Đáp án & lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 13 - Sinh học

Đánh giá Tư duy (TSA)Môn Tư duy khoa học - Sinh họcNăm 202713 câuChuẩn GDPT mới

Phần I

Câu 1

Các biến đổi trong quá trình lên men Boza

Kiymet Guven và cộng sự đã nghiên cứu về đồ uống lên men truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ - Boza, trong đó khảo sát các biến đổi trong quá trình lên men. Các tác giả đã sử dụng phương pháp của Hanciolu để chế biến dịch nền (Boza base) cho lên men. Bột ngô, bột mì và gạo được trộn theo tỷ lệ 2:1:1 (theo khối lượng). Nước được thêm vào hỗn hợp theo tỷ lệ 1:1 (kl/kl) và được trộn trong máy xay tốc độ cao. Nước đun sôi được thêm vào hỗn hợp đặc theo tỷ lệ 4:1 (kl/kl) và đun sôi có khuấy trong 45 phút. Sau khi làm mát tới nhiệt độ phòng, hỗn hợp đặc được pha loãng bằng cách thêm nước với tỷ lệ 2,5:1 (kl/kl). Đường sucrose (saccharose) được thêm 20% (kl/kl) vào hỗn hợp sệt và trộn kỹ, hỗn hợp thu được này được gọi là boza base hay dịch nền Boza.

Thí nghiệm lên men được thiết kế theo mẻ ở ba chế độ, trong mỗi chế độ dùng 500 ml dịch nền (đã được tiệt trùng ở 121 °C trong 15 phút).

Chế độ A: dịch nền được cấy với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza (được pha từ chế phẩm có chứa nấm men và vi khuẩn chuyên để sản xuất Boza).

Chế độ B: dịch nền được cấy đồng thời với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza và vi khuẩn Bacillus cereus (được nhân nuôi độc lập với chế phẩm sản xuất Boza).

Chế độ C: dịch nền chỉ được cấy với Bacillus cereus (B. cereus). Mật độ của B. cereus ở B và C đều đạt khoảng 10³ tế bào/ mL.

Các hỗn hợp được trộn kỹ và ủ ở 30 °C trong 72 giờ, các mẫu được lấy định kỳ đảm bảo vô trùng và đem đi phân tích. Kết quả phân tích vi sinh vật được thể hiện trên hình 1.

* chú thích kl/kl: khối lượng/khối lượng, tt/tt: thể tích/thể tích

Hình minh họa

Nguồn: Guven & Benlikaya (2005), Acid pH produced by lactic acid bacteria prevent the growth of Bacillus cereus in boza, a traditional fermented Turkish beverage, Journal of Food safety.

Hãy sắp xếp các bước sau theo đúng trình tự thực hiện trong quy trình chuẩn bị dịch nền Boza:

1. Thêm đường sucrose theo tỷ lệ 1:5 rồi khuấy đều

2. Cho nước theo tỷ lệ 4:1 vào rồi đun sôi, khuấy liên tục trong 45 phút

3. Trộn bột ngô, bột mì và gạo theo tỷ lệ 2:1:1

4. Sau khi để nguội, pha loãng hỗn hợp bằng nước theo tỷ lệ 2,5:1

5. Thêm nước theo tỷ lệ 1:1 vào hỗn hợp bột và trộn đều bằng máy xay tốc độ cao

Đáp án đúng: 35241

Lời giải

Chọn 35241

Theo đoạn văn, thứ tự đúng là: trộn nguyên liệu bột khô (3) → thêm nước tỷ lệ 1:1 và xay trộn (5) → thêm nước tỷ lệ 4:1, đun sôi khuấy 45 phút (2) → làm nguội rồi pha loãng bằng nước tỷ lệ 2,5:1 (4) → bổ sung đường sucrose 20% tương ứng tỷ lệ 1:5 (1).

Câu 2

Các biến đổi trong quá trình lên men Boza

Kiymet Guven và cộng sự đã nghiên cứu về đồ uống lên men truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ - Boza, trong đó khảo sát các biến đổi trong quá trình lên men. Các tác giả đã sử dụng phương pháp của Hanciolu để chế biến dịch nền (Boza base) cho lên men. Bột ngô, bột mì và gạo được trộn theo tỷ lệ 2:1:1 (theo khối lượng). Nước được thêm vào hỗn hợp theo tỷ lệ 1:1 (kl/kl) và được trộn trong máy xay tốc độ cao. Nước đun sôi được thêm vào hỗn hợp đặc theo tỷ lệ 4:1 (kl/kl) và đun sôi có khuấy trong 45 phút. Sau khi làm mát tới nhiệt độ phòng, hỗn hợp đặc được pha loãng bằng cách thêm nước với tỷ lệ 2,5:1 (kl/kl). Đường sucrose (saccharose) được thêm 20% (kl/kl) vào hỗn hợp sệt và trộn kỹ, hỗn hợp thu được này được gọi là boza base hay dịch nền Boza.

