[9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 16 - Sinh học

Đánh giá Tư duy (TSA)Môn Tư duy khoa học - Sinh họcNăm 202713 câuChuẩn GDPT mới

Phần I

Câu 1

PHOSPHOLIPID MÀNG TẾ BÀO

Màng sinh chất được cấu tạo từ hai thành phần chính là lipid và protein. Loại lipid có số lượng lớn ở hầu hết các loại màng là phospholipid. Cấu tạo phân tử phospholipid được mô tả như trong hình 1.

Hình minh họa

(Phần đầu ưa nước gồm nhóm phosphate gắn với glycerol. Phần đuôi kị nước gồm hai chuỗi acid béo: một chuỗi acid béo bão hòa, thẳng, và một chuỗi acid béo không bão hòa, bị gấp khúc.)

Lớp kép phospholipid tạo nên một cái khung liên tục tương đối ổn định của màng sinh chất. Sự xen kẽ các phân tử cholesterol ngăn cản sự chuyển động quá mức của lớp phospholipid kép giúp ổn định cấu trúc màng sinh chất. Các phân tử phospholipid có thể tự quay, dịch chuyển ngang trong phạm vi màng tạo nên tính mềm dẻo của màng.

Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái no làm tăng tính ổn định của màng sinh chất. Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái không no làm tăng tính linh hoạt của khung lipid. Do vậy, màng sinh chất có thể thay đổi tính thấm giúp thực hiện các chức năng sinh học của màng tế bào.

Quần thể ếch gỗ ở Hoa Kỳ có khả năng thích nghi tốt khi nhiệt độ môi trường trở nên lạnh giá vào mùa đông khắc nghiệt. Để tìm hiểu cơ chế thích nghi với nhiệt độ thấp của quần thể ếch này, các nhà khoa học đã tiến hành phân tích thành phần lipid trên màng tế bào của một nhóm cá thể khi nhiệt độ môi trường thay đổi. Bảng 1 biểu thị kết quả của thí nghiệm.

Hình minh họa

Biết rằng các đối tượng nghiên cứu đều có cùng độ tuổi, kích thước cơ thể và mức hoạt động. Nguồn sống của các đối tượng này đều giống nhau và chỉ khác nhau về nhiệt độ môi trường.

Điền đáp án chính xác vào chỗ trống.

Hai loại lipid chủ yếu cấu tạo nên màng sinh chất là [1] và [2] , góp phần tạo nên hai tính chất của màng là tính [3] và tính [4]

A
phospholipid
B
cholesterol
C
ổn định
D
linh hoạt

Câu 2

PHOSPHOLIPID MÀNG TẾ BÀO

Màng sinh chất được cấu tạo từ hai thành phần chính là lipid và protein. Loại lipid có số lượng lớn ở hầu hết các loại màng là phospholipid. Cấu tạo phân tử phospholipid được mô tả như trong hình 1.

Hình minh họa

(Phần đầu ưa nước gồm nhóm phosphate gắn với glycerol. Phần đuôi kị nước gồm hai chuỗi acid béo: một chuỗi acid béo bão hòa, thẳng, và một chuỗi acid béo không bão hòa, bị gấp khúc.)

Lớp kép phospholipid tạo nên một cái khung liên tục tương đối ổn định của màng sinh chất. Sự xen kẽ các phân tử cholesterol ngăn cản sự chuyển động quá mức của lớp phospholipid kép giúp ổn định cấu trúc màng sinh chất. Các phân tử phospholipid có thể tự quay, dịch chuyển ngang trong phạm vi màng tạo nên tính mềm dẻo của màng.

Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái no làm tăng tính ổn định của màng sinh chất. Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái không no làm tăng tính linh hoạt của khung lipid. Do vậy, màng sinh chất có thể thay đổi tính thấm giúp thực hiện các chức năng sinh học của màng tế bào.

Quần thể ếch gỗ ở Hoa Kỳ có khả năng thích nghi tốt khi nhiệt độ môi trường trở nên lạnh giá vào mùa đông khắc nghiệt. Để tìm hiểu cơ chế thích nghi với nhiệt độ thấp của quần thể ếch này, các nhà khoa học đã tiến hành phân tích thành phần lipid trên màng tế bào của một nhóm cá thể khi nhiệt độ môi trường thay đổi. Bảng 1 biểu thị kết quả của thí nghiệm.

