Các biến đổi trong quá trình lên men Boza
Kiymet Guven và cộng sự đã nghiên cứu về đồ uống lên men truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ - Boza, trong đó khảo sát các biến đổi trong quá trình lên men. Các tác giả đã sử dụng phương pháp của Hanciolu để chế biến dịch nền (Boza base) cho lên men. Bột ngô, bột mì và gạo được trộn theo tỷ lệ 2:1:1 (theo khối lượng). Nước được thêm vào hỗn hợp theo tỷ lệ 1:1 (kl/kl) và được trộn trong máy xay tốc độ cao. Nước đun sôi được thêm vào hỗn hợp đặc theo tỷ lệ 4:1 (kl/kl) và đun sôi có khuấy trong 45 phút. Sau khi làm mát tới nhiệt độ phòng, hỗn hợp đặc được pha loãng bằng cách thêm nước với tỷ lệ 2,5:1 (kl/kl). Đường sucrose (saccharose) được thêm 20% (kl/kl) vào hỗn hợp sệt và trộn kỹ, hỗn hợp thu được này được gọi là boza base hay dịch nền Boza.
Thí nghiệm lên men được thiết kế theo mẻ ở ba chế độ, trong mỗi chế độ dùng 500 ml dịch nền (đã được tiệt trùng ở 121 °C trong 15 phút).
Chế độ A: dịch nền được cấy với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza (được pha từ chế phẩm có chứa nấm men và vi khuẩn chuyên để sản xuất Boza).
Chế độ B: dịch nền được cấy đồng thời với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza và vi khuẩn Bacillus cereus (được nhân nuôi độc lập với chế phẩm sản xuất Boza).
Chế độ C: dịch nền chỉ được cấy với Bacillus cereus (B. cereus). Mật độ của B. cereus ở B và C đều đạt khoảng 10³ tế bào/ mL.
Các hỗn hợp được trộn kỹ và ủ ở 30 °C trong 72 giờ, các mẫu được lấy định kỳ đảm bảo vô trùng và đem đi phân tích. Kết quả phân tích vi sinh vật được thể hiện trên hình 1.
* chú thích kl/kl: khối lượng/khối lượng, tt/tt: thể tích/thể tích

Nguồn: Guven & Benlikaya (2005), Acid pH produced by lactic acid bacteria prevent the growth of Bacillus cereus in boza, a traditional fermented Turkish beverage, Journal of Food safety.
Hãy sắp xếp các bước sau theo đúng trình tự thực hiện trong quy trình chuẩn bị dịch nền Boza:
1. Thêm đường sucrose theo tỷ lệ 1:5 rồi khuấy đều
2. Cho nước theo tỷ lệ 4:1 vào rồi đun sôi, khuấy liên tục trong 45 phút
3. Trộn bột ngô, bột mì và gạo theo tỷ lệ 2:1:1
4. Sau khi để nguội, pha loãng hỗn hợp bằng nước theo tỷ lệ 2,5:1
5. Thêm nước theo tỷ lệ 1:1 vào hỗn hợp bột và trộn đều bằng máy xay tốc độ cao
Các biến đổi trong quá trình lên men Boza
Kiymet Guven và cộng sự đã nghiên cứu về đồ uống lên men truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ - Boza, trong đó khảo sát các biến đổi trong quá trình lên men. Các tác giả đã sử dụng phương pháp của Hanciolu để chế biến dịch nền (Boza base) cho lên men. Bột ngô, bột mì và gạo được trộn theo tỷ lệ 2:1:1 (theo khối lượng). Nước được thêm vào hỗn hợp theo tỷ lệ 1:1 (kl/kl) và được trộn trong máy xay tốc độ cao. Nước đun sôi được thêm vào hỗn hợp đặc theo tỷ lệ 4:1 (kl/kl) và đun sôi có khuấy trong 45 phút. Sau khi làm mát tới nhiệt độ phòng, hỗn hợp đặc được pha loãng bằng cách thêm nước với tỷ lệ 2,5:1 (kl/kl). Đường sucrose (saccharose) được thêm 20% (kl/kl) vào hỗn hợp sệt và trộn kỹ, hỗn hợp thu được này được gọi là boza base hay dịch nền Boza.
Thí nghiệm lên men được thiết kế theo mẻ ở ba chế độ, trong mỗi chế độ dùng 500 ml dịch nền (đã được tiệt trùng ở 121 °C trong 15 phút).
Chế độ A: dịch nền được cấy với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza (được pha từ chế phẩm có chứa nấm men và vi khuẩn chuyên để sản xuất Boza).
Chế độ B: dịch nền được cấy đồng thời với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza và vi khuẩn Bacillus cereus (được nhân nuôi độc lập với chế phẩm sản xuất Boza).
Chế độ C: dịch nền chỉ được cấy với Bacillus cereus (B. cereus). Mật độ của B. cereus ở B và C đều đạt khoảng 10³ tế bào/ mL.
Các hỗn hợp được trộn kỹ và ủ ở 30 °C trong 72 giờ, các mẫu được lấy định kỳ đảm bảo vô trùng và đem đi phân tích. Kết quả phân tích vi sinh vật được thể hiện trên hình 1.
* chú thích kl/kl: khối lượng/khối lượng, tt/tt: thể tích/thể tích

