Khả năng tiêu thụ gỗ của mối Reticulitermes flavipes
Loài mối Reticulitermes flavipes ăn cả gỗ lẫn vỏ cây. Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu liệu lượng gỗ hoặc vỏ cây mà R. flavipes tiêu thụ có thay đổi hay không tùy theo loại mùn được sử dụng và thời gian ủ mùn (được xem như độ tuổi của mùn). Năm loại mùn khác nhau được đem ủ (cho phân hủy) trong ba khoảng thời gian: 1 tuần, 24 tuần và 48 tuần. Sau đó, khoảng 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 1 tuần được cho vào hộp số 1; 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 24 tuần được cho vào hộp số 2; và 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 48 tuần được cho vào hộp số 3. Kế đến, mỗi hộp được thả thêm 1 g mối R. flavipes. Sau 15 ngày nuôi, lượng mùn bị mối tiêu thụ (tính theo miligam) được đo và ghi nhận riêng cho từng loại mùn ứng với từng độ tuổi (xem hình minh họa).

Nguồn: O. P. Pinzon và cộng sự (2006), Feeding, Weight Change, Survival, and Aggregation of Reticulitermes flavipes (Kollar) (Isoptera: Rhinotermitidae) in Seven Varieties of Differentially-Aged Mulch, Horticultural Research Institute.
Trong số các kết hợp sau về loại mùn và độ tuổi lớp mùn, kết hợp nào tạo ra khối lượng mùn tiêu thụ nhỏ nhất?
Chọn A
Vỏ thông 1 tuần tuổi ≈ 12 mg; tuyết tùng 48 tuần ≈ 40 mg; bách 48 tuần ≈ 175 mg; vỏ thông 24 tuần ≈ 148 mg. Giá trị nhỏ nhất trong 4 lựa chọn là 12 mg → vỏ thông 1 tuần tuổi.
Khả năng tiêu thụ gỗ của mối Reticulitermes flavipes
Loài mối Reticulitermes flavipes ăn cả gỗ lẫn vỏ cây. Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu liệu lượng gỗ hoặc vỏ cây mà R. flavipes tiêu thụ có thay đổi hay không tùy theo loại mùn được sử dụng và thời gian ủ mùn (được xem như độ tuổi của mùn). Năm loại mùn khác nhau được đem ủ (cho phân hủy) trong ba khoảng thời gian: 1 tuần, 24 tuần và 48 tuần. Sau đó, khoảng 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 1 tuần được cho vào hộp số 1; 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 24 tuần được cho vào hộp số 2; và 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 48 tuần được cho vào hộp số 3. Kế đến, mỗi hộp được thả thêm 1 g mối R. flavipes. Sau 15 ngày nuôi, lượng mùn bị mối tiêu thụ (tính theo miligam) được đo và ghi nhận riêng cho từng loại mùn ứng với từng độ tuổi (xem hình minh họa).

Nguồn: O. P. Pinzon và cộng sự (2006), Feeding, Weight Change, Survival, and Aggregation of Reticulitermes flavipes (Kollar) (Isoptera: Rhinotermitidae) in Seven Varieties of Differentially-Aged Mulch, Horticultural Research Institute.
Nhận định nào sau đây về ảnh hưởng của độ tuổi lớp mùn lên khối lượng mùn mà R. flavipes tiêu thụ là phù hợp với biểu đồ? Khi độ tuổi mùn tăng từ 1 tuần lên 48 tuần, khối lượng mùn tiêu thụ:
Chọn D
Từ 1 → 24 tuần, cả 5 loại đều tăng (5→25, 5→51, 100→160, 60→85, 12→148). Từ 24 → 48 tuần, tuyết tùng/cây bách/vỏ sồi tiếp tục tăng, nhưng cây sồi (160→45) và vỏ thông (148→60) lại giảm. Vậy xu hướng chung: tăng ban đầu ở tất cả 5 loại, rồi giảm ở một số loại.
Khả năng tiêu thụ gỗ của mối Reticulitermes flavipes
Loài mối Reticulitermes flavipes ăn cả gỗ lẫn vỏ cây. Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu liệu lượng gỗ hoặc vỏ cây mà R. flavipes tiêu thụ có thay đổi hay không tùy theo loại mùn được sử dụng và thời gian ủ mùn (được xem như độ tuổi của mùn). Năm loại mùn khác nhau được đem ủ (cho phân hủy) trong ba khoảng thời gian: 1 tuần, 24 tuần và 48 tuần. Sau đó, khoảng 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 1 tuần được cho vào hộp số 1; 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 24 tuần được cho vào hộp số 2; và 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 48 tuần được cho vào hộp số 3. Kế đến, mỗi hộp được thả thêm 1 g mối R. flavipes. Sau 15 ngày nuôi, lượng mùn bị mối tiêu thụ (tính theo miligam) được đo và ghi nhận riêng cho từng loại mùn ứng với từng độ tuổi (xem hình minh họa).