Thí nghiệm lên men được thiết kế theo mẻ ở ba chế độ, trong mỗi chế độ dùng 500 ml dịch nền (đã được tiệt trùng ở 121 °C trong 15 phút).

Chế độ A: dịch nền được cấy với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza (được pha từ chế phẩm có chứa nấm men và vi khuẩn chuyên để sản xuất Boza).

Chế độ B: dịch nền được cấy đồng thời với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza và vi khuẩn Bacillus cereus (được nhân nuôi độc lập với chế phẩm sản xuất Boza).

Chế độ C: dịch nền chỉ được cấy với Bacillus cereus (B. cereus). Mật độ của B. cereus ở B và C đều đạt khoảng 10³ tế bào/ mL.

Các hỗn hợp được trộn kỹ và ủ ở 30 °C trong 72 giờ, các mẫu được lấy định kỳ đảm bảo vô trùng và đem đi phân tích. Kết quả phân tích vi sinh vật được thể hiện trên hình 1.

* chú thích kl/kl: khối lượng/khối lượng, tt/tt: thể tích/thể tích

Hình minh họa

Nguồn: Guven & Benlikaya (2005), Acid pH produced by lactic acid bacteria prevent the growth of Bacillus cereus in boza, a traditional fermented Turkish beverage, Journal of Food safety.

Cần chuẩn bị 500 ml dịch nền Boza có khối lượng 480 gam, như vậy lượng đường sucrose cần thêm vào là bao nhiêu gam.

Đáp án đúng: 80

Lời giải

Chọn 80

Đường sucrose được thêm 20% (kl/kl) vào hỗn hợp sệt (trước khi thêm đường), tạo thành dịch nền cuối cùng. Gọi khối lượng hỗn hợp sệt là x:

x + 0,2x = 480 → 1,2x = 480 → x = 400 (g)

Khối lượng đường = 0,2 × 400 = 80 g

Câu 3

Các biến đổi trong quá trình lên men Boza

Kiymet Guven và cộng sự đã nghiên cứu về đồ uống lên men truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ - Boza, trong đó khảo sát các biến đổi trong quá trình lên men. Các tác giả đã sử dụng phương pháp của Hanciolu để chế biến dịch nền (Boza base) cho lên men. Bột ngô, bột mì và gạo được trộn theo tỷ lệ 2:1:1 (theo khối lượng). Nước được thêm vào hỗn hợp theo tỷ lệ 1:1 (kl/kl) và được trộn trong máy xay tốc độ cao. Nước đun sôi được thêm vào hỗn hợp đặc theo tỷ lệ 4:1 (kl/kl) và đun sôi có khuấy trong 45 phút. Sau khi làm mát tới nhiệt độ phòng, hỗn hợp đặc được pha loãng bằng cách thêm nước với tỷ lệ 2,5:1 (kl/kl). Đường sucrose (saccharose) được thêm 20% (kl/kl) vào hỗn hợp sệt và trộn kỹ, hỗn hợp thu được này được gọi là boza base hay dịch nền Boza.

Thí nghiệm lên men được thiết kế theo mẻ ở ba chế độ, trong mỗi chế độ dùng 500 ml dịch nền (đã được tiệt trùng ở 121 °C trong 15 phút).

Chế độ A: dịch nền được cấy với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza (được pha từ chế phẩm có chứa nấm men và vi khuẩn chuyên để sản xuất Boza).

Chế độ B: dịch nền được cấy đồng thời với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza và vi khuẩn Bacillus cereus (được nhân nuôi độc lập với chế phẩm sản xuất Boza).

Chế độ C: dịch nền chỉ được cấy với Bacillus cereus (B. cereus). Mật độ của B. cereus ở B và C đều đạt khoảng 10³ tế bào/ mL.