Hình minh họa

Biết rằng các đối tượng nghiên cứu đều có cùng độ tuổi, kích thước cơ thể và mức hoạt động. Nguồn sống của các đối tượng này đều giống nhau và chỉ khác nhau về nhiệt độ môi trường.

Các phát biểu sau đây đúng hay sai?

A
Hàm lượng cholesterol trong màng tế bào càng cao thì màng càng linh hoạt.
B
Khi nhiệt độ môi trường giảm, tỉ số (phospholipid bão hòa)/(phospholipid không bão hòa) trên màng cũng giảm.
C
Ở ếch gỗ, tỉ lệ cholesterol trên màng sinh chất tăng khi nhiệt độ môi trường giảm.
D
Tỉ lệ protein/lipid của màng tế bào Schwann (tạo bao myelin) thấp hơn so với màng trong của ti thể.

Câu 3

PHOSPHOLIPID MÀNG TẾ BÀO

Màng sinh chất được cấu tạo từ hai thành phần chính là lipid và protein. Loại lipid có số lượng lớn ở hầu hết các loại màng là phospholipid. Cấu tạo phân tử phospholipid được mô tả như trong hình 1.

Hình minh họa

(Phần đầu ưa nước gồm nhóm phosphate gắn với glycerol. Phần đuôi kị nước gồm hai chuỗi acid béo: một chuỗi acid béo bão hòa, thẳng, và một chuỗi acid béo không bão hòa, bị gấp khúc.)

Lớp kép phospholipid tạo nên một cái khung liên tục tương đối ổn định của màng sinh chất. Sự xen kẽ các phân tử cholesterol ngăn cản sự chuyển động quá mức của lớp phospholipid kép giúp ổn định cấu trúc màng sinh chất. Các phân tử phospholipid có thể tự quay, dịch chuyển ngang trong phạm vi màng tạo nên tính mềm dẻo của màng.

Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái no làm tăng tính ổn định của màng sinh chất. Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái không no làm tăng tính linh hoạt của khung lipid. Do vậy, màng sinh chất có thể thay đổi tính thấm giúp thực hiện các chức năng sinh học của màng tế bào.

Quần thể ếch gỗ ở Hoa Kỳ có khả năng thích nghi tốt khi nhiệt độ môi trường trở nên lạnh giá vào mùa đông khắc nghiệt. Để tìm hiểu cơ chế thích nghi với nhiệt độ thấp của quần thể ếch này, các nhà khoa học đã tiến hành phân tích thành phần lipid trên màng tế bào của một nhóm cá thể khi nhiệt độ môi trường thay đổi. Bảng 1 biểu thị kết quả của thí nghiệm.

Hình minh họa

Biết rằng các đối tượng nghiên cứu đều có cùng độ tuổi, kích thước cơ thể và mức hoạt động. Nguồn sống của các đối tượng này đều giống nhau và chỉ khác nhau về nhiệt độ môi trường.

Dựa vào Bảng 1, khi nhiệt độ môi trường giảm từ +12°C xuống -4°C, nhận định nào sau đây đúng?

A
Phospholipid có đuôi bão hòa tăng, phospholipid có đuôi không bão hòa giảm.
B
Phospholipid có đuôi bão hòa giảm, phospholipid có đuôi không bão hòa tăng, cholesterol tăng.
C
Cả hai loại phospholipid đều giảm, cholesterol tăng.
D
Phospholipid có đuôi không bão hòa giảm, cholesterol giảm.

Câu 4

PHOSPHOLIPID MÀNG TẾ BÀO

Màng sinh chất được cấu tạo từ hai thành phần chính là lipid và protein. Loại lipid có số lượng lớn ở hầu hết các loại màng là phospholipid. Cấu tạo phân tử phospholipid được mô tả như trong hình 1.

Hình minh họa

(Phần đầu ưa nước gồm nhóm phosphate gắn với glycerol. Phần đuôi kị nước gồm hai chuỗi acid béo: một chuỗi acid béo bão hòa, thẳng, và một chuỗi acid béo không bão hòa, bị gấp khúc.)