Nguồn: Guven & Benlikaya (2005), Acid pH produced by lactic acid bacteria prevent the growth of Bacillus cereus in boza, a traditional fermented Turkish beverage, Journal of Food safety.
Cần chuẩn bị 500 ml dịch nền Boza có khối lượng 480 gam, như vậy lượng đường sucrose cần thêm vào là bao nhiêu gam.
Các biến đổi trong quá trình lên men Boza
Kiymet Guven và cộng sự đã nghiên cứu về đồ uống lên men truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ - Boza, trong đó khảo sát các biến đổi trong quá trình lên men. Các tác giả đã sử dụng phương pháp của Hanciolu để chế biến dịch nền (Boza base) cho lên men. Bột ngô, bột mì và gạo được trộn theo tỷ lệ 2:1:1 (theo khối lượng). Nước được thêm vào hỗn hợp theo tỷ lệ 1:1 (kl/kl) và được trộn trong máy xay tốc độ cao. Nước đun sôi được thêm vào hỗn hợp đặc theo tỷ lệ 4:1 (kl/kl) và đun sôi có khuấy trong 45 phút. Sau khi làm mát tới nhiệt độ phòng, hỗn hợp đặc được pha loãng bằng cách thêm nước với tỷ lệ 2,5:1 (kl/kl). Đường sucrose (saccharose) được thêm 20% (kl/kl) vào hỗn hợp sệt và trộn kỹ, hỗn hợp thu được này được gọi là boza base hay dịch nền Boza.
Thí nghiệm lên men được thiết kế theo mẻ ở ba chế độ, trong mỗi chế độ dùng 500 ml dịch nền (đã được tiệt trùng ở 121 °C trong 15 phút).
Chế độ A: dịch nền được cấy với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza (được pha từ chế phẩm có chứa nấm men và vi khuẩn chuyên để sản xuất Boza).
Chế độ B: dịch nền được cấy đồng thời với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza và vi khuẩn Bacillus cereus (được nhân nuôi độc lập với chế phẩm sản xuất Boza).
Chế độ C: dịch nền chỉ được cấy với Bacillus cereus (B. cereus). Mật độ của B. cereus ở B và C đều đạt khoảng 10³ tế bào/ mL.
Các hỗn hợp được trộn kỹ và ủ ở 30 °C trong 72 giờ, các mẫu được lấy định kỳ đảm bảo vô trùng và đem đi phân tích. Kết quả phân tích vi sinh vật được thể hiện trên hình 1.
* chú thích kl/kl: khối lượng/khối lượng, tt/tt: thể tích/thể tích