Các hỗn hợp được trộn kỹ và ủ ở 30 °C trong 72 giờ, các mẫu được lấy định kỳ đảm bảo vô trùng và đem đi phân tích. Kết quả phân tích vi sinh vật được thể hiện trên hình 1.

* chú thích kl/kl: khối lượng/khối lượng, tt/tt: thể tích/thể tích

Hình minh họa

Nguồn: Guven & Benlikaya (2005), Acid pH produced by lactic acid bacteria prevent the growth of Bacillus cereus in boza, a traditional fermented Turkish beverage, Journal of Food safety.

Các phát biểu sau đúng hay sai?

A
Mật độ B. cereus biến đổi theo cùng một quy luật ở cả ba chế độ khảo sát
B
Trong cả ba chế độ khảo sát, vi khuẩn lactic luôn đạt mật độ cao nhất so với B. cereus và nấm men
C
Ở chế độ chỉ cấy giống vi sinh vật Boza (chế độ A), mật độ nấm men tiếp tục tăng sau giờ thứ 35
D
Tại giờ 0, mật độ B. cereus và nấm men ở chế độ cấy đồng thời (chế độ B) chênh lệch đáng kể

Lời giải

Chọn b đúng, a và c và d sai

a) Sai

Ở chế độ A, B. cereus giảm nhanh về gần 0 ngay từ đầu (do không được cấy chủ động), còn ở B và C, B. cereus xuất phát cao (~4 log) rồi giảm dần theo cách khác nhau → quy luật không giống nhau.

b) Đúng

Ở cả ba chế độ, vi khuẩn lactic luôn dao động ở mức cao nhất (~8–9,5 log), vượt xa nấm men (~4–6,5 log) và B. cereus (≤4 log).

c) Sai

Ở chế độ A, nấm men tăng đến khoảng giờ 25–30 rồi giữ ổn định (plateau) quanh mức ~5 log, không tiếp tục tăng sau giờ 35.

d) Sai

Tại giờ 0 ở chế độ B, mật độ B. cereus và nấm men đều xấp xỉ nhau (khoảng 3,5–4 log), không chênh lệch đáng kể.

Câu 4

Các biến đổi trong quá trình lên men Boza

Kiymet Guven và cộng sự đã nghiên cứu về đồ uống lên men truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ - Boza, trong đó khảo sát các biến đổi trong quá trình lên men. Các tác giả đã sử dụng phương pháp của Hanciolu để chế biến dịch nền (Boza base) cho lên men. Bột ngô, bột mì và gạo được trộn theo tỷ lệ 2:1:1 (theo khối lượng). Nước được thêm vào hỗn hợp theo tỷ lệ 1:1 (kl/kl) và được trộn trong máy xay tốc độ cao. Nước đun sôi được thêm vào hỗn hợp đặc theo tỷ lệ 4:1 (kl/kl) và đun sôi có khuấy trong 45 phút. Sau khi làm mát tới nhiệt độ phòng, hỗn hợp đặc được pha loãng bằng cách thêm nước với tỷ lệ 2,5:1 (kl/kl). Đường sucrose (saccharose) được thêm 20% (kl/kl) vào hỗn hợp sệt và trộn kỹ, hỗn hợp thu được này được gọi là boza base hay dịch nền Boza.

Thí nghiệm lên men được thiết kế theo mẻ ở ba chế độ, trong mỗi chế độ dùng 500 ml dịch nền (đã được tiệt trùng ở 121 °C trong 15 phút).

Chế độ A: dịch nền được cấy với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza (được pha từ chế phẩm có chứa nấm men và vi khuẩn chuyên để sản xuất Boza).

Chế độ B: dịch nền được cấy đồng thời với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza và vi khuẩn Bacillus cereus (được nhân nuôi độc lập với chế phẩm sản xuất Boza).

Chế độ C: dịch nền chỉ được cấy với Bacillus cereus (B. cereus). Mật độ của B. cereus ở B và C đều đạt khoảng 10³ tế bào/ mL.

Các hỗn hợp được trộn kỹ và ủ ở 30 °C trong 72 giờ, các mẫu được lấy định kỳ đảm bảo vô trùng và đem đi phân tích. Kết quả phân tích vi sinh vật được thể hiện trên hình 1.

* chú thích kl/kl: khối lượng/khối lượng, tt/tt: thể tích/thể tích

Hình minh họa

Nguồn: Guven & Benlikaya (2005), Acid pH produced by lactic acid bacteria prevent the growth of Bacillus cereus in boza, a traditional fermented Turkish beverage, Journal of Food safety.

