[9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 10 - Sinh học

Đánh giá Tư duy (TSA)Môn Tư duy khoa học - Sinh họcNăm 202713 câuChuẩn GDPT mới

Phần I

Câu 1

Khả năng tiêu thụ gỗ của mối Reticulitermes flavipes

Loài mối Reticulitermes flavipes ăn cả gỗ lẫn vỏ cây. Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu liệu lượng gỗ hoặc vỏ cây mà R. flavipes tiêu thụ có thay đổi hay không tùy theo loại mùn được sử dụng và thời gian ủ mùn (được xem như độ tuổi của mùn). Năm loại mùn khác nhau được đem ủ (cho phân hủy) trong ba khoảng thời gian: 1 tuần, 24 tuần và 48 tuần. Sau đó, khoảng 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 1 tuần được cho vào hộp số 1; 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 24 tuần được cho vào hộp số 2; và 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 48 tuần được cho vào hộp số 3. Kế đến, mỗi hộp được thả thêm 1 g mối R. flavipes. Sau 15 ngày nuôi, lượng mùn bị mối tiêu thụ (tính theo miligam) được đo và ghi nhận riêng cho từng loại mùn ứng với từng độ tuổi (xem hình minh họa).

Hình minh họa

Nguồn: O. P. Pinzon và cộng sự (2006), Feeding, Weight Change, Survival, and Aggregation of Reticulitermes flavipes (Kollar) (Isoptera: Rhinotermitidae) in Seven Varieties of Differentially-Aged Mulch, Horticultural Research Institute.

Trong số các kết hợp sau về loại mùn và độ tuổi lớp mùn, kết hợp nào tạo ra khối lượng mùn tiêu thụ nhỏ nhất?

A
Mùn vỏ thông 1 tuần tuổi
B
Mùn tuyết tùng 48 tuần tuổi
C
Mùn bách 48 tuần tuổi
D
Mùn vỏ thông 24 tuần tuổi

Câu 2

Khả năng tiêu thụ gỗ của mối Reticulitermes flavipes

Loài mối Reticulitermes flavipes ăn cả gỗ lẫn vỏ cây. Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu liệu lượng gỗ hoặc vỏ cây mà R. flavipes tiêu thụ có thay đổi hay không tùy theo loại mùn được sử dụng và thời gian ủ mùn (được xem như độ tuổi của mùn). Năm loại mùn khác nhau được đem ủ (cho phân hủy) trong ba khoảng thời gian: 1 tuần, 24 tuần và 48 tuần. Sau đó, khoảng 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 1 tuần được cho vào hộp số 1; 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 24 tuần được cho vào hộp số 2; và 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 48 tuần được cho vào hộp số 3. Kế đến, mỗi hộp được thả thêm 1 g mối R. flavipes. Sau 15 ngày nuôi, lượng mùn bị mối tiêu thụ (tính theo miligam) được đo và ghi nhận riêng cho từng loại mùn ứng với từng độ tuổi (xem hình minh họa).

Hình minh họa

Nguồn: O. P. Pinzon và cộng sự (2006), Feeding, Weight Change, Survival, and Aggregation of Reticulitermes flavipes (Kollar) (Isoptera: Rhinotermitidae) in Seven Varieties of Differentially-Aged Mulch, Horticultural Research Institute.

Nhận định nào sau đây về ảnh hưởng của độ tuổi lớp mùn lên khối lượng mùn mà R. flavipes tiêu thụ là phù hợp với biểu đồ? Khi độ tuổi mùn tăng từ 1 tuần lên 48 tuần, khối lượng mùn tiêu thụ:

A
giảm liên tục đối với cả 5 loại mùn.
B
tăng liên tục đối với cả 5 loại mùn.
C
ban đầu giảm đối với cả 5 loại mùn, sau đó tăng ở một số loại.
D
ban đầu tăng đối với cả 5 loại mùn, sau đó giảm ở một số loại.

Câu 3

Khả năng tiêu thụ gỗ của mối Reticulitermes flavipes

Loài mối Reticulitermes flavipes ăn cả gỗ lẫn vỏ cây. Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu liệu lượng gỗ hoặc vỏ cây mà R. flavipes tiêu thụ có thay đổi hay không tùy theo loại mùn được sử dụng và thời gian ủ mùn (được xem như độ tuổi của mùn). Năm loại mùn khác nhau được đem ủ (cho phân hủy) trong ba khoảng thời gian: 1 tuần, 24 tuần và 48 tuần. Sau đó, khoảng 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 1 tuần được cho vào hộp số 1; 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 24 tuần được cho vào hộp số 2; và 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 48 tuần được cho vào hộp số 3. Kế đến, mỗi hộp được thả thêm 1 g mối R. flavipes. Sau 15 ngày nuôi, lượng mùn bị mối tiêu thụ (tính theo miligam) được đo và ghi nhận riêng cho từng loại mùn ứng với từng độ tuổi (xem hình minh họa).

