PHOSPHOLIPID MÀNG TẾ BÀO
Màng sinh chất được cấu tạo từ hai thành phần chính là lipid và protein. Loại lipid có số lượng lớn ở hầu hết các loại màng là phospholipid. Cấu tạo phân tử phospholipid được mô tả như trong hình 1.

(Phần đầu ưa nước gồm nhóm phosphate gắn với glycerol. Phần đuôi kị nước gồm hai chuỗi acid béo: một chuỗi acid béo bão hòa, thẳng, và một chuỗi acid béo không bão hòa, bị gấp khúc.)
Lớp kép phospholipid tạo nên một cái khung liên tục tương đối ổn định của màng sinh chất. Sự xen kẽ các phân tử cholesterol ngăn cản sự chuyển động quá mức của lớp phospholipid kép giúp ổn định cấu trúc màng sinh chất. Các phân tử phospholipid có thể tự quay, dịch chuyển ngang trong phạm vi màng tạo nên tính mềm dẻo của màng.
Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái no làm tăng tính ổn định của màng sinh chất. Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái không no làm tăng tính linh hoạt của khung lipid. Do vậy, màng sinh chất có thể thay đổi tính thấm giúp thực hiện các chức năng sinh học của màng tế bào.
Quần thể ếch gỗ ở Hoa Kỳ có khả năng thích nghi tốt khi nhiệt độ môi trường trở nên lạnh giá vào mùa đông khắc nghiệt. Để tìm hiểu cơ chế thích nghi với nhiệt độ thấp của quần thể ếch này, các nhà khoa học đã tiến hành phân tích thành phần lipid trên màng tế bào của một nhóm cá thể khi nhiệt độ môi trường thay đổi. Bảng 1 biểu thị kết quả của thí nghiệm.

Biết rằng các đối tượng nghiên cứu đều có cùng độ tuổi, kích thước cơ thể và mức hoạt động. Nguồn sống của các đối tượng này đều giống nhau và chỉ khác nhau về nhiệt độ môi trường.
Điền đáp án chính xác vào chỗ trống.
Hai loại lipid chủ yếu cấu tạo nên màng sinh chất là [1] và [2] , góp phần tạo nên hai tính chất của màng là tính [3] và tính [4]
Theo ngữ liệu, lớp kép phospholipid tạo khung liên tục tương đối ổn định, các phân tử cholesterol xen kẽ giúp ngăn chuyển động quá mức. Đuôi kị nước no làm tăng tính ổn định, đuôi không no làm tăng tính linh hoạt.
PHOSPHOLIPID MÀNG TẾ BÀO
Màng sinh chất được cấu tạo từ hai thành phần chính là lipid và protein. Loại lipid có số lượng lớn ở hầu hết các loại màng là phospholipid. Cấu tạo phân tử phospholipid được mô tả như trong hình 1.

(Phần đầu ưa nước gồm nhóm phosphate gắn với glycerol. Phần đuôi kị nước gồm hai chuỗi acid béo: một chuỗi acid béo bão hòa, thẳng, và một chuỗi acid béo không bão hòa, bị gấp khúc.)
Lớp kép phospholipid tạo nên một cái khung liên tục tương đối ổn định của màng sinh chất. Sự xen kẽ các phân tử cholesterol ngăn cản sự chuyển động quá mức của lớp phospholipid kép giúp ổn định cấu trúc màng sinh chất. Các phân tử phospholipid có thể tự quay, dịch chuyển ngang trong phạm vi màng tạo nên tính mềm dẻo của màng.
Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái no làm tăng tính ổn định của màng sinh chất. Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái không no làm tăng tính linh hoạt của khung lipid. Do vậy, màng sinh chất có thể thay đổi tính thấm giúp thực hiện các chức năng sinh học của màng tế bào.
Quần thể ếch gỗ ở Hoa Kỳ có khả năng thích nghi tốt khi nhiệt độ môi trường trở nên lạnh giá vào mùa đông khắc nghiệt. Để tìm hiểu cơ chế thích nghi với nhiệt độ thấp của quần thể ếch này, các nhà khoa học đã tiến hành phân tích thành phần lipid trên màng tế bào của một nhóm cá thể khi nhiệt độ môi trường thay đổi. Bảng 1 biểu thị kết quả của thí nghiệm.