Chọn phát biểu đúng (có thể chọn nhiều phương án):

A
Chế phẩm giống vi sinh vật Boza ban đầu có chứa cả
B
cereus.
B. Ở chế độ cấy đồng thời (chế độ B), B. cereus bị loại bỏ hoàn toàn sau 70 giờ lên men.
C
Ở chế độ chỉ cấy B. cereus (chế độ C), mật độ B. cereus bắt đầu giảm ngay trong 8 giờ đầu lên men.
D
Ở chế độ A, mật độ nấm men và vi khuẩn lactic tại giờ thứ 72 đều cao hơn so với thời điểm ban đầu.

Lời giải

Chọn C, D

A sai: chế phẩm Boza gốc chỉ chứa nấm men và vi khuẩn lactic; ở chế độ A (chỉ cấy chế phẩm này), B. cereus gần như bằng 0 trong suốt quá trình → chế phẩm không có B. cereus.

B sai: ở chế độ B, tại giờ 70–72, B. cereus vẫn còn (~1 log tế bào/mL), chưa bị loại bỏ hoàn toàn.

C đúng: đồ thị chế độ C cho thấy B. cereus giảm mạnh ngay trong khoảng 0–10 giờ đầu.

D đúng: ở chế độ A, nấm men tăng từ ~4 lên ~5 log và vi khuẩn lactic tăng từ ~7,8 lên ~9 log tại giờ 72 so với ban đầu.

Câu 5

Các biến đổi trong quá trình lên men Boza

Kiymet Guven và cộng sự đã nghiên cứu về đồ uống lên men truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ - Boza, trong đó khảo sát các biến đổi trong quá trình lên men. Các tác giả đã sử dụng phương pháp của Hanciolu để chế biến dịch nền (Boza base) cho lên men. Bột ngô, bột mì và gạo được trộn theo tỷ lệ 2:1:1 (theo khối lượng). Nước được thêm vào hỗn hợp theo tỷ lệ 1:1 (kl/kl) và được trộn trong máy xay tốc độ cao. Nước đun sôi được thêm vào hỗn hợp đặc theo tỷ lệ 4:1 (kl/kl) và đun sôi có khuấy trong 45 phút. Sau khi làm mát tới nhiệt độ phòng, hỗn hợp đặc được pha loãng bằng cách thêm nước với tỷ lệ 2,5:1 (kl/kl). Đường sucrose (saccharose) được thêm 20% (kl/kl) vào hỗn hợp sệt và trộn kỹ, hỗn hợp thu được này được gọi là boza base hay dịch nền Boza.

Thí nghiệm lên men được thiết kế theo mẻ ở ba chế độ, trong mỗi chế độ dùng 500 ml dịch nền (đã được tiệt trùng ở 121 °C trong 15 phút).

Chế độ A: dịch nền được cấy với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza (được pha từ chế phẩm có chứa nấm men và vi khuẩn chuyên để sản xuất Boza).

Chế độ B: dịch nền được cấy đồng thời với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza và vi khuẩn Bacillus cereus (được nhân nuôi độc lập với chế phẩm sản xuất Boza).

Chế độ C: dịch nền chỉ được cấy với Bacillus cereus (B. cereus). Mật độ của B. cereus ở B và C đều đạt khoảng 10³ tế bào/ mL.

Các hỗn hợp được trộn kỹ và ủ ở 30 °C trong 72 giờ, các mẫu được lấy định kỳ đảm bảo vô trùng và đem đi phân tích. Kết quả phân tích vi sinh vật được thể hiện trên hình 1.

* chú thích kl/kl: khối lượng/khối lượng, tt/tt: thể tích/thể tích

Hình minh họa

Nguồn: Guven & Benlikaya (2005), Acid pH produced by lactic acid bacteria prevent the growth of Bacillus cereus in boza, a traditional fermented Turkish beverage, Journal of Food safety.

Biết rằng vi khuẩn lactic là loại vi sinh vật có khả năng sinh acid hữu cơ, cụ thể là [1] , trong quá trình lên men. Từ đó có thể dự đoán rằng tại giờ 72 lên men dịch nền Boza bằng chế độ B, pH của dịch sẽ [2]  so với pH ban đầu.