Nguồn: O. P. Pinzon và cộng sự (2006), Feeding, Weight Change, Survival, and Aggregation of Reticulitermes flavipes (Kollar) (Isoptera: Rhinotermitidae) in Seven Varieties of Differentially-Aged Mulch, Horticultural Research Institute.
Dựa vào đoạn thông tin, mối R. flavipes nên được xếp vào nhóm sinh vật tự dưỡng hay dị dưỡng?
Chọn D
Mối ăn mùn (gỗ/vỏ cây đã ủ phân hủy) để lấy năng lượng — đây là đặc điểm của sinh vật dị dưỡng, không tự tổng hợp chất hữu cơ như sinh vật tự dưỡng.
Khả năng tiêu thụ gỗ của mối Reticulitermes flavipes
Loài mối Reticulitermes flavipes ăn cả gỗ lẫn vỏ cây. Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu liệu lượng gỗ hoặc vỏ cây mà R. flavipes tiêu thụ có thay đổi hay không tùy theo loại mùn được sử dụng và thời gian ủ mùn (được xem như độ tuổi của mùn). Năm loại mùn khác nhau được đem ủ (cho phân hủy) trong ba khoảng thời gian: 1 tuần, 24 tuần và 48 tuần. Sau đó, khoảng 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 1 tuần được cho vào hộp số 1; 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 24 tuần được cho vào hộp số 2; và 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 48 tuần được cho vào hộp số 3. Kế đến, mỗi hộp được thả thêm 1 g mối R. flavipes. Sau 15 ngày nuôi, lượng mùn bị mối tiêu thụ (tính theo miligam) được đo và ghi nhận riêng cho từng loại mùn ứng với từng độ tuổi (xem hình minh họa).

Nguồn: O. P. Pinzon và cộng sự (2006), Feeding, Weight Change, Survival, and Aggregation of Reticulitermes flavipes (Kollar) (Isoptera: Rhinotermitidae) in Seven Varieties of Differentially-Aged Mulch, Horticultural Research Institute.
Nguồn thức ăn chính của R. flavipes nhiều khả năng là cellulose hay protein?
Chọn B
Mối ăn mô thực vật (gỗ, vỏ cây); thành tế bào thực vật cấu tạo chủ yếu từ cellulose, nên đây là nguồn thức ăn chính, không phải protein hay tế bào động vật.
Khả năng tiêu thụ gỗ của mối Reticulitermes flavipes
Loài mối Reticulitermes flavipes ăn cả gỗ lẫn vỏ cây. Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu liệu lượng gỗ hoặc vỏ cây mà R. flavipes tiêu thụ có thay đổi hay không tùy theo loại mùn được sử dụng và thời gian ủ mùn (được xem như độ tuổi của mùn). Năm loại mùn khác nhau được đem ủ (cho phân hủy) trong ba khoảng thời gian: 1 tuần, 24 tuần và 48 tuần. Sau đó, khoảng 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 1 tuần được cho vào hộp số 1; 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 24 tuần được cho vào hộp số 2; và 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 48 tuần được cho vào hộp số 3. Kế đến, mỗi hộp được thả thêm 1 g mối R. flavipes. Sau 15 ngày nuôi, lượng mùn bị mối tiêu thụ (tính theo miligam) được đo và ghi nhận riêng cho từng loại mùn ứng với từng độ tuổi (xem hình minh họa).

Nguồn: O. P. Pinzon và cộng sự (2006), Feeding, Weight Change, Survival, and Aggregation of Reticulitermes flavipes (Kollar) (Isoptera: Rhinotermitidae) in Seven Varieties of Differentially-Aged Mulch, Horticultural Research Institute.
Khi so sánh mức tiêu thụ mùn vỏ thông 1 tuần tuổi, 24 tuần tuổi và 48 tuần tuổi, nhận định nào sau đây đúng?
Chọn C
Vỏ thông: 1 tuần ≈ 12 mg, 24 tuần ≈ 148 mg, 48 tuần ≈ 60 mg. Vậy 12 < 148 (1 tuần ít hơn 24 tuần) và 148 > 60 (24 tuần nhiều hơn 48 tuần)
Khả năng tiêu thụ gỗ của mối Reticulitermes flavipes
Loài mối Reticulitermes flavipes ăn cả gỗ lẫn vỏ cây. Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu liệu lượng gỗ hoặc vỏ cây mà R. flavipes tiêu thụ có thay đổi hay không tùy theo loại mùn được sử dụng và thời gian ủ mùn (được xem như độ tuổi của mùn). Năm loại mùn khác nhau được đem ủ (cho phân hủy) trong ba khoảng thời gian: 1 tuần, 24 tuần và 48 tuần. Sau đó, khoảng 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 1 tuần được cho vào hộp số 1; 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 24 tuần được cho vào hộp số 2; và 2 g mùn của mỗi loại ở độ tuổi 48 tuần được cho vào hộp số 3. Kế đến, mỗi hộp được thả thêm 1 g mối R. flavipes. Sau 15 ngày nuôi, lượng mùn bị mối tiêu thụ (tính theo miligam) được đo và ghi nhận riêng cho từng loại mùn ứng với từng độ tuổi (xem hình minh họa).