Lớp kép phospholipid tạo nên một cái khung liên tục tương đối ổn định của màng sinh chất. Sự xen kẽ các phân tử cholesterol ngăn cản sự chuyển động quá mức của lớp phospholipid kép giúp ổn định cấu trúc màng sinh chất. Các phân tử phospholipid có thể tự quay, dịch chuyển ngang trong phạm vi màng tạo nên tính mềm dẻo của màng.

Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái no làm tăng tính ổn định của màng sinh chất. Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái không no làm tăng tính linh hoạt của khung lipid. Do vậy, màng sinh chất có thể thay đổi tính thấm giúp thực hiện các chức năng sinh học của màng tế bào.

Quần thể ếch gỗ ở Hoa Kỳ có khả năng thích nghi tốt khi nhiệt độ môi trường trở nên lạnh giá vào mùa đông khắc nghiệt. Để tìm hiểu cơ chế thích nghi với nhiệt độ thấp của quần thể ếch này, các nhà khoa học đã tiến hành phân tích thành phần lipid trên màng tế bào của một nhóm cá thể khi nhiệt độ môi trường thay đổi. Bảng 1 biểu thị kết quả của thí nghiệm.

Hình minh họa

Biết rằng các đối tượng nghiên cứu đều có cùng độ tuổi, kích thước cơ thể và mức hoạt động. Nguồn sống của các đối tượng này đều giống nhau và chỉ khác nhau về nhiệt độ môi trường.

Điền đáp án chính xác vào chỗ trống

Tỉ số (phospholipid bão hòa)/(phospholipid không bão hòa) ở 0°C là [1] và ở +8°C là [2] . Khi nhiệt độ môi trường tăng thì tỉ số này [3].

A
1,02
B
tăng
C
0.91

Câu 5

PHOSPHOLIPID MÀNG TẾ BÀO

Màng sinh chất được cấu tạo từ hai thành phần chính là lipid và protein. Loại lipid có số lượng lớn ở hầu hết các loại màng là phospholipid. Cấu tạo phân tử phospholipid được mô tả như trong hình 1.

Hình minh họa

(Phần đầu ưa nước gồm nhóm phosphate gắn với glycerol. Phần đuôi kị nước gồm hai chuỗi acid béo: một chuỗi acid béo bão hòa, thẳng, và một chuỗi acid béo không bão hòa, bị gấp khúc.)

Lớp kép phospholipid tạo nên một cái khung liên tục tương đối ổn định của màng sinh chất. Sự xen kẽ các phân tử cholesterol ngăn cản sự chuyển động quá mức của lớp phospholipid kép giúp ổn định cấu trúc màng sinh chất. Các phân tử phospholipid có thể tự quay, dịch chuyển ngang trong phạm vi màng tạo nên tính mềm dẻo của màng.

Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái no làm tăng tính ổn định của màng sinh chất. Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái không no làm tăng tính linh hoạt của khung lipid. Do vậy, màng sinh chất có thể thay đổi tính thấm giúp thực hiện các chức năng sinh học của màng tế bào.

Quần thể ếch gỗ ở Hoa Kỳ có khả năng thích nghi tốt khi nhiệt độ môi trường trở nên lạnh giá vào mùa đông khắc nghiệt. Để tìm hiểu cơ chế thích nghi với nhiệt độ thấp của quần thể ếch này, các nhà khoa học đã tiến hành phân tích thành phần lipid trên màng tế bào của một nhóm cá thể khi nhiệt độ môi trường thay đổi. Bảng 1 biểu thị kết quả của thí nghiệm.

Hình minh họa

Biết rằng các đối tượng nghiên cứu đều có cùng độ tuổi, kích thước cơ thể và mức hoạt động. Nguồn sống của các đối tượng này đều giống nhau và chỉ khác nhau về nhiệt độ môi trường.

Ở quần thể ếch gỗ, khi nhiệt độ môi trường giảm, tỉ lệ phospholipid có đuôi acid béo không bão hòa trên màng tế bào tăng lên. Sự thay đổi này giúp ếch thích nghi với mùa đông lạnh giá vì

A
đuôi không bão hòa thẳng và xếp sát nhau, làm màng vững chắc hơn, hạn chế mất nước qua màng.
B
đuôi không bão hòa bị gấp khúc, làm các phân tử phospholipid xếp thưa hơn, giúp màng giữ được tính linh hoạt và vẫn thay đổi được tính thấm ở nhiệt độ thấp.
C
đuôi không bão hòa làm tăng liên kết giữa các phân tử phospholipid, ngăn màng bị phá vỡ khi nước đóng băng.
D
đuôi không bão hòa thay thế hoàn toàn vai trò của cholesterol nên màng không cần cholesterol nữa.