A

aixt latic

B

giảm

Đáp án đúng: aixt latic — giảm

Lời giải

Vi khuẩn lactic lên men đường sinh ra axit lactic. Ở chế độ B, mật độ vi khuẩn lactic tăng mạnh và duy trì ở mức cao (~8,3 → ~9 log) trong suốt 72 giờ, đồng nghĩa lượng axit lactic tích lũy tăng lên, khiến môi trường có tính acid hơn → pH giảm so với thời điểm ban đầu.2

Câu 6

Các biến đổi trong quá trình lên men Boza

Kiymet Guven và cộng sự đã nghiên cứu về đồ uống lên men truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ - Boza, trong đó khảo sát các biến đổi trong quá trình lên men. Các tác giả đã sử dụng phương pháp của Hanciolu để chế biến dịch nền (Boza base) cho lên men. Bột ngô, bột mì và gạo được trộn theo tỷ lệ 2:1:1 (theo khối lượng). Nước được thêm vào hỗn hợp theo tỷ lệ 1:1 (kl/kl) và được trộn trong máy xay tốc độ cao. Nước đun sôi được thêm vào hỗn hợp đặc theo tỷ lệ 4:1 (kl/kl) và đun sôi có khuấy trong 45 phút. Sau khi làm mát tới nhiệt độ phòng, hỗn hợp đặc được pha loãng bằng cách thêm nước với tỷ lệ 2,5:1 (kl/kl). Đường sucrose (saccharose) được thêm 20% (kl/kl) vào hỗn hợp sệt và trộn kỹ, hỗn hợp thu được này được gọi là boza base hay dịch nền Boza.

Thí nghiệm lên men được thiết kế theo mẻ ở ba chế độ, trong mỗi chế độ dùng 500 ml dịch nền (đã được tiệt trùng ở 121 °C trong 15 phút).

Chế độ A: dịch nền được cấy với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza (được pha từ chế phẩm có chứa nấm men và vi khuẩn chuyên để sản xuất Boza).

Chế độ B: dịch nền được cấy đồng thời với 2% (tt/tt) giống vi sinh vật Boza và vi khuẩn Bacillus cereus (được nhân nuôi độc lập với chế phẩm sản xuất Boza).

Chế độ C: dịch nền chỉ được cấy với Bacillus cereus (B. cereus). Mật độ của B. cereus ở B và C đều đạt khoảng 10³ tế bào/ mL.

Các hỗn hợp được trộn kỹ và ủ ở 30 °C trong 72 giờ, các mẫu được lấy định kỳ đảm bảo vô trùng và đem đi phân tích. Kết quả phân tích vi sinh vật được thể hiện trên hình 1.

* chú thích kl/kl: khối lượng/khối lượng, tt/tt: thể tích/thể tích

Hình minh họa

Nguồn: Guven & Benlikaya (2005), Acid pH produced by lactic acid bacteria prevent the growth of Bacillus cereus in boza, a traditional fermented Turkish beverage, Journal of Food safety.

Trong thí nghiệm trên, chế độ C (chỉ cấy Bacillus cereus, không có giống vi sinh vật Boza) được thiết kế nhằm mục đích nào sau đây? (Chọn phương án đúng nhất)

A
Xác định khả năng tự nhân lên tối đa của
B
cereus khi không chịu tác động cạnh tranh từ vi khuẩn lactic và nấm men, để làm đối chứng so sánh với chế độ B.
B. Chứng minh rằng B. cereus không thể tồn tại trong dịch nền Boza dù ở bất kỳ điều kiện nào.
C
Thay thế cho chế độ A vì chế độ A không cung cấp đủ dữ liệu về nấm men.
D
Kiểm tra hiệu quả tiệt trùng dịch nền ở 121 °C trong 15 phút.

Lời giải

Chọn A

Chế độ C không có vi khuẩn lactic/nấm men cạnh tranh, nên số liệu ở đây cho biết B. cereus tăng trưởng ra sao trong điều kiện "tự do" (từ ~4 log ban đầu vẫn giảm dần theo thời gian dù không bị cạnh tranh trực tiếp bởi hệ vi sinh Boza). Đây là cơ sở để so sánh: khi ở chế độ B (có cấy đồng thời với giống Boza), nếu B. cereus giảm nhanh và mạnh hơn so với chế độ C, ta có thể kết luận vi khuẩn lactic/nấm men có tác dụng ức chế B. cereus (thông qua sinh acid, cạnh tranh dinh dưỡng...), chứ không phải B. cereus tự suy giảm do bản chất của nó hay điều kiện dịch nền.