Nguồn: Guven & Benlikaya (2005), Acid pH produced by lactic acid bacteria prevent the growth of Bacillus cereus in boza, a traditional fermented Turkish beverage, Journal of Food safety.
Các phát biểu sau đúng hay sai?
Các biến đổi trong quá trình lên men Boza
Kiymet Guven và cộng sự đã nghiên cứu về đồ uống lên men truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ - Boza, trong đó khảo sát các biến đổi trong quá trình lên men. Các tác giả đã sử dụng phương pháp của Hanciolu để chế biến dịch nền (Boza base) cho lên men. Bột ngô, bột mì và gạo được trộn theo tỷ lệ 2:1:1 (theo khối lượng). Nước được thêm vào hỗn hợp theo tỷ lệ 1:1 (kl/kl) và được trộn trong máy xay tốc độ cao. Nước đun sôi được thêm vào hỗn hợp đặc theo tỷ lệ 4:1 (kl/kl) và đun sôi có khuấy trong 45 phút. Sau khi làm mát tới nhiệt độ phòng, hỗn hợp đặc được pha loãng bằng cách thêm nước với tỷ lệ 2,5:1 (kl/kl). Đường sucrose (saccharose) được thêm 20% (kl/kl) vào hỗn hợp sệt và trộn kỹ, hỗn hợp thu được này được gọi là boza base hay dịch nền Boza.
Thí nghiệm lên men được thiết kế theo mẻ ở ba chế độ, trong mỗi chế độ dùng 500 ml dịch nền (đã được tiệt trùng ở 121 °C trong 15 phút).
Chế độ A: dịch nền được cấy với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza (được pha từ chế phẩm có chứa nấm men và vi khuẩn chuyên để sản xuất Boza).
Chế độ B: dịch nền được cấy đồng thời với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza và vi khuẩn Bacillus cereus (được nhân nuôi độc lập với chế phẩm sản xuất Boza).
Chế độ C: dịch nền chỉ được cấy với Bacillus cereus (B. cereus). Mật độ của B. cereus ở B và C đều đạt khoảng 10³ tế bào/ mL.
Các hỗn hợp được trộn kỹ và ủ ở 30 °C trong 72 giờ, các mẫu được lấy định kỳ đảm bảo vô trùng và đem đi phân tích. Kết quả phân tích vi sinh vật được thể hiện trên hình 1.
* chú thích kl/kl: khối lượng/khối lượng, tt/tt: thể tích/thể tích

Nguồn: Guven & Benlikaya (2005), Acid pH produced by lactic acid bacteria prevent the growth of Bacillus cereus in boza, a traditional fermented Turkish beverage, Journal of Food safety.
Chọn phát biểu đúng (có thể chọn nhiều phương án):
Các biến đổi trong quá trình lên men Boza
Kiymet Guven và cộng sự đã nghiên cứu về đồ uống lên men truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ - Boza, trong đó khảo sát các biến đổi trong quá trình lên men. Các tác giả đã sử dụng phương pháp của Hanciolu để chế biến dịch nền (Boza base) cho lên men. Bột ngô, bột mì và gạo được trộn theo tỷ lệ 2:1:1 (theo khối lượng). Nước được thêm vào hỗn hợp theo tỷ lệ 1:1 (kl/kl) và được trộn trong máy xay tốc độ cao. Nước đun sôi được thêm vào hỗn hợp đặc theo tỷ lệ 4:1 (kl/kl) và đun sôi có khuấy trong 45 phút. Sau khi làm mát tới nhiệt độ phòng, hỗn hợp đặc được pha loãng bằng cách thêm nước với tỷ lệ 2,5:1 (kl/kl). Đường sucrose (saccharose) được thêm 20% (kl/kl) vào hỗn hợp sệt và trộn kỹ, hỗn hợp thu được này được gọi là boza base hay dịch nền Boza.
Thí nghiệm lên men được thiết kế theo mẻ ở ba chế độ, trong mỗi chế độ dùng 500 ml dịch nền (đã được tiệt trùng ở 121 °C trong 15 phút).
Chế độ A: dịch nền được cấy với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza (được pha từ chế phẩm có chứa nấm men và vi khuẩn chuyên để sản xuất Boza).
Chế độ B: dịch nền được cấy đồng thời với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza và vi khuẩn Bacillus cereus (được nhân nuôi độc lập với chế phẩm sản xuất Boza).
Chế độ C: dịch nền chỉ được cấy với Bacillus cereus (B. cereus). Mật độ của B. cereus ở B và C đều đạt khoảng 10³ tế bào/ mL.
Các hỗn hợp được trộn kỹ và ủ ở 30 °C trong 72 giờ, các mẫu được lấy định kỳ đảm bảo vô trùng và đem đi phân tích. Kết quả phân tích vi sinh vật được thể hiện trên hình 1.
* chú thích kl/kl: khối lượng/khối lượng, tt/tt: thể tích/thể tích