Câu 6

HORMONE SINH TRƯỞNG - GH

Hormone sinh trưởng (GH) được sản xuất ở thùy trước của tuyến yên. GH kích thích gan tiết ra yếu tố sinh trưởng giống insulin (kí hiệu IGF = insulin-like growth factor), chúng lưu hành trong máu và kích thích trực tiếp sự phát triển của xương và sụn.

Việc chế xuất bất thường GH ở người có thể gây một số bệnh, tùy thuộc vào lượng GH được sản xuất và thời điểm xảy ra. Tăng tiết GH lúc niên thiếu có thể dẫn tới bệnh khổng lồ. Trong khi sản xuất quá nhiều GH ở tuổi trưởng thành sẽ kích thích phát triển xương ở một số tổ chức vẫn còn đáp ứng với hormone này (mặt, tay và chân) nên kết quả là phát triển quá khổ các chi dẫn tới chứng to đầu chi. Giảm tiết GH lúc niên thiếu làm chậm phát triển xương và có thể dẫn tới bị lùn.

Khi động vật tăng trưởng, xương được hình thành từ tế bào sụn, kéo dài ra từ các đĩa sụn tận cùng (gọi là đĩa sụn sinh trưởng). Thí nghiệm sau tiến hành trên các đĩa sụn sinh trưởng khỏe mạnh.

(1) Tiêm GH vào tất cả các đĩa sụn.

(2) Tiêm đồng thời GH và chất ức chế IGF vào các đĩa sụn của chuột.

(3) Tất cả GH bị ức chế ở chuột.

(4) Tiêm GH vào một đĩa sụn của chuột có gan đã bị loại bỏ (knockout) tất cả IGF.

(5) Chỉ bổ sung GH vào môi trường trong đĩa nuôi các tế bào mầm sụn.

Hình minh họa

Chọn các cụm từ sau để điền vào chỗ trống: tuyến yên, bệnh to đầu chi, bệnh khổng lồ, bệnh lùn, tăng, giảm.

Hormone sinh trưởng (GH) do thùy trước của [1] sản xuất. Nếu [2] tiết GH lúc niên thiếu, cơ thể có thể mắc [3] . Ngược lại, nếu [4] tiết GH lúc niên thiếu thì xương phát triển chậm và có thể dẫn tới [5] . Còn khi GH được sản xuất quá nhiều ở tuổi trưởng thành, người bệnh có thể mắc [6] .

A

tuyến yên

B

tăng

C

bệnh khổng lồ

D

giảm

E

bệnh lùn

F

bệnhđầutochi

Câu 7

HORMONE SINH TRƯỞNG - GH

Hormone sinh trưởng (GH) được sản xuất ở thùy trước của tuyến yên. GH kích thích gan tiết ra yếu tố sinh trưởng giống insulin (kí hiệu IGF = insulin-like growth factor), chúng lưu hành trong máu và kích thích trực tiếp sự phát triển của xương và sụn.

Việc chế xuất bất thường GH ở người có thể gây một số bệnh, tùy thuộc vào lượng GH được sản xuất và thời điểm xảy ra. Tăng tiết GH lúc niên thiếu có thể dẫn tới bệnh khổng lồ. Trong khi sản xuất quá nhiều GH ở tuổi trưởng thành sẽ kích thích phát triển xương ở một số tổ chức vẫn còn đáp ứng với hormone này (mặt, tay và chân) nên kết quả là phát triển quá khổ các chi dẫn tới chứng to đầu chi. Giảm tiết GH lúc niên thiếu làm chậm phát triển xương và có thể dẫn tới bị lùn.

Khi động vật tăng trưởng, xương được hình thành từ tế bào sụn, kéo dài ra từ các đĩa sụn tận cùng (gọi là đĩa sụn sinh trưởng). Thí nghiệm sau tiến hành trên các đĩa sụn sinh trưởng khỏe mạnh.