Câu 7

Chu trình Citric

Chu trình Citric là một quá trình thiết yếu được sử dụng để chuyển đổi carbohydrate,

lipid và protein thành năng lượng trong các sinh vật hiếu khí. Nếu nấm men không thể

sản xuất succinate, nó không thể tồn tại. Các bước của chu trình Citric dẫn đến việc tạo

ra succinate trong nấm men được thể hiện trong Hình 1. Mỗi bước trong chu trình này

được xúc tác bởi một enzyme, rất cần thiết để vượt qua rào cản năng lượng giữa chất

phản ứng và sản phẩm. Ở bước đầu tiên, Enzyme 1 là enzyme, citrate là chất phản ứng

và isocitrate là sản phẩm.

Hình minh họa

Thí nghiệm:

Một nhà khoa học đã nuôi cấy bốn chủng nấm men trên một số môi trường nuôi cấy

khác nhau. Mỗi chủng không thể sản xuất succinate vì nó thiếu một trong những enzyme cần thiết cho con đường phản ứng được thể hiện trong Hình 1. Bảng 1 cho thấy kết quả thí nghiệm của nhà khoa học: “+” cho biết chủng có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản (BNS) + hóa chất cụ thể. Một chủng nấm men không bị hư hại sẽ có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản mà không cần bất kỳ hóa chất bổ sung nào. Nếu một chủng có thể phát triển trong một môi trường nuôi cấy nhất định, thì nó có thể sản xuất succinate từ hóa chất bổ sung được thêm vào dung dịch dinh dưỡng cơ bản.

Hình minh họa

Nếu một số gen bị hư hỏng, các enzyme thiết yếu không thể được sản xuất, điều đó có

nghĩa là các phản ứng mà enzyme xúc tác không thể diễn ra. Bảng 2 liệt kê các gen chịu trách nhiệm cho các enzyme trong các bước của chu trình Citric dẫn đến sản xuất

succinate trong nấm men. Nếu một enzyme không thể được sản xuất, thì sản phẩm của

phản ứng mà enzyme xúc tác không thể được tổng hợp và chất phản ứng trong phản

ứng đó sẽ trở nên cô đặc cao. Nếu một gen bị hỏng, thì nó được ký hiệu bằng dấu mũ

âm, như trong Cat3–; nếu một gen không bị hỏng, nó được ký hiệu bằng dấu mũ dương, như trong Cat3+.

Hình minh họa

Dựa trên thông tin được trình bày, chất nào sau đây sẽ tích lũy với nồng độ cao nhất trong chủng nấm men không thể sản xuất Enzyme 3?

A
citrate
B
isocitrate
C
α-ketoglutarate
D
succinyl-CoA

Lời giải

Chọn C

Enzyme 3 xúc tác phản ứng α-ketoglutarate → succinyl-CoA. Nếu thiếu Enzyme 3, phản ứng này không xảy ra được, khiến chất phản ứng của bước đó (α-ketoglutarate) "trở nên cô đặc cao" theo đúng quy tắc nêu trong đoạn văn.

Câu 8

Chu trình Citric

Chu trình Citric là một quá trình thiết yếu được sử dụng để chuyển đổi carbohydrate,

lipid và protein thành năng lượng trong các sinh vật hiếu khí. Nếu nấm men không thể

sản xuất succinate, nó không thể tồn tại. Các bước của chu trình Citric dẫn đến việc tạo

ra succinate trong nấm men được thể hiện trong Hình 1. Mỗi bước trong chu trình này

được xúc tác bởi một enzyme, rất cần thiết để vượt qua rào cản năng lượng giữa chất

phản ứng và sản phẩm. Ở bước đầu tiên, Enzyme 1 là enzyme, citrate là chất phản ứng

và isocitrate là sản phẩm.

Hình minh họa

Thí nghiệm:

Một nhà khoa học đã nuôi cấy bốn chủng nấm men trên một số môi trường nuôi cấy

khác nhau. Mỗi chủng không thể sản xuất succinate vì nó thiếu một trong những enzyme cần thiết cho con đường phản ứng được thể hiện trong Hình 1. Bảng 1 cho thấy kết quả thí nghiệm của nhà khoa học: “+” cho biết chủng có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản (BNS) + hóa chất cụ thể. Một chủng nấm men không bị hư hại sẽ có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản mà không cần bất kỳ hóa chất bổ sung nào. Nếu một chủng có thể phát triển trong một môi trường nuôi cấy nhất định, thì nó có thể sản xuất succinate từ hóa chất bổ sung được thêm vào dung dịch dinh dưỡng cơ bản.