Nguồn: Guven & Benlikaya (2005), Acid pH produced by lactic acid bacteria prevent the growth of Bacillus cereus in boza, a traditional fermented Turkish beverage, Journal of Food safety.
Biết rằng vi khuẩn lactic là loại vi sinh vật có khả năng sinh acid hữu cơ, cụ thể là [1] , trong quá trình lên men. Từ đó có thể dự đoán rằng tại giờ 72 lên men dịch nền Boza bằng chế độ B, pH của dịch sẽ [2] so với pH ban đầu.
aixt latic
giảm
Các biến đổi trong quá trình lên men Boza
Kiymet Guven và cộng sự đã nghiên cứu về đồ uống lên men truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ - Boza, trong đó khảo sát các biến đổi trong quá trình lên men. Các tác giả đã sử dụng phương pháp của Hanciolu để chế biến dịch nền (Boza base) cho lên men. Bột ngô, bột mì và gạo được trộn theo tỷ lệ 2:1:1 (theo khối lượng). Nước được thêm vào hỗn hợp theo tỷ lệ 1:1 (kl/kl) và được trộn trong máy xay tốc độ cao. Nước đun sôi được thêm vào hỗn hợp đặc theo tỷ lệ 4:1 (kl/kl) và đun sôi có khuấy trong 45 phút. Sau khi làm mát tới nhiệt độ phòng, hỗn hợp đặc được pha loãng bằng cách thêm nước với tỷ lệ 2,5:1 (kl/kl). Đường sucrose (saccharose) được thêm 20% (kl/kl) vào hỗn hợp sệt và trộn kỹ, hỗn hợp thu được này được gọi là boza base hay dịch nền Boza.
Thí nghiệm lên men được thiết kế theo mẻ ở ba chế độ, trong mỗi chế độ dùng 500 ml dịch nền (đã được tiệt trùng ở 121 °C trong 15 phút).
Chế độ A: dịch nền được cấy với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza (được pha từ chế phẩm có chứa nấm men và vi khuẩn chuyên để sản xuất Boza).
Chế độ B: dịch nền được cấy đồng thời với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza và vi khuẩn Bacillus cereus (được nhân nuôi độc lập với chế phẩm sản xuất Boza).
Chế độ C: dịch nền chỉ được cấy với Bacillus cereus (B. cereus). Mật độ của B. cereus ở B và C đều đạt khoảng 10³ tế bào/ mL.
Các hỗn hợp được trộn kỹ và ủ ở 30 °C trong 72 giờ, các mẫu được lấy định kỳ đảm bảo vô trùng và đem đi phân tích. Kết quả phân tích vi sinh vật được thể hiện trên hình 1.
* chú thích kl/kl: khối lượng/khối lượng, tt/tt: thể tích/thể tích

Nguồn: Guven & Benlikaya (2005), Acid pH produced by lactic acid bacteria prevent the growth of Bacillus cereus in boza, a traditional fermented Turkish beverage, Journal of Food safety.
Trong thí nghiệm trên, chế độ C (chỉ cấy Bacillus cereus, không có giống vi sinh vật Boza) được thiết kế nhằm mục đích nào sau đây? (Chọn phương án đúng nhất)
Chu trình Citric
Chu trình Citric là một quá trình thiết yếu được sử dụng để chuyển đổi carbohydrate,
lipid và protein thành năng lượng trong các sinh vật hiếu khí. Nếu nấm men không thể
sản xuất succinate, nó không thể tồn tại. Các bước của chu trình Citric dẫn đến việc tạo
ra succinate trong nấm men được thể hiện trong Hình 1. Mỗi bước trong chu trình này
được xúc tác bởi một enzyme, rất cần thiết để vượt qua rào cản năng lượng giữa chất
phản ứng và sản phẩm. Ở bước đầu tiên, Enzyme 1 là enzyme, citrate là chất phản ứng
và isocitrate là sản phẩm.

Thí nghiệm:
Một nhà khoa học đã nuôi cấy bốn chủng nấm men trên một số môi trường nuôi cấy
khác nhau. Mỗi chủng không thể sản xuất succinate vì nó thiếu một trong những enzyme cần thiết cho con đường phản ứng được thể hiện trong Hình 1. Bảng 1 cho thấy kết quả thí nghiệm của nhà khoa học: “+” cho biết chủng có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản (BNS) + hóa chất cụ thể. Một chủng nấm men không bị hư hại sẽ có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản mà không cần bất kỳ hóa chất bổ sung nào. Nếu một chủng có thể phát triển trong một môi trường nuôi cấy nhất định, thì nó có thể sản xuất succinate từ hóa chất bổ sung được thêm vào dung dịch dinh dưỡng cơ bản.