(1) Tiêm GH vào tất cả các đĩa sụn.

(2) Tiêm đồng thời GH và chất ức chế IGF vào các đĩa sụn của chuột.

(3) Tất cả GH bị ức chế ở chuột.

(4) Tiêm GH vào một đĩa sụn của chuột có gan đã bị loại bỏ (knockout) tất cả IGF.

(5) Chỉ bổ sung GH vào môi trường trong đĩa nuôi các tế bào mầm sụn.

Hình minh họa

Những biểu hiện nào sau đây có thể xuất hiện ở người bị tiết quá nhiều GH? (Chọn tất cả đáp án đúng)

A
Chiều cao vượt trội bất thường khi còn ở tuổi niên thiếu.
B
Cơ thể thấp bé, xương phát triển chậm.
C
Xương mặt, bàn tay, bàn chân phát triển quá khổ ở tuổi trưởng thành.
D
Nồng độ IGF trong máu thấp hơn bình thường.

Câu 8

HORMONE SINH TRƯỞNG - GH

Hormone sinh trưởng (GH) được sản xuất ở thùy trước của tuyến yên. GH kích thích gan tiết ra yếu tố sinh trưởng giống insulin (kí hiệu IGF = insulin-like growth factor), chúng lưu hành trong máu và kích thích trực tiếp sự phát triển của xương và sụn.

Việc chế xuất bất thường GH ở người có thể gây một số bệnh, tùy thuộc vào lượng GH được sản xuất và thời điểm xảy ra. Tăng tiết GH lúc niên thiếu có thể dẫn tới bệnh khổng lồ. Trong khi sản xuất quá nhiều GH ở tuổi trưởng thành sẽ kích thích phát triển xương ở một số tổ chức vẫn còn đáp ứng với hormone này (mặt, tay và chân) nên kết quả là phát triển quá khổ các chi dẫn tới chứng to đầu chi. Giảm tiết GH lúc niên thiếu làm chậm phát triển xương và có thể dẫn tới bị lùn.

Khi động vật tăng trưởng, xương được hình thành từ tế bào sụn, kéo dài ra từ các đĩa sụn tận cùng (gọi là đĩa sụn sinh trưởng). Thí nghiệm sau tiến hành trên các đĩa sụn sinh trưởng khỏe mạnh.

(1) Tiêm GH vào tất cả các đĩa sụn.

(2) Tiêm đồng thời GH và chất ức chế IGF vào các đĩa sụn của chuột.

(3) Tất cả GH bị ức chế ở chuột.

(4) Tiêm GH vào một đĩa sụn của chuột có gan đã bị loại bỏ (knockout) tất cả IGF.

(5) Chỉ bổ sung GH vào môi trường trong đĩa nuôi các tế bào mầm sụn.

Hình minh họa

Các phát biểu sau đây đúng hay sai?

A
Khi IGF bị ức chế, GH không thể giúp đĩa sụn phát triển đầy đủ.
B
Gan là cơ quan duy nhất sản xuất IGF trong cơ thể.
C
Ở người bị bệnh khổng lồ do ưu năng tuyến yên, mức IGF huyết tương cao hơn ở người bình thường.
D
Nếu chỉ bổ sung GH vào môi trường nuôi cấy tế bào mầm sụn (thí nghiệm 5) thì đĩa sụn vẫn phát triển đầy đủ như ở thí nghiệm 1.

Câu 9

HORMONE SINH TRƯỞNG - GH

Hormone sinh trưởng (GH) được sản xuất ở thùy trước của tuyến yên. GH kích thích gan tiết ra yếu tố sinh trưởng giống insulin (kí hiệu IGF = insulin-like growth factor), chúng lưu hành trong máu và kích thích trực tiếp sự phát triển của xương và sụn.

Việc chế xuất bất thường GH ở người có thể gây một số bệnh, tùy thuộc vào lượng GH được sản xuất và thời điểm xảy ra. Tăng tiết GH lúc niên thiếu có thể dẫn tới bệnh khổng lồ. Trong khi sản xuất quá nhiều GH ở tuổi trưởng thành sẽ kích thích phát triển xương ở một số tổ chức vẫn còn đáp ứng với hormone này (mặt, tay và chân) nên kết quả là phát triển quá khổ các chi dẫn tới chứng to đầu chi. Giảm tiết GH lúc niên thiếu làm chậm phát triển xương và có thể dẫn tới bị lùn.