Hình minh họa

Nếu một số gen bị hư hỏng, các enzyme thiết yếu không thể được sản xuất, điều đó có

nghĩa là các phản ứng mà enzyme xúc tác không thể diễn ra. Bảng 2 liệt kê các gen chịu trách nhiệm cho các enzyme trong các bước của chu trình Citric dẫn đến sản xuất

succinate trong nấm men. Nếu một enzyme không thể được sản xuất, thì sản phẩm của

phản ứng mà enzyme xúc tác không thể được tổng hợp và chất phản ứng trong phản

ứng đó sẽ trở nên cô đặc cao. Nếu một gen bị hỏng, thì nó được ký hiệu bằng dấu mũ

âm, như trong Cat3–; nếu một gen không bị hỏng, nó được ký hiệu bằng dấu mũ dương, như trong Cat3+.

Hình minh họa

Theo thông tin trong đoạn văn và Bảng 2, một chủng nấm men có kiểu gen Cat1⁻ Cat2⁺ Cat3⁺ Cat4⁻ KHÔNG THỂ sản xuất:

A
Enzyme 1 và Enzyme 2
B
Enzyme 1 và Enzyme 4
C
Enzyme 2 và Enzyme 3
D
Enzyme 3 và Enzyme 4

Lời giải

Chọn B

Theo Bảng 2: Cat1↔Enzyme 1, Cat4↔Enzyme 4. Gen mang dấu mũ âm (⁻) là gen bị hỏng → không sản xuất được enzyme tương ứng. Cat1⁻ và Cat4⁻ → không sản xuất được Enzyme 1 và Enzyme 4.

Câu 9

Chu trình Citric

Chu trình Citric là một quá trình thiết yếu được sử dụng để chuyển đổi carbohydrate,

lipid và protein thành năng lượng trong các sinh vật hiếu khí. Nếu nấm men không thể

sản xuất succinate, nó không thể tồn tại. Các bước của chu trình Citric dẫn đến việc tạo

ra succinate trong nấm men được thể hiện trong Hình 1. Mỗi bước trong chu trình này

được xúc tác bởi một enzyme, rất cần thiết để vượt qua rào cản năng lượng giữa chất

phản ứng và sản phẩm. Ở bước đầu tiên, Enzyme 1 là enzyme, citrate là chất phản ứng

và isocitrate là sản phẩm.

Hình minh họa

Thí nghiệm:

Một nhà khoa học đã nuôi cấy bốn chủng nấm men trên một số môi trường nuôi cấy

khác nhau. Mỗi chủng không thể sản xuất succinate vì nó thiếu một trong những enzyme cần thiết cho con đường phản ứng được thể hiện trong Hình 1. Bảng 1 cho thấy kết quả thí nghiệm của nhà khoa học: “+” cho biết chủng có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản (BNS) + hóa chất cụ thể. Một chủng nấm men không bị hư hại sẽ có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản mà không cần bất kỳ hóa chất bổ sung nào. Nếu một chủng có thể phát triển trong một môi trường nuôi cấy nhất định, thì nó có thể sản xuất succinate từ hóa chất bổ sung được thêm vào dung dịch dinh dưỡng cơ bản.

Hình minh họa

Nếu một số gen bị hư hỏng, các enzyme thiết yếu không thể được sản xuất, điều đó có

nghĩa là các phản ứng mà enzyme xúc tác không thể diễn ra. Bảng 2 liệt kê các gen chịu trách nhiệm cho các enzyme trong các bước của chu trình Citric dẫn đến sản xuất

succinate trong nấm men. Nếu một enzyme không thể được sản xuất, thì sản phẩm của

phản ứng mà enzyme xúc tác không thể được tổng hợp và chất phản ứng trong phản

ứng đó sẽ trở nên cô đặc cao. Nếu một gen bị hỏng, thì nó được ký hiệu bằng dấu mũ

âm, như trong Cat3–; nếu một gen không bị hỏng, nó được ký hiệu bằng dấu mũ dương, như trong Cat3+.

Hình minh họa

Câu nào sau đây mô tả đúng nhất mối quan hệ giữa α-ketoglutarate, succinyl-CoA và succinate như thể hiện trong Hình 1?

