phổi giảm xuống thấp hơn áp suất khí quyển, khiến không khí đi vào phổi.

B

Khi thở ra, thể tích lồng ngực giảm khiến không khí trong phổi bị đẩy ra ngoài.

C

Khi hít vào, áp suất trong phổi tăng cao hơn áp suất khí quyển, khiến không khí đi vào phổi.

D

Khi thở ra, áp suất trong phổi cao hơn áp suất khí quyển bên ngoài, làm không khí bị đẩy ra.

Lời giải

Chọn A, B, D

Theo định luật Boyle (pV = hằng số ở nhiệt độ không đổi), khi thể tích phổi tăng (hít vào) thì áp suất giảm dưới áp suất khí quyển → không khí đi vào (A đúng, C sai vì ngược chiều). Khi thở ra, thể tích giảm → áp suất tăng cao hơn bên ngoài → khí bị đẩy ra (B, D đúng).

Câu 8

[Dữ liệu 1]

Sự thay đổi thể tích lồng ngực trong các cử động hô hấp ở người

Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác hít thở và động tác thở ra.

Trong đó, hít vào được coi là quá trình tích cực, còn thở ra là quá trình thụ động.

Khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng lên theo chiều trước – sau nhờ cơ hoành co. Cơ

hoành hình vòm có đỉnh quay về phía trước, ngăn cách lồng ngực với ổ bụng, rộng

khoảng 300 cm2. Khi cơ hoành co, đỉnh vòm bớt cong và lùi về phía sau. Do đó, khi hít vào thể tích lồng ngực tăng, đồng thời bụng phình ra do các nội quan trong ổ bụng bị dồn ép. Có thể hình dung cơ hoành như một piston chuyển động trong một ống bơm là lồng ngực.

Ở chiều trên – dưới và chiều trái – phải: khi hít vào các cơ liên sườn ngoài co vừa nâng xương sườn ra phía trước vừa giãn rộng sang hai bên, làm cho thể tích lồng ngực tăng lên ở cả hai chiều. Như vậy khi hít vào, thể tích lồng ngực tăng và thể tích phổi cũng tăng theo, tạo điều kiện cho luồng không khí đi vào các phế nang.

Khi thở ra các cơ hít vào giãn ra, lồng ngực trở lại thế nghỉ ngơi ban đầu. Thể tích lồng ngực giảm làm cho phổi cũng xẹp xuống đẩy không khí ra ngoài. Sự giảm thể tích phổi còn do tính đàn hồi của chính nó.

Hình minh họa

Một người bịt kín mũi và miệng rồi chủ động mở rộng khoang ngực thêm 400 ml (không có khí mới đi vào phổi). Biết ban đầu phổi chứa 6000 ml khí ở áp suất 1 atm và nhiệt độ không đổi trong suốt quá trình. Tính áp suất khí trong phổi lúc này (làm tròn đến 2 chữ số thập phân).

Đáp án đúng: 0,94

Lời giải

Chọn 0,94

Giải thích: Áp dụng định luật Boyle: P₁V₁ = P₂V₂

1 × 6000 = P₂ × (6000 + 400)

P₂ = 6000 / 6400 ≈ 0,9375 ≈ 0,94 atm

Câu 9

[Dữ liệu 3]

Các kiểu truyền tín hiệu trong tế bào

Tế bào phản ứng với nhiều loại tín hiệu khác nhau – một số bắt nguồn từ bên ngoài cơ

thể, một số được tạo ra từ bên trong. Tín hiệu được tạo ra từ bên trong có thể được miêu tả theo phương thức chúng tìm tới đích. Một số phân tử tín hiệu được vận chuyển qua quãng đường dài nhờ mạch máu; một số khác có tác động tại chỗ nhiều hơn. Ở động vật, tín hiệu bởi phân tử ngoại bào có thể được chia thành ba dạng – nội tiết (endocrine), cận tiết (paracrine) hoặc tự tiết (autocrine) – tùy thuộc vào khoảng cách mà tín hiệu hoạt động (Hình 1. a; b; c). Thêm vào đó, một số protein màng nhất định trên một tế bào có thể trực tiếp truyền tín hiệu cho tế bào lân cận thông qua các truyền tín hiệu trực tiếp (hình d).