Nguồn: O. P. Pinzon và cộng sự (2006), Feeding, Weight Change, Survival, and Aggregation of Reticulitermes flavipes (Kollar) (Isoptera: Rhinotermitidae) in Seven Varieties of Differentially-Aged Mulch, Horticultural Research Institute.
R. flavipes đã tiêu thụ bao nhiêu gam mùn cây bách (cypress) 48 tuần tuổi?
Chọn B
Theo biểu đồ, khối lượng mùn cây bách 48 tuần tuổi bị tiêu thụ ≈ 175 mg. Đổi sang gam: 175 mg = 175/1000 g = 0,175 g.
Kháng sinh đồ – giải pháp giảm thiểu đề kháng kháng sinh
Để tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ đề kháng kháng sinh khi điều trị nhiễm khuẩn, bác sĩ sử dụng phương pháp thử để tìm ra loại kháng sinh có hiệu quả nhất đối với chủng vi khuẩn mà người bệnh đang nhiễm; phương pháp này được gọi là kháng sinh đồ. Quy trình thực hiện gồm các bước sau:
1. Lấy bệnh phẩm của người bệnh có chứa vi khuẩn gây bệnh.
2. Cấy vi khuẩn thu được lên 3 đĩa thạch chứa dinh dưỡng.
3. Bác sĩ xác định các loại thuốc kháng sinh có thể được dùng để điều trị.
4. Sử dụng giấy thấm tẩm các loại kháng sinh với nồng độ đã xác định.
5. Đặt các giấy thấm lên đĩa thạch, cách đều nhau.
6. Đem ủ ấm trong tủ ủ khoảng 48 giờ.
7. Đo đường kính của từng vùng vô khuẩn xuất hiện xung quanh giấy thấm.

Hình 1. Vòng vô khuẩn ở đĩa nuôi cấy sau khi kết thúc thử nghiệm
Một bệnh nhân bị nhiễm khuẩn được điều trị tại bệnh viện. Bác sĩ tiến hành làm kháng sinh đồ với 5 loại kháng sinh khác nhau (A, B, C, D, E), mỗi loại được thử trên 3 đĩa thạch lặp lại. Kết quả đo đường kính vòng vô khuẩn (mm) được trình bày trong Bảng 1:

Kháng sinh đồ là phương pháp dùng để tìm ra loại kháng sinh có hiệu quả nhất đối với vi khuẩn gây bệnh. Đúng hay sai?
Đúng
Sai
Chọn A
Theo đoạn văn, kháng sinh đồ là phương pháp "thử và tìm loại kháng sinh hiệu quả nhất với loại vi khuẩn mà người bệnh đang nhiễm", chứ không phải để xác định loại vi khuẩn gây bệnh (vi khuẩn đã được xác định/lấy từ bệnh phẩm trước đó)
Kháng sinh đồ – giải pháp giảm thiểu đề kháng kháng sinh
Để tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ đề kháng kháng sinh khi điều trị nhiễm khuẩn, bác sĩ sử dụng phương pháp thử để tìm ra loại kháng sinh có hiệu quả nhất đối với chủng vi khuẩn mà người bệnh đang nhiễm; phương pháp này được gọi là kháng sinh đồ. Quy trình thực hiện gồm các bước sau:
1. Lấy bệnh phẩm của người bệnh có chứa vi khuẩn gây bệnh.
2. Cấy vi khuẩn thu được lên 3 đĩa thạch chứa dinh dưỡng.
3. Bác sĩ xác định các loại thuốc kháng sinh có thể được dùng để điều trị.
4. Sử dụng giấy thấm tẩm các loại kháng sinh với nồng độ đã xác định.
5. Đặt các giấy thấm lên đĩa thạch, cách đều nhau.
6. Đem ủ ấm trong tủ ủ khoảng 48 giờ.
7. Đo đường kính của từng vùng vô khuẩn xuất hiện xung quanh giấy thấm.