Hình minh họa

Nguồn: O. P. Pinzon và cộng sự (2006), Feeding, Weight Change, Survival, and Aggregation of Reticulitermes flavipes (Kollar) (Isoptera: Rhinotermitidae) in Seven Varieties of Differentially-Aged Mulch, Horticultural Research Institute.

Dựa vào đoạn thông tin, mối R. flavipes nên được xếp vào nhóm sinh vật tự dưỡng hay dị dưỡng?

A
Tự dưỡng, vì tự tổng hợp năng lượng mà không cần tiêu thụ vật chất hữu cơ.
B
Tự dưỡng, vì lấy năng lượng bằng cách tiêu thụ vật chất hữu cơ đang phân hủy.
C
Dị dưỡng, vì tự tổng hợp năng lượng mà không cần tiêu thụ vật chất hữu cơ.
D
Dị dưỡng, vì lấy năng lượng bằng cách tiêu thụ vật chất hữu cơ đang phân hủy.

Câu 4

Khả năng tiêu thụ gỗ của mối Reticulitermes flavipes

Loài mối Reticulitermes flavipes ăn cả gỗ lẫn vỏ cây. Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu liệu lượng gỗ hoặc vỏ cây mà R. flavipes tiêu thụ có thay đổi hay không tùy theo loại mùn được sử dụng và thời gian ủ mùn (được xem như độ tuổi của mùn). Năm loại mùn khác nhau được đem ủ (cho phân hủy) trong ba khoảng thời gian: 1 tuần, 24 tuần và 48 tuần. Sau đó, khoảng 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 1 tuần được cho vào hộp số 1; 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 24 tuần được cho vào hộp số 2; và 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 48 tuần được cho vào hộp số 3. Kế đến, mỗi hộp được thả thêm 1 g mối R. flavipes. Sau 15 ngày nuôi, lượng mùn bị mối tiêu thụ (tính theo miligam) được đo và ghi nhận riêng cho từng loại mùn ứng với từng độ tuổi (xem hình minh họa).

Hình minh họa

Nguồn: O. P. Pinzon và cộng sự (2006), Feeding, Weight Change, Survival, and Aggregation of Reticulitermes flavipes (Kollar) (Isoptera: Rhinotermitidae) in Seven Varieties of Differentially-Aged Mulch, Horticultural Research Institute.

Nguồn thức ăn chính của R. flavipes nhiều khả năng là cellulose hay protein?

A
Cellulose, vì mối ăn màng tế bào động vật, mà màng tế bào động vật chứa nhiều cellulose.
B
Cellulose, vì mối ăn thành tế bào thực vật, mà thành tế bào thực vật chủ yếu là cellulose.
C
Protein, vì mối ăn màng tế bào động vật, mà màng tế bào động vật chứa nhiều protein.
D
Protein, vì mối ăn thành tế bào thực vật, mà thành tế bào thực vật chủ yếu là protein.

Câu 5

Khả năng tiêu thụ gỗ của mối Reticulitermes flavipes

Loài mối Reticulitermes flavipes ăn cả gỗ lẫn vỏ cây. Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu liệu lượng gỗ hoặc vỏ cây mà R. flavipes tiêu thụ có thay đổi hay không tùy theo loại mùn được sử dụng và thời gian ủ mùn (được xem như độ tuổi của mùn). Năm loại mùn khác nhau được đem ủ (cho phân hủy) trong ba khoảng thời gian: 1 tuần, 24 tuần và 48 tuần. Sau đó, khoảng 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 1 tuần được cho vào hộp số 1; 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 24 tuần được cho vào hộp số 2; và 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 48 tuần được cho vào hộp số 3. Kế đến, mỗi hộp được thả thêm 1 g mối R. flavipes. Sau 15 ngày nuôi, lượng mùn bị mối tiêu thụ (tính theo miligam) được đo và ghi nhận riêng cho từng loại mùn ứng với từng độ tuổi (xem hình minh họa).

Hình minh họa

Nguồn: O. P. Pinzon và cộng sự (2006), Feeding, Weight Change, Survival, and Aggregation of Reticulitermes flavipes (Kollar) (Isoptera: Rhinotermitidae) in Seven Varieties of Differentially-Aged Mulch, Horticultural Research Institute.

Khi so sánh mức tiêu thụ mùn vỏ thông 1 tuần tuổi, 24 tuần tuổi và 48 tuần tuổi, nhận định nào sau đây đúng?