Hình minh họa

Trong truyền tín hiệu tự tiết, tế bào đáp ứng với hợp chất mà chính chúng giải phóng ra. Một số yếu tố sinh trưởng hoạt động theo kiểu này, và tế bào nuôi cấy thường tiết ra các yếu tố sinh trưởng kích thích sự tăng trưởng và tăng sinh của chính bản thân chúng. Dạng tín hiệu này là đặc điểm đặc trưng của các tế bào ung thư, nhiều trong số đó sản xuất quá thừa và tiết ra các yếu tố sinh trưởng kích thích sự tự tăng sinh không phù hợp và mất kiểm soát, một quá trình có thể dẫn tới hình thành khối u.

Trong truyền tín hiệu nội tiết, phân tử tín hiệu được tổng hợp và tiết ra bởi tế bào tạo

tín hiệu (ví dụ những tế bào được tìm thấy trong tuyến nội tiết), được vận chuyển qua

hệ tuần hoàn của cơ thể, và cuối cùng tác động lên tế bào đích ở cách xa so với nơi

chúng được tổng hợp. Thuật ngữ hormone thường để chỉ những phân tử tín hiệu điều

tiết quá trình truyền tín hiệu endocrine.

Trong truyền tín hiệu cận tiết, phân tử tín hiệu giải phóng bởi một tế bào chỉ có thể tác động lên các tế bào đích ở cự ly gần. Một tế bào thần kinh giải phóng chất dẫn truyền xung thần kinh (ví dụ acetylcholine) tác động lên một tế bào thần kinh lân cận hoặc một tế bào cơ (kích thích hoặc ức chế co cơ) là ví dụ của truyền tín hiệu cận tiết.

Trong truyền tín hiệu qua tiếp xúc trực tiếp, protein xuyên màng tại màng tế bào cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền tín hiệu. Trong một vài trường hợp, những phân tử tín hiệu gắn màng trên một tế bào gắn vào thụ thể trên bề mặt một tế bào đích lân cận, gây ra quá trình biệt hóa. Trong trường hợp khác, sự phân giải của protein tín hiệu đính màng giải phóng miền ngoại bào có chức năng như một phân tử tín hiệu hòa

Dựa theo khoảng cách và phương thức mà tín hiệu được truyền từ tế bào này sang tế bào khác, các nhà khoa học phân chia truyền tín hiệu tế bào thành mấy kiểu chính?

Đáp án đúng: 4

Lời giải

Chọn 4

Theo ngữ liệu, có 4 kiểu truyền tín hiệu: tự tiết (autocrine), nội tiết (endocrine), cận tiết (paracrine) và truyền tín hiệu qua tiếp xúc trực tiếp.

Câu 10

[Dữ liệu 3]

Các kiểu truyền tín hiệu trong tế bào

Tế bào phản ứng với nhiều loại tín hiệu khác nhau – một số bắt nguồn từ bên ngoài cơ

thể, một số được tạo ra từ bên trong. Tín hiệu được tạo ra từ bên trong có thể được miêu tả theo phương thức chúng tìm tới đích. Một số phân tử tín hiệu được vận chuyển qua quãng đường dài nhờ mạch máu; một số khác có tác động tại chỗ nhiều hơn. Ở động vật, tín hiệu bởi phân tử ngoại bào có thể được chia thành ba dạng – nội tiết (endocrine), cận tiết (paracrine) hoặc tự tiết (autocrine) – tùy thuộc vào khoảng cách mà tín hiệu hoạt động (Hình 1. a; b; c). Thêm vào đó, một số protein màng nhất định trên một tế bào có thể trực tiếp truyền tín hiệu cho tế bào lân cận thông qua các truyền tín hiệu trực tiếp (hình d).