A
Succinyl-CoA là sản phẩm của phản ứng α-ketoglutarate, và succinate là sản phẩm của phản ứng succinyl-CoA.
B
Succinate là sản phẩm của phản ứng succinyl-CoA, và succinyl-CoA là sản phẩm của phản ứng succinate.
C
α-ketoglutarate là sản phẩm của phản ứng succinyl-CoA, và succinyl-CoA là sản phẩm của phản ứng succinate.
D
Succinyl-CoA là sản phẩm của phản ứng succinate, và succinate là sản phẩm của phản ứng α-ketoglutarate.

Lời giải

Chọn A

Theo Hình 1, chiều phản ứng là: α-ketoglutarate --(Enzyme 3)--> succinyl-CoA --(Enzyme 4)--> succinate. Vậy succinyl-CoA là sản phẩm từ α-ketoglutarate, và succinate là sản phẩm từ succinyl-CoA.

Câu 10

Chu trình Citric

Chu trình Citric là một quá trình thiết yếu được sử dụng để chuyển đổi carbohydrate,

lipid và protein thành năng lượng trong các sinh vật hiếu khí. Nếu nấm men không thể

sản xuất succinate, nó không thể tồn tại. Các bước của chu trình Citric dẫn đến việc tạo

ra succinate trong nấm men được thể hiện trong Hình 1. Mỗi bước trong chu trình này

được xúc tác bởi một enzyme, rất cần thiết để vượt qua rào cản năng lượng giữa chất

phản ứng và sản phẩm. Ở bước đầu tiên, Enzyme 1 là enzyme, citrate là chất phản ứng

và isocitrate là sản phẩm.

Hình minh họa

Thí nghiệm:

Một nhà khoa học đã nuôi cấy bốn chủng nấm men trên một số môi trường nuôi cấy

khác nhau. Mỗi chủng không thể sản xuất succinate vì nó thiếu một trong những enzyme cần thiết cho con đường phản ứng được thể hiện trong Hình 1. Bảng 1 cho thấy kết quả thí nghiệm của nhà khoa học: “+” cho biết chủng có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản (BNS) + hóa chất cụ thể. Một chủng nấm men không bị hư hại sẽ có thể phát triển trong dung dịch dinh dưỡng cơ bản mà không cần bất kỳ hóa chất bổ sung nào. Nếu một chủng có thể phát triển trong một môi trường nuôi cấy nhất định, thì nó có thể sản xuất succinate từ hóa chất bổ sung được thêm vào dung dịch dinh dưỡng cơ bản.

Hình minh họa

Nếu một số gen bị hư hỏng, các enzyme thiết yếu không thể được sản xuất, điều đó có

nghĩa là các phản ứng mà enzyme xúc tác không thể diễn ra. Bảng 2 liệt kê các gen chịu trách nhiệm cho các enzyme trong các bước của chu trình Citric dẫn đến sản xuất

succinate trong nấm men. Nếu một enzyme không thể được sản xuất, thì sản phẩm của

phản ứng mà enzyme xúc tác không thể được tổng hợp và chất phản ứng trong phản

ứng đó sẽ trở nên cô đặc cao. Nếu một gen bị hỏng, thì nó được ký hiệu bằng dấu mũ

âm, như trong Cat3–; nếu một gen không bị hỏng, nó được ký hiệu bằng dấu mũ dương, như trong Cat3+.

Hình minh họa

Chủng Y (theo Bảng 1) rất có thể không có khả năng tổng hợp:

A
isocitrate từ citrate
B
α-ketoglutarate từ isocitrate
C
succinyl-CoA từ α-ketoglutarate
D
succinate từ succinyl-CoA

Lời giải

Chọn C

Chủng Y chỉ phát triển được khi bổ sung succinyl-CoA hoặc succinate (không phát triển với isocitrate hay α-ketoglutarate) → Y thiếu Enzyme 3, tức không thể tổng hợp succinyl-CoA từ α-ketoglutarate.

Bảng tra cứu nhanh đáp án trọn bộ 10 câu hỏiNhấn để đóng / mở
Câu12345678910
Đáp án3524180BC-ACBAC

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.

Đăng nhập để làm bài
Đáp án & Lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 13 - Sinh học môn Tư duy khoa học - Sinh học 2027 (Đánh giá Tư duy (TSA)) - 9Study