A
Lượng tiêu thụ 1 tuần tuổi nhiều hơn 24 tuần tuổi, và 24 tuần tuổi nhiều hơn 48 tuần tuổi.
B
Lượng tiêu thụ 1 tuần tuổi ít hơn 24 tuần tuổi, và 24 tuần tuổi ít hơn 48 tuần tuổi.
C
Lượng tiêu thụ 1 tuần tuổi ít hơn 24 tuần tuổi, và 24 tuần tuổi nhiều hơn 48 tuần tuổi.
D
Lượng tiêu thụ 1 tuần tuổi nhiều hơn 24 tuần tuổi, và 24 tuần tuổi ít hơn 48 tuần tuổi.

Câu 6

Khả năng tiêu thụ gỗ của mối Reticulitermes flavipes

Loài mối Reticulitermes flavipes ăn cả gỗ lẫn vỏ cây. Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu liệu lượng gỗ hoặc vỏ cây mà R. flavipes tiêu thụ có thay đổi hay không tùy theo loại mùn được sử dụng và thời gian ủ mùn (được xem như độ tuổi của mùn). Năm loại mùn khác nhau được đem ủ (cho phân hủy) trong ba khoảng thời gian: 1 tuần, 24 tuần và 48 tuần. Sau đó, khoảng 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 1 tuần được cho vào hộp số 1; 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 24 tuần được cho vào hộp số 2; và 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 48 tuần được cho vào hộp số 3. Kế đến, mỗi hộp được thả thêm 1 g mối R. flavipes. Sau 15 ngày nuôi, lượng mùn bị mối tiêu thụ (tính theo miligam) được đo và ghi nhận riêng cho từng loại mùn ứng với từng độ tuổi (xem hình minh họa).

Hình minh họa

Nguồn: O. P. Pinzon và cộng sự (2006), Feeding, Weight Change, Survival, and Aggregation of Reticulitermes flavipes (Kollar) (Isoptera: Rhinotermitidae) in Seven Varieties of Differentially-Aged Mulch, Horticultural Research Institute.

R. flavipes đã tiêu thụ bao nhiêu gam mùn cây bách (cypress) 48 tuần tuổi?

A
0,075 g
B
0,175 g
C
0,75 g
D
1,75 g

Câu 7

Kháng sinh đồ – giải pháp giảm thiểu đề kháng kháng sinh

Để tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ đề kháng kháng sinh khi điều trị nhiễm khuẩn, bác sĩ sử dụng phương pháp thử để tìm ra loại kháng sinh có hiệu quả nhất đối với chủng vi khuẩn mà người bệnh đang nhiễm; phương pháp này được gọi là kháng sinh đồ. Quy trình thực hiện gồm các bước sau:

1. Lấy bệnh phẩm của người bệnh có chứa vi khuẩn gây bệnh.

2. Cấy vi khuẩn thu được lên 3 đĩa thạch chứa dinh dưỡng.

3. Bác sĩ xác định các loại thuốc kháng sinh có thể được dùng để điều trị.

4. Sử dụng giấy thấm tẩm các loại kháng sinh với nồng độ đã xác định.

5. Đặt các giấy thấm lên đĩa thạch, cách đều nhau.

6. Đem ủ ấm trong tủ ủ khoảng 48 giờ.

7. Đo đường kính của từng vùng vô khuẩn xuất hiện xung quanh giấy thấm.

Hình minh họa

Hình 1. Vòng vô khuẩn ở đĩa nuôi cấy sau khi kết thúc thử nghiệm

Một bệnh nhân bị nhiễm khuẩn được điều trị tại bệnh viện. Bác sĩ tiến hành làm kháng sinh đồ với 5 loại kháng sinh khác nhau (A, B, C, D, E), mỗi loại được thử trên 3 đĩa thạch lặp lại. Kết quả đo đường kính vòng vô khuẩn (mm) được trình bày trong Bảng 1:

Kháng sinh đồ là phương pháp dùng để tìm ra loại kháng sinh có hiệu quả nhất đối với vi khuẩn gây bệnh. Đúng hay sai?

 

a

Đúng

B

Sai

Câu 8

Kháng sinh đồ – giải pháp giảm thiểu đề kháng kháng sinh

Để tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ đề kháng kháng sinh khi điều trị nhiễm khuẩn, bác sĩ sử dụng phương pháp thử để tìm ra loại kháng sinh có hiệu quả nhất đối với chủng vi khuẩn mà người bệnh đang nhiễm; phương pháp này được gọi là kháng sinh đồ. Quy trình thực hiện gồm các bước sau:

1. Lấy bệnh phẩm của người bệnh có chứa vi khuẩn gây bệnh.

2. Cấy vi khuẩn thu được lên 3 đĩa thạch chứa dinh dưỡng.

3. Bác sĩ xác định các loại thuốc kháng sinh có thể được dùng để điều trị.

4. Sử dụng giấy thấm tẩm các loại kháng sinh với nồng độ đã xác định.

5. Đặt các giấy thấm lên đĩa thạch, cách đều nhau.