Nếu một số gen bị hư hỏng, các enzyme thiết yếu không thể được sản xuất, điều đó có
nghĩa là các phản ứng mà enzyme xúc tác không thể diễn ra. Bảng 2 liệt kê các gen chịu trách nhiệm cho các enzyme trong các bước của chu trình Citric dẫn đến sản xuất
succinate trong nấm men. Nếu một enzyme không thể được sản xuất, thì sản phẩm của
phản ứng mà enzyme xúc tác không thể được tổng hợp và chất phản ứng trong phản
ứng đó sẽ trở nên cô đặc cao. Nếu một gen bị hỏng, thì nó được ký hiệu bằng dấu mũ
âm, như trong Cat3–; nếu một gen không bị hỏng, nó được ký hiệu bằng dấu mũ dương, như trong Cat3+.

Dựa trên thông tin được trình bày, chất nào sau đây sẽ tích lũy với nồng độ cao nhất trong chủng nấm men không thể sản xuất Enzyme 3?
Chu trình Citric
Chu trình Citric là một quá trình thiết yếu được sử dụng để chuyển đổi carbohydrate,
lipid và protein thành năng lượng trong các sinh vật hiếu khí. Nếu nấm men không thể
sản xuất succinate, nó không thể tồn tại. Các bước của chu trình Citric dẫn đến việc tạo
ra succinate trong nấm men được thể hiện trong Hình 1. Mỗi bước trong chu trình này
được xúc tác bởi một enzyme, rất cần thiết để vượt qua rào cản năng lượng giữa chất
phản ứng và sản phẩm. Ở bước đầu tiên, Enzyme 1 là enzyme, citrate là chất phản ứng
và isocitrate là sản phẩm.

Thí nghiệm:
Một nhà khoa học đã nuôi cấy bốn chủng nấm men trên một số môi trường nuôi cấy
khác nhau. Mỗi chủng không thể sản xuất succinate vì nó thiếu một trong những enzyme cần thiết cho con đường phản ứng được thể hiện trong Hình 1. Bảng 1 cho thấy kết quả thí nghiệm của nhà khoa học: “+” cho biết chủng có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản (BNS) + hóa chất cụ thể. Một chủng nấm men không bị hư hại sẽ có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản mà không cần bất kỳ hóa chất bổ sung nào. Nếu một chủng có thể phát triển trong một môi trường nuôi cấy nhất định, thì nó có thể sản xuất succinate từ hóa chất bổ sung được thêm vào dung dịch dinh dưỡng cơ bản.

Nếu một số gen bị hư hỏng, các enzyme thiết yếu không thể được sản xuất, điều đó có
nghĩa là các phản ứng mà enzyme xúc tác không thể diễn ra. Bảng 2 liệt kê các gen chịu trách nhiệm cho các enzyme trong các bước của chu trình Citric dẫn đến sản xuất
succinate trong nấm men. Nếu một enzyme không thể được sản xuất, thì sản phẩm của
phản ứng mà enzyme xúc tác không thể được tổng hợp và chất phản ứng trong phản
ứng đó sẽ trở nên cô đặc cao. Nếu một gen bị hỏng, thì nó được ký hiệu bằng dấu mũ
âm, như trong Cat3–; nếu một gen không bị hỏng, nó được ký hiệu bằng dấu mũ dương, như trong Cat3+.

Theo thông tin trong đoạn văn và Bảng 2, một chủng nấm men có kiểu gen Cat1⁻ Cat2⁺ Cat3⁺ Cat4⁻ KHÔNG THỂ sản xuất:
Chu trình Citric
Chu trình Citric là một quá trình thiết yếu được sử dụng để chuyển đổi carbohydrate,
lipid và protein thành năng lượng trong các sinh vật hiếu khí. Nếu nấm men không thể
sản xuất succinate, nó không thể tồn tại. Các bước của chu trình Citric dẫn đến việc tạo
ra succinate trong nấm men được thể hiện trong Hình 1. Mỗi bước trong chu trình này
được xúc tác bởi một enzyme, rất cần thiết để vượt qua rào cản năng lượng giữa chất
phản ứng và sản phẩm. Ở bước đầu tiên, Enzyme 1 là enzyme, citrate là chất phản ứng
và isocitrate là sản phẩm.