Biết rằng các đối tượng nghiên cứu đều có cùng độ tuổi, kích thước cơ thể và mức hoạt động. Nguồn sống của các đối tượng này đều giống nhau và chỉ khác nhau về nhiệt độ môi trường.
Các phát biểu sau đây đúng hay sai?
a) Sai
cholesterol có vai trò hạn chế chuyển động quá mức của phospholipid nên làm màng bớt linh động, không phải tăng linh động.
b) Đúng
Từ +12°C xuống -4°C, phospholipid bão hòa giảm (40,1 → 36,8%), không bão hòa tăng (37,3 → 41,7%), nên tỉ số giảm (khoảng 1,07 → 0,88).
c) Đúng
Cholesterol tăng dần khi nhiệt độ giảm (15,5% ở +12°C lên 17,6% ở -4°C).
d) Đúng
Bao myelin giàu lipid (cách điện), nên tỉ lệ protein/lipid thấp. Màng trong ti thể chứa rất nhiều protein (chuỗi truyền electron, ATP synthase) nên tỉ lệ này cao.
PHOSPHOLIPID MÀNG TẾ BÀO
Màng sinh chất được cấu tạo từ hai thành phần chính là lipid và protein. Loại lipid có số lượng lớn ở hầu hết các loại màng là phospholipid. Cấu tạo phân tử phospholipid được mô tả như trong hình 1.

(Phần đầu ưa nước gồm nhóm phosphate gắn với glycerol. Phần đuôi kị nước gồm hai chuỗi acid béo: một chuỗi acid béo bão hòa, thẳng, và một chuỗi acid béo không bão hòa, bị gấp khúc.)
Lớp kép phospholipid tạo nên một cái khung liên tục tương đối ổn định của màng sinh chất. Sự xen kẽ các phân tử cholesterol ngăn cản sự chuyển động quá mức của lớp phospholipid kép giúp ổn định cấu trúc màng sinh chất. Các phân tử phospholipid có thể tự quay, dịch chuyển ngang trong phạm vi màng tạo nên tính mềm dẻo của màng.
Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái no làm tăng tính ổn định của màng sinh chất. Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái không no làm tăng tính linh hoạt của khung lipid. Do vậy, màng sinh chất có thể thay đổi tính thấm giúp thực hiện các chức năng sinh học của màng tế bào.
Quần thể ếch gỗ ở Hoa Kỳ có khả năng thích nghi tốt khi nhiệt độ môi trường trở nên lạnh giá vào mùa đông khắc nghiệt. Để tìm hiểu cơ chế thích nghi với nhiệt độ thấp của quần thể ếch này, các nhà khoa học đã tiến hành phân tích thành phần lipid trên màng tế bào của một nhóm cá thể khi nhiệt độ môi trường thay đổi. Bảng 1 biểu thị kết quả của thí nghiệm.

Biết rằng các đối tượng nghiên cứu đều có cùng độ tuổi, kích thước cơ thể và mức hoạt động. Nguồn sống của các đối tượng này đều giống nhau và chỉ khác nhau về nhiệt độ môi trường.
Dựa vào Bảng 1, khi nhiệt độ môi trường giảm từ +12°C xuống -4°C, nhận định nào sau đây đúng?
Chọn B
Bảng 1 cho thấy phospholipid bão hòa giảm (40,1 → 36,8%), không bão hòa tăng (37,3 → 41,7%), cholesterol tăng (15,5 → 17,6%).
PHOSPHOLIPID MÀNG TẾ BÀO
Màng sinh chất được cấu tạo từ hai thành phần chính là lipid và protein. Loại lipid có số lượng lớn ở hầu hết các loại màng là phospholipid. Cấu tạo phân tử phospholipid được mô tả như trong hình 1.

(Phần đầu ưa nước gồm nhóm phosphate gắn với glycerol. Phần đuôi kị nước gồm hai chuỗi acid béo: một chuỗi acid béo bão hòa, thẳng, và một chuỗi acid béo không bão hòa, bị gấp khúc.)
Lớp kép phospholipid tạo nên một cái khung liên tục tương đối ổn định của màng sinh chất. Sự xen kẽ các phân tử cholesterol ngăn cản sự chuyển động quá mức của lớp phospholipid kép giúp ổn định cấu trúc màng sinh chất. Các phân tử phospholipid có thể tự quay, dịch chuyển ngang trong phạm vi màng tạo nên tính mềm dẻo của màng.
Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái no làm tăng tính ổn định của màng sinh chất. Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái không no làm tăng tính linh hoạt của khung lipid. Do vậy, màng sinh chất có thể thay đổi tính thấm giúp thực hiện các chức năng sinh học của màng tế bào.
Quần thể ếch gỗ ở Hoa Kỳ có khả năng thích nghi tốt khi nhiệt độ môi trường trở nên lạnh giá vào mùa đông khắc nghiệt. Để tìm hiểu cơ chế thích nghi với nhiệt độ thấp của quần thể ếch này, các nhà khoa học đã tiến hành phân tích thành phần lipid trên màng tế bào của một nhóm cá thể khi nhiệt độ môi trường thay đổi. Bảng 1 biểu thị kết quả của thí nghiệm.

Biết rằng các đối tượng nghiên cứu đều có cùng độ tuổi, kích thước cơ thể và mức hoạt động. Nguồn sống của các đối tượng này đều giống nhau và chỉ khác nhau về nhiệt độ môi trường.
Điền đáp án chính xác vào chỗ trống
Tỉ số (phospholipid bão hòa)/(phospholipid không bão hòa) ở 0°C là [1] và ở +8°C là [2] . Khi nhiệt độ môi trường tăng thì tỉ số này [3].
Ở 0°C: 37,6 / 41,1 ≈ 0,91. Ở +8°C: 39,5 / 38,9 ≈ 1,02. Tỉ số tăng theo nhiệt độ (từ khoảng 0,88 ở -4°C lên khoảng 1,07 ở +12°C), cho thấy khi nóng lên màng chứa nhiều đuôi no hơn, tăng tính ổn định.
PHOSPHOLIPID MÀNG TẾ BÀO
Màng sinh chất được cấu tạo từ hai thành phần chính là lipid và protein. Loại lipid có số lượng lớn ở hầu hết các loại màng là phospholipid. Cấu tạo phân tử phospholipid được mô tả như trong hình 1.

(Phần đầu ưa nước gồm nhóm phosphate gắn với glycerol. Phần đuôi kị nước gồm hai chuỗi acid béo: một chuỗi acid béo bão hòa, thẳng, và một chuỗi acid béo không bão hòa, bị gấp khúc.)
Lớp kép phospholipid tạo nên một cái khung liên tục tương đối ổn định của màng sinh chất. Sự xen kẽ các phân tử cholesterol ngăn cản sự chuyển động quá mức của lớp phospholipid kép giúp ổn định cấu trúc màng sinh chất. Các phân tử phospholipid có thể tự quay, dịch chuyển ngang trong phạm vi màng tạo nên tính mềm dẻo của màng.
Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái no làm tăng tính ổn định của màng sinh chất. Khi các phân tử phospholipid có đuôi kị nước ở trạng thái không no làm tăng tính linh hoạt của khung lipid. Do vậy, màng sinh chất có thể thay đổi tính thấm giúp thực hiện các chức năng sinh học của màng tế bào.
Quần thể ếch gỗ ở Hoa Kỳ có khả năng thích nghi tốt khi nhiệt độ môi trường trở nên lạnh giá vào mùa đông khắc nghiệt. Để tìm hiểu cơ chế thích nghi với nhiệt độ thấp của quần thể ếch này, các nhà khoa học đã tiến hành phân tích thành phần lipid trên màng tế bào của một nhóm cá thể khi nhiệt độ môi trường thay đổi. Bảng 1 biểu thị kết quả của thí nghiệm.

Biết rằng các đối tượng nghiên cứu đều có cùng độ tuổi, kích thước cơ thể và mức hoạt động. Nguồn sống của các đối tượng này đều giống nhau và chỉ khác nhau về nhiệt độ môi trường.
Ở quần thể ếch gỗ, khi nhiệt độ môi trường giảm, tỉ lệ phospholipid có đuôi acid béo không bão hòa trên màng tế bào tăng lên. Sự thay đổi này giúp ếch thích nghi với mùa đông lạnh giá vì
Chọn B
B đúng: đuôi acid béo không bão hòa bị gấp khúc nên các phân tử phospholipid không xếp sát nhau. Nhờ vậy, khi nhiệt độ thấp làm màng có xu hướng cứng lại, màng vẫn linh hoạt và thay đổi được tính thấm để thực hiện chức năng sinh học. Điều này khớp với Bảng 1, tỉ lệ phospholipid không bão hòa tăng từ 37,3% (+12°C) lên 41,7% (-4°C).
A sai: đuôi không bão hòa bị gấp khúc chứ không thẳng, và nó làm tăng tính linh hoạt chứ không tăng độ vững chắc. Đuôi bão hòa mới làm tăng tính ổn định.
C sai: đuôi không bão hòa làm giảm sự xếp sát giữa các phân tử, không làm tăng liên kết. Ngữ liệu cũng không đề cập đến việc chống đóng băng nước.
D sai: Bảng 1 cho thấy cholesterol vẫn chiếm 15,5 đến 17,6% và còn tăng nhẹ khi nhiệt độ giảm, nên không hề bị thay thế.
HORMONE SINH TRƯỞNG - GH
Hormone sinh trưởng (GH) được sản xuất ở thùy trước của tuyến yên. GH kích thích gan tiết ra yếu tố sinh trưởng giống insulin (kí hiệu IGF = insulin-like growth factor), chúng lưu hành trong máu và kích thích trực tiếp sự phát triển của xương và sụn.
Việc chế xuất bất thường GH ở người có thể gây một số bệnh, tùy thuộc vào lượng GH được sản xuất và thời điểm xảy ra. Tăng tiết GH lúc niên thiếu có thể dẫn tới bệnh khổng lồ. Trong khi sản xuất quá nhiều GH ở tuổi trưởng thành sẽ kích thích phát triển xương ở một số tổ chức vẫn còn đáp ứng với hormone này (mặt, tay và chân) nên kết quả là phát triển quá khổ các chi dẫn tới chứng to đầu chi. Giảm tiết GH lúc niên thiếu làm chậm phát triển xương và có thể dẫn tới bị lùn.
Khi động vật tăng trưởng, xương được hình thành từ tế bào sụn, kéo dài ra từ các đĩa sụn tận cùng (gọi là đĩa sụn sinh trưởng). Thí nghiệm sau tiến hành trên các đĩa sụn sinh trưởng khỏe mạnh.
(1) Tiêm GH vào tất cả các đĩa sụn.
(2) Tiêm đồng thời GH và chất ức chế IGF vào các đĩa sụn của chuột.
(3) Tất cả GH bị ức chế ở chuột.
(4) Tiêm GH vào một đĩa sụn của chuột có gan đã bị loại bỏ (knockout) tất cả IGF.
(5) Chỉ bổ sung GH vào môi trường trong đĩa nuôi các tế bào mầm sụn.

Chọn các cụm từ sau để điền vào chỗ trống: tuyến yên, bệnh to đầu chi, bệnh khổng lồ, bệnh lùn, tăng, giảm.
Hormone sinh trưởng (GH) do thùy trước của [1] sản xuất. Nếu [2] tiết GH lúc niên thiếu, cơ thể có thể mắc [3] . Ngược lại, nếu [4] tiết GH lúc niên thiếu thì xương phát triển chậm và có thể dẫn tới [5] . Còn khi GH được sản xuất quá nhiều ở tuổi trưởng thành, người bệnh có thể mắc [6] .
tuyến yên
tăng
bệnh khổng lồ
giảm
bệnh lùn
bệnhđầutochi
Theo ngữ liệu, GH do thùy trước tuyến yên sản xuất. Tăng tiết GH lúc niên thiếu gây bệnh khổng lồ, giảm tiết GH lúc niên thiếu gây chậm phát triển xương và bị lùn. Tiết quá nhiều GH ở tuổi trưởng thành chỉ kích thích các bộ phận còn đáp ứng (mặt, tay, chân) nên gây bệnh to đầu chi.
HORMONE SINH TRƯỞNG - GH
Hormone sinh trưởng (GH) được sản xuất ở thùy trước của tuyến yên. GH kích thích gan tiết ra yếu tố sinh trưởng giống insulin (kí hiệu IGF = insulin-like growth factor), chúng lưu hành trong máu và kích thích trực tiếp sự phát triển của xương và sụn.
Việc chế xuất bất thường GH ở người có thể gây một số bệnh, tùy thuộc vào lượng GH được sản xuất và thời điểm xảy ra. Tăng tiết GH lúc niên thiếu có thể dẫn tới bệnh khổng lồ. Trong khi sản xuất quá nhiều GH ở tuổi trưởng thành sẽ kích thích phát triển xương ở một số tổ chức vẫn còn đáp ứng với hormone này (mặt, tay và chân) nên kết quả là phát triển quá khổ các chi dẫn tới chứng to đầu chi. Giảm tiết GH lúc niên thiếu làm chậm phát triển xương và có thể dẫn tới bị lùn.
Khi động vật tăng trưởng, xương được hình thành từ tế bào sụn, kéo dài ra từ các đĩa sụn tận cùng (gọi là đĩa sụn sinh trưởng). Thí nghiệm sau tiến hành trên các đĩa sụn sinh trưởng khỏe mạnh.
(1) Tiêm GH vào tất cả các đĩa sụn.
(2) Tiêm đồng thời GH và chất ức chế IGF vào các đĩa sụn của chuột.
(3) Tất cả GH bị ức chế ở chuột.
(4) Tiêm GH vào một đĩa sụn của chuột có gan đã bị loại bỏ (knockout) tất cả IGF.
(5) Chỉ bổ sung GH vào môi trường trong đĩa nuôi các tế bào mầm sụn.

Những biểu hiện nào sau đây có thể xuất hiện ở người bị tiết quá nhiều GH? (Chọn tất cả đáp án đúng)
A đúng: tăng tiết GH lúc niên thiếu gây bệnh khổng lồ.
C đúng: ở tuổi trưởng thành, GH dư chỉ kích thích các tổ chức còn đáp ứng (mặt, tay, chân), gây bệnh to đầu chi.
B sai: đây là biểu hiện của giảm tiết GH lúc niên thiếu (bệnh lùn).
D sai: GH dư kích thích gan tiết nhiều IGF nên IGF trong máu tăng, không giảm.
HORMONE SINH TRƯỞNG - GH
Hormone sinh trưởng (GH) được sản xuất ở thùy trước của tuyến yên. GH kích thích gan tiết ra yếu tố sinh trưởng giống insulin (kí hiệu IGF = insulin-like growth factor), chúng lưu hành trong máu và kích thích trực tiếp sự phát triển của xương và sụn.
Việc chế xuất bất thường GH ở người có thể gây một số bệnh, tùy thuộc vào lượng GH được sản xuất và thời điểm xảy ra. Tăng tiết GH lúc niên thiếu có thể dẫn tới bệnh khổng lồ. Trong khi sản xuất quá nhiều GH ở tuổi trưởng thành sẽ kích thích phát triển xương ở một số tổ chức vẫn còn đáp ứng với hormone này (mặt, tay và chân) nên kết quả là phát triển quá khổ các chi dẫn tới chứng to đầu chi. Giảm tiết GH lúc niên thiếu làm chậm phát triển xương và có thể dẫn tới bị lùn.
Khi động vật tăng trưởng, xương được hình thành từ tế bào sụn, kéo dài ra từ các đĩa sụn tận cùng (gọi là đĩa sụn sinh trưởng). Thí nghiệm sau tiến hành trên các đĩa sụn sinh trưởng khỏe mạnh.
(1) Tiêm GH vào tất cả các đĩa sụn.
(2) Tiêm đồng thời GH và chất ức chế IGF vào các đĩa sụn của chuột.
(3) Tất cả GH bị ức chế ở chuột.
(4) Tiêm GH vào một đĩa sụn của chuột có gan đã bị loại bỏ (knockout) tất cả IGF.
(5) Chỉ bổ sung GH vào môi trường trong đĩa nuôi các tế bào mầm sụn.

Các phát biểu sau đây đúng hay sai?
a) Đúng
Đĩa sụn 2 (GH + chất ức chế IGF) thiếu phần tế bào sụn trưởng thành có kích thước lớn so với đĩa sụn 1.
b) Sai
Ở thí nghiệm 4, gan chuột đã bị loại bỏ IGF nhưng đĩa sụn vẫn phát triển như đĩa 1. Vậy IGF còn được sản xuất tại chỗ ở sụn, không chỉ ở gan.
c) Đúng\
GH dư kích thích gan tiết nhiều IGF nên IGF huyết tương cao hơn bình thường.
d) Sai
Đĩa sụn 5 chỉ phát triển ở phần tế bào gốc, còn thiếu các tế bào sụn trưởng thành như đĩa 1. Vậy chỉ có GH là chưa đủ.
HORMONE SINH TRƯỞNG - GH
Hormone sinh trưởng (GH) được sản xuất ở thùy trước của tuyến yên. GH kích thích gan tiết ra yếu tố sinh trưởng giống insulin (kí hiệu IGF = insulin-like growth factor), chúng lưu hành trong máu và kích thích trực tiếp sự phát triển của xương và sụn.
Việc chế xuất bất thường GH ở người có thể gây một số bệnh, tùy thuộc vào lượng GH được sản xuất và thời điểm xảy ra. Tăng tiết GH lúc niên thiếu có thể dẫn tới bệnh khổng lồ. Trong khi sản xuất quá nhiều GH ở tuổi trưởng thành sẽ kích thích phát triển xương ở một số tổ chức vẫn còn đáp ứng với hormone này (mặt, tay và chân) nên kết quả là phát triển quá khổ các chi dẫn tới chứng to đầu chi. Giảm tiết GH lúc niên thiếu làm chậm phát triển xương và có thể dẫn tới bị lùn.
Khi động vật tăng trưởng, xương được hình thành từ tế bào sụn, kéo dài ra từ các đĩa sụn tận cùng (gọi là đĩa sụn sinh trưởng). Thí nghiệm sau tiến hành trên các đĩa sụn sinh trưởng khỏe mạnh.
(1) Tiêm GH vào tất cả các đĩa sụn.
(2) Tiêm đồng thời GH và chất ức chế IGF vào các đĩa sụn của chuột.
(3) Tất cả GH bị ức chế ở chuột.
(4) Tiêm GH vào một đĩa sụn của chuột có gan đã bị loại bỏ (knockout) tất cả IGF.
(5) Chỉ bổ sung GH vào môi trường trong đĩa nuôi các tế bào mầm sụn.

Ở thí nghiệm 4, GH được tiêm vào đĩa sụn của chuột có gan bị loại bỏ hoàn toàn IGF, nhưng đĩa sụn vẫn phát triển bình thường. Kết luận nào sau đây là hợp lí nhất?
Chọn A
A đúng: gan không có IGF mà đĩa sụn vẫn phát triển, nên IGF phải được sản xuất tại chỗ ở sụn dưới tác động của GH.
B sai: thí nghiệm 2 cho thấy khi IGF bị ức chế, đĩa sụn phát triển không đầy đủ, nên IGF là cần thiết.
C sai: thí nghiệm 4 chính là bằng chứng bác bỏ ý này.
D sai: mâu thuẫn với thí nghiệm 2.
HORMONE SINH TRƯỞNG - GH
Hormone sinh trưởng (GH) được sản xuất ở thùy trước của tuyến yên. GH kích thích gan tiết ra yếu tố sinh trưởng giống insulin (kí hiệu IGF = insulin-like growth factor), chúng lưu hành trong máu và kích thích trực tiếp sự phát triển của xương và sụn.
Việc chế xuất bất thường GH ở người có thể gây một số bệnh, tùy thuộc vào lượng GH được sản xuất và thời điểm xảy ra. Tăng tiết GH lúc niên thiếu có thể dẫn tới bệnh khổng lồ. Trong khi sản xuất quá nhiều GH ở tuổi trưởng thành sẽ kích thích phát triển xương ở một số tổ chức vẫn còn đáp ứng với hormone này (mặt, tay và chân) nên kết quả là phát triển quá khổ các chi dẫn tới chứng to đầu chi. Giảm tiết GH lúc niên thiếu làm chậm phát triển xương và có thể dẫn tới bị lùn.
Khi động vật tăng trưởng, xương được hình thành từ tế bào sụn, kéo dài ra từ các đĩa sụn tận cùng (gọi là đĩa sụn sinh trưởng). Thí nghiệm sau tiến hành trên các đĩa sụn sinh trưởng khỏe mạnh.
(1) Tiêm GH vào tất cả các đĩa sụn.
(2) Tiêm đồng thời GH và chất ức chế IGF vào các đĩa sụn của chuột.
(3) Tất cả GH bị ức chế ở chuột.
(4) Tiêm GH vào một đĩa sụn của chuột có gan đã bị loại bỏ (knockout) tất cả IGF.
(5) Chỉ bổ sung GH vào môi trường trong đĩa nuôi các tế bào mầm sụn.

Một bé 8 tuổi có chiều cao thấp hơn hẳn các bạn cùng tuổi. Xét nghiệm cho thấy nồng độ GH trong máu cao hơn bình thường, còn nồng độ IGF trong máu thấp. Nguyên nhân nhiều khả năng nhất là
Chọn C
C đúng: GH cao chứng tỏ tuyến yên vẫn hoạt động, nhưng IGF thấp nghĩa là GH không kích thích được gan (và mô đích) tạo IGF, nên xương và sụn không phát triển, dẫn tới lùn.
A sai: GH dư ở tuổi niên thiếu gây bệnh khổng lồ chứ không gây lùn, và IGF sẽ tăng.
B sai: nếu tuyến yên suy thì GH phải thấp, không cao.
D sai: IGF kích thích phát triển xương, và ở đây IGF thấp chứ không cao.
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đáp án | - | B | B | - | B | - | A | A | A | C |
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.
Đăng nhập để làm bài