Hình 1. Vòng vô khuẩn ở đĩa nuôi cấy sau khi kết thúc thử nghiệm
Một bệnh nhân bị nhiễm khuẩn được điều trị tại bệnh viện. Bác sĩ tiến hành làm kháng sinh đồ với 5 loại kháng sinh khác nhau (A, B, C, D, E), mỗi loại được thử trên 3 đĩa thạch lặp lại. Kết quả đo đường kính vòng vô khuẩn (mm) được trình bày trong Bảng 1:

Trong thí nghiệm, vi khuẩn thu được từ bệnh phẩm được cấy lên bao nhiêu đĩa thạch chứa dinh dưỡng?
Chọn 3
Theo bước 2 của quy trình: "Cấy vi khuẩn thu được lên 3 đĩa thạch chứa dinh dưỡng" — mỗi loại vi khuẩn được cấy lặp lại trên 3 đĩa để đảm bảo độ tin cậy của kết quả đo (thể hiện qua 3 cột "Đĩa thạch 1/2/3" trong Bảng 1).
Kháng sinh đồ – giải pháp giảm thiểu đề kháng kháng sinh
Để tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ đề kháng kháng sinh khi điều trị nhiễm khuẩn, bác sĩ sử dụng phương pháp thử để tìm ra loại kháng sinh có hiệu quả nhất đối với chủng vi khuẩn mà người bệnh đang nhiễm; phương pháp này được gọi là kháng sinh đồ. Quy trình thực hiện gồm các bước sau:
1. Lấy bệnh phẩm của người bệnh có chứa vi khuẩn gây bệnh.
2. Cấy vi khuẩn thu được lên 3 đĩa thạch chứa dinh dưỡng.
3. Bác sĩ xác định các loại thuốc kháng sinh có thể được dùng để điều trị.
4. Sử dụng giấy thấm tẩm các loại kháng sinh với nồng độ đã xác định.
5. Đặt các giấy thấm lên đĩa thạch, cách đều nhau.
6. Đem ủ ấm trong tủ ủ khoảng 48 giờ.
7. Đo đường kính của từng vùng vô khuẩn xuất hiện xung quanh giấy thấm.

Hình 1. Vòng vô khuẩn ở đĩa nuôi cấy sau khi kết thúc thử nghiệm
Một bệnh nhân bị nhiễm khuẩn được điều trị tại bệnh viện. Bác sĩ tiến hành làm kháng sinh đồ với 5 loại kháng sinh khác nhau (A, B, C, D, E), mỗi loại được thử trên 3 đĩa thạch lặp lại. Kết quả đo đường kính vòng vô khuẩn (mm) được trình bày trong Bảng 1:

Trong bảng kết quả, loại kháng sinh nào có đường kính trung bình của vòng vô khuẩn lớn nhất?
Chọn D
Đường kính trung bình: A = 15mm, B = 25mm, D = 23mm, E = 29mm. E có giá trị lớn nhất.
Kháng sinh đồ – giải pháp giảm thiểu đề kháng kháng sinh
Để tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ đề kháng kháng sinh khi điều trị nhiễm khuẩn, bác sĩ sử dụng phương pháp thử để tìm ra loại kháng sinh có hiệu quả nhất đối với chủng vi khuẩn mà người bệnh đang nhiễm; phương pháp này được gọi là kháng sinh đồ. Quy trình thực hiện gồm các bước sau:
1. Lấy bệnh phẩm của người bệnh có chứa vi khuẩn gây bệnh.
2. Cấy vi khuẩn thu được lên 3 đĩa thạch chứa dinh dưỡng.
3. Bác sĩ xác định các loại thuốc kháng sinh có thể được dùng để điều trị.
4. Sử dụng giấy thấm tẩm các loại kháng sinh với nồng độ đã xác định.
5. Đặt các giấy thấm lên đĩa thạch, cách đều nhau.
6. Đem ủ ấm trong tủ ủ khoảng 48 giờ.
7. Đo đường kính của từng vùng vô khuẩn xuất hiện xung quanh giấy thấm.

Hình 1. Vòng vô khuẩn ở đĩa nuôi cấy sau khi kết thúc thử nghiệm
Một bệnh nhân bị nhiễm khuẩn được điều trị tại bệnh viện. Bác sĩ tiến hành làm kháng sinh đồ với 5 loại kháng sinh khác nhau (A, B, C, D, E), mỗi loại được thử trên 3 đĩa thạch lặp lại. Kết quả đo đường kính vòng vô khuẩn (mm) được trình bày trong Bảng 1:

Sau khi cấy vi khuẩn và đặt giấy thấm kháng sinh, đĩa thạch được ủ ấm trong khoảng mấy giờ trước khi đo đường kính vòng vô khuẩn.
Chọn 48
Theo bước 6 của quy trình: "Để trong tủ ủ ấm trong 48h."
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đáp án | A | D | D | B | C | B | a | 3 | D | 48 |
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.
Đăng nhập để làm bài