Thí nghiệm:
Một nhà khoa học đã nuôi cấy bốn chủng nấm men trên một số môi trường nuôi cấy
khác nhau. Mỗi chủng không thể sản xuất succinate vì nó thiếu một trong những enzyme cần thiết cho con đường phản ứng được thể hiện trong Hình 1. Bảng 1 cho thấy kết quả thí nghiệm của nhà khoa học: “+” cho biết chủng có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản (BNS) + hóa chất cụ thể. Một chủng nấm men không bị hư hại sẽ có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản mà không cần bất kỳ hóa chất bổ sung nào. Nếu một chủng có thể phát triển trong một môi trường nuôi cấy nhất định, thì nó có thể sản xuất succinate từ hóa chất bổ sung được thêm vào dung dịch dinh dưỡng cơ bản.

Nếu một số gen bị hư hỏng, các enzyme thiết yếu không thể được sản xuất, điều đó có
nghĩa là các phản ứng mà enzyme xúc tác không thể diễn ra. Bảng 2 liệt kê các gen chịu trách nhiệm cho các enzyme trong các bước của chu trình Citric dẫn đến sản xuất
succinate trong nấm men. Nếu một enzyme không thể được sản xuất, thì sản phẩm của
phản ứng mà enzyme xúc tác không thể được tổng hợp và chất phản ứng trong phản
ứng đó sẽ trở nên cô đặc cao. Nếu một gen bị hỏng, thì nó được ký hiệu bằng dấu mũ
âm, như trong Cat3–; nếu một gen không bị hỏng, nó được ký hiệu bằng dấu mũ dương, như trong Cat3+.

Câu nào sau đây mô tả đúng nhất mối quan hệ giữa α-ketoglutarate, succinyl-CoA và succinate như thể hiện trong Hình 1?
Chu trình Citric
Chu trình Citric là một quá trình thiết yếu được sử dụng để chuyển đổi carbohydrate,
lipid và protein thành năng lượng trong các sinh vật hiếu khí. Nếu nấm men không thể
sản xuất succinate, nó không thể tồn tại. Các bước của chu trình Citric dẫn đến việc tạo
ra succinate trong nấm men được thể hiện trong Hình 1. Mỗi bước trong chu trình này
được xúc tác bởi một enzyme, rất cần thiết để vượt qua rào cản năng lượng giữa chất
phản ứng và sản phẩm. Ở bước đầu tiên, Enzyme 1 là enzyme, citrate là chất phản ứng
và isocitrate là sản phẩm.

Thí nghiệm:
Một nhà khoa học đã nuôi cấy bốn chủng nấm men trên một số môi trường nuôi cấy
khác nhau. Mỗi chủng không thể sản xuất succinate vì nó thiếu một trong những enzyme cần thiết cho con đường phản ứng được thể hiện trong Hình 1. Bảng 1 cho thấy kết quả thí nghiệm của nhà khoa học: “+” cho biết chủng có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản (BNS) + hóa chất cụ thể. Một chủng nấm men không bị hư hại sẽ có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản mà không cần bất kỳ hóa chất bổ sung nào. Nếu một chủng có thể phát triển trong một môi trường nuôi cấy nhất định, thì nó có thể sản xuất succinate từ hóa chất bổ sung được thêm vào dung dịch dinh dưỡng cơ bản.

Nếu một số gen bị hư hỏng, các enzyme thiết yếu không thể được sản xuất, điều đó có
nghĩa là các phản ứng mà enzyme xúc tác không thể diễn ra. Bảng 2 liệt kê các gen chịu trách nhiệm cho các enzyme trong các bước của chu trình Citric dẫn đến sản xuất
succinate trong nấm men. Nếu một enzyme không thể được sản xuất, thì sản phẩm của
phản ứng mà enzyme xúc tác không thể được tổng hợp và chất phản ứng trong phản
ứng đó sẽ trở nên cô đặc cao. Nếu một gen bị hỏng, thì nó được ký hiệu bằng dấu mũ
âm, như trong Cat3–; nếu một gen không bị hỏng, nó được ký hiệu bằng dấu mũ dương, như trong Cat3+.

Chủng Y (theo Bảng 1) rất có thể không có khả năng tổng hợp:
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.
Đăng nhập để làm bài