Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
Agarose là một carbohydrate gồm các đơn vị galactose, thường xuất hiện trong thành tế bào của một số loài tảo đỏ và có thể bị phân giải nhờ enzyme agarase. Một sinh viên đã tìm ra một dạng agarase mới, gọi là Agarase X, được sản xuất bởi một loài vi khuẩn. Để xác định điều kiện hoạt động tối ưu của enzyme này, sinh viên đã tiến hành các thí nghiệm nhằm tìm ra mức nhiệt độ và pH tại đó Agarase X thể hiện hoạt tính mạnh nhất.
Thí nghiệm 1:
Sinh viên chuẩn bị ống nghiệm (Ống 1 – 9), mỗi ống chứa: 0,2 mL dung dịch Agarase X, sau đó thêm 0,8 mL dung dịch đệm có các giá trị pH khác nhau, tất cả đều chứa 0,2% agarose. Tất cả ống nghiệm được ủ ở cùng một nhiệt độ cố định 40°C trong 30 phút. Sau đó sinh viên xác định hoạt tính tương đối (%) của Agarase X ở mỗi giá trị pH ( xem Bảng 1 ).
Bảng 1 | ||
Ống nghiệm | pH của dung dịch đệm | Hoạt tính tương đối (%) |
1 | 4,0 | 22 |
2 | 4,5 | 30 |
3 | 5,0 | 45 |
4 | 5,5 | 62 |
5