Khi động vật tăng trưởng, xương được hình thành từ tế bào sụn, kéo dài ra từ các đĩa sụn tận cùng (gọi là đĩa sụn sinh trưởng). Thí nghiệm sau tiến hành trên các đĩa sụn sinh trưởng khỏe mạnh.

(1) Tiêm GH vào tất cả các đĩa sụn.

(2) Tiêm đồng thời GH và chất ức chế IGF vào các đĩa sụn của chuột.

(3) Tất cả GH bị ức chế ở chuột.

(4) Tiêm GH vào một đĩa sụn của chuột có gan đã bị loại bỏ (knockout) tất cả IGF.

(5) Chỉ bổ sung GH vào môi trường trong đĩa nuôi các tế bào mầm sụn.

Hình minh họa

Ở thí nghiệm 4, GH được tiêm vào đĩa sụn của chuột có gan bị loại bỏ hoàn toàn IGF, nhưng đĩa sụn vẫn phát triển bình thường. Kết luận nào sau đây là hợp lí nhất?

A
GH tác động lên đĩa sụn và kích thích tế bào sụn tự sản xuất IGF tại chỗ.
B
GH kích thích đĩa sụn phát triển mà hoàn toàn không cần IGF.
C
IGF từ gan là nguồn duy nhất giúp sụn phát triển nên kết quả thí nghiệm 4 là không thể xảy ra.
D
IGF không có vai trò gì đối với sự phát triển của đĩa sụn.

Câu 10

HORMONE SINH TRƯỞNG - GH

Hormone sinh trưởng (GH) được sản xuất ở thùy trước của tuyến yên. GH kích thích gan tiết ra yếu tố sinh trưởng giống insulin (kí hiệu IGF = insulin-like growth factor), chúng lưu hành trong máu và kích thích trực tiếp sự phát triển của xương và sụn.

Việc chế xuất bất thường GH ở người có thể gây một số bệnh, tùy thuộc vào lượng GH được sản xuất và thời điểm xảy ra. Tăng tiết GH lúc niên thiếu có thể dẫn tới bệnh khổng lồ. Trong khi sản xuất quá nhiều GH ở tuổi trưởng thành sẽ kích thích phát triển xương ở một số tổ chức vẫn còn đáp ứng với hormone này (mặt, tay và chân) nên kết quả là phát triển quá khổ các chi dẫn tới chứng to đầu chi. Giảm tiết GH lúc niên thiếu làm chậm phát triển xương và có thể dẫn tới bị lùn.

Khi động vật tăng trưởng, xương được hình thành từ tế bào sụn, kéo dài ra từ các đĩa sụn tận cùng (gọi là đĩa sụn sinh trưởng). Thí nghiệm sau tiến hành trên các đĩa sụn sinh trưởng khỏe mạnh.

(1) Tiêm GH vào tất cả các đĩa sụn.

(2) Tiêm đồng thời GH và chất ức chế IGF vào các đĩa sụn của chuột.

(3) Tất cả GH bị ức chế ở chuột.

(4) Tiêm GH vào một đĩa sụn của chuột có gan đã bị loại bỏ (knockout) tất cả IGF.

(5) Chỉ bổ sung GH vào môi trường trong đĩa nuôi các tế bào mầm sụn.

Hình minh họa

Một bé 8 tuổi có chiều cao thấp hơn hẳn các bạn cùng tuổi. Xét nghiệm cho thấy nồng độ GH trong máu cao hơn bình thường, còn nồng độ IGF trong máu thấp. Nguyên nhân nhiều khả năng nhất là

A
tuyến yên tiết quá nhiều GH do khối u.
B
thùy trước tuyến yên bị suy, tiết quá ít GH.
C
các tế bào đích, trong đó có gan, không đáp ứng với GH nên không tạo được IGF.
D
gan tiết quá nhiều IGF gây ức chế xương phát triển.

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.

Đăng nhập để làm bài
Đề thi: [9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 16 - Sinh học môn Tư duy khoa học - Sinh học 2027 (Đánh giá Tư duy (TSA)) - 9Study