Hình minh họa

Trong truyền tín hiệu tự tiết, tế bào đáp ứng với hợp chất mà chính chúng giải phóng ra. Một số yếu tố sinh trưởng hoạt động theo kiểu này, và tế bào nuôi cấy thường tiết ra các yếu tố sinh trưởng kích thích sự tăng trưởng và tăng sinh của chính bản thân chúng. Dạng tín hiệu này là đặc điểm đặc trưng của các tế bào ung thư, nhiều trong số đó sản xuất quá thừa và tiết ra các yếu tố sinh trưởng kích thích sự tự tăng sinh không phù hợp và mất kiểm soát, một quá trình có thể dẫn tới hình thành khối u.

Trong truyền tín hiệu nội tiết, phân tử tín hiệu được tổng hợp và tiết ra bởi tế bào tạo

tín hiệu (ví dụ những tế bào được tìm thấy trong tuyến nội tiết), được vận chuyển qua

hệ tuần hoàn của cơ thể, và cuối cùng tác động lên tế bào đích ở cách xa so với nơi

chúng được tổng hợp. Thuật ngữ hormone thường để chỉ những phân tử tín hiệu điều

tiết quá trình truyền tín hiệu endocrine.

Trong truyền tín hiệu cận tiết, phân tử tín hiệu giải phóng bởi một tế bào chỉ có thể tác động lên các tế bào đích ở cự ly gần. Một tế bào thần kinh giải phóng chất dẫn truyền xung thần kinh (ví dụ acetylcholine) tác động lên một tế bào thần kinh lân cận hoặc một tế bào cơ (kích thích hoặc ức chế co cơ) là ví dụ của truyền tín hiệu cận tiết.

Trong truyền tín hiệu qua tiếp xúc trực tiếp, protein xuyên màng tại màng tế bào cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền tín hiệu. Trong một vài trường hợp, những phân tử tín hiệu gắn màng trên một tế bào gắn vào thụ thể trên bề mặt một tế bào đích lân cận, gây ra quá trình biệt hóa. Trong trường hợp khác, sự phân giải của protein tín hiệu đính màng giải phóng miền ngoại bào có chức năng như một phân tử tín hiệu hòa

Sắp xếp các giai đoạn sau theo đúng trình tự diễn ra khi một tế bào tương tác với một phân tử tín hiệu ngoại bào:

Giai đoạn Thứ tự sắp xếp đúng
1. Truyền tin nội bào (khuếch đại tín hiệu bên trong tế bào)  
2. Phân tử tín hiệu được giải phóng từ tế bào tiết ra  
3. Thay đổi hoạt động chức năng của tế bào đích  
4. Phân tử tín hiệu gắn kết đặc hiệu với thụ thể  
Đáp án đúng: 2413

Lời giải

Chọn 2413

Quá trình truyền tín hiệu luôn bắt đầu từ việc tế bào tiết phân tử tín hiệu ra ngoài, sau đó phân tử này gắn đặc hiệu vào thụ thể trên tế bào đích, kích hoạt chuỗi truyền tin bên trong tế bào (thường qua các protein trung gian, enzyme khuếch đại tín hiệu), và cuối cùng dẫn đến sự thay đổi hoạt động/chức năng của tế bào đích (như thay đổi biểu hiện gen, co cơ, tiết chất...).

Bảng tra cứu nhanh đáp án trọn bộ 10 câu hỏiNhấn để đóng / mở
Câu12345678910
Đáp ánB-A3adbe-A0,9442413

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.

Đăng nhập để làm bài
Đáp án & Lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 7 - Sinh học môn Tư duy khoa học - Sinh học 2027 (Đánh giá Tư duy (TSA)) - 9Study