6. Đem ủ ấm trong tủ ủ khoảng 48 giờ.

7. Đo đường kính của từng vùng vô khuẩn xuất hiện xung quanh giấy thấm.

Hình minh họa

Hình 1. Vòng vô khuẩn ở đĩa nuôi cấy sau khi kết thúc thử nghiệm

Một bệnh nhân bị nhiễm khuẩn được điều trị tại bệnh viện. Bác sĩ tiến hành làm kháng sinh đồ với 5 loại kháng sinh khác nhau (A, B, C, D, E), mỗi loại được thử trên 3 đĩa thạch lặp lại. Kết quả đo đường kính vòng vô khuẩn (mm) được trình bày trong Bảng 1:

Trong thí nghiệm, vi khuẩn thu được từ bệnh phẩm được cấy lên bao nhiêu đĩa thạch chứa dinh dưỡng?

Câu 9

Kháng sinh đồ – giải pháp giảm thiểu đề kháng kháng sinh

Để tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ đề kháng kháng sinh khi điều trị nhiễm khuẩn, bác sĩ sử dụng phương pháp thử để tìm ra loại kháng sinh có hiệu quả nhất đối với chủng vi khuẩn mà người bệnh đang nhiễm; phương pháp này được gọi là kháng sinh đồ. Quy trình thực hiện gồm các bước sau:

1. Lấy bệnh phẩm của người bệnh có chứa vi khuẩn gây bệnh.

2. Cấy vi khuẩn thu được lên 3 đĩa thạch chứa dinh dưỡng.

3. Bác sĩ xác định các loại thuốc kháng sinh có thể được dùng để điều trị.

4. Sử dụng giấy thấm tẩm các loại kháng sinh với nồng độ đã xác định.

5. Đặt các giấy thấm lên đĩa thạch, cách đều nhau.

6. Đem ủ ấm trong tủ ủ khoảng 48 giờ.

7. Đo đường kính của từng vùng vô khuẩn xuất hiện xung quanh giấy thấm.

Hình minh họa

Hình 1. Vòng vô khuẩn ở đĩa nuôi cấy sau khi kết thúc thử nghiệm

Một bệnh nhân bị nhiễm khuẩn được điều trị tại bệnh viện. Bác sĩ tiến hành làm kháng sinh đồ với 5 loại kháng sinh khác nhau (A, B, C, D, E), mỗi loại được thử trên 3 đĩa thạch lặp lại. Kết quả đo đường kính vòng vô khuẩn (mm) được trình bày trong Bảng 1:

Trong bảng kết quả, loại kháng sinh nào có đường kính trung bình của vòng vô khuẩn lớn nhất?

A
Kháng sinh A
B
Kháng sinh B
C
Kháng sinh D
D
Kháng sinh E

Câu 10

Kháng sinh đồ – giải pháp giảm thiểu đề kháng kháng sinh

Để tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ đề kháng kháng sinh khi điều trị nhiễm khuẩn, bác sĩ sử dụng phương pháp thử để tìm ra loại kháng sinh có hiệu quả nhất đối với chủng vi khuẩn mà người bệnh đang nhiễm; phương pháp này được gọi là kháng sinh đồ. Quy trình thực hiện gồm các bước sau:

1. Lấy bệnh phẩm của người bệnh có chứa vi khuẩn gây bệnh.

2. Cấy vi khuẩn thu được lên 3 đĩa thạch chứa dinh dưỡng.

3. Bác sĩ xác định các loại thuốc kháng sinh có thể được dùng để điều trị.

4. Sử dụng giấy thấm tẩm các loại kháng sinh với nồng độ đã xác định.

5. Đặt các giấy thấm lên đĩa thạch, cách đều nhau.

6. Đem ủ ấm trong tủ ủ khoảng 48 giờ.

7. Đo đường kính của từng vùng vô khuẩn xuất hiện xung quanh giấy thấm.

Hình minh họa

Hình 1. Vòng vô khuẩn ở đĩa nuôi cấy sau khi kết thúc thử nghiệm

Một bệnh nhân bị nhiễm khuẩn được điều trị tại bệnh viện. Bác sĩ tiến hành làm kháng sinh đồ với 5 loại kháng sinh khác nhau (A, B, C, D, E), mỗi loại được thử trên 3 đĩa thạch lặp lại. Kết quả đo đường kính vòng vô khuẩn (mm) được trình bày trong Bảng 1:

Sau khi cấy vi khuẩn và đặt giấy thấm kháng sinh, đĩa thạch được ủ ấm trong khoảng mấy giờ trước khi đo đường kính vòng vô khuẩn.

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.

Đăng nhập để làm bài
Đề thi: [9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 10 - Sinh học môn Tư duy khoa học - Sinh học 2027 (Đánh giá Tư duy (TSA)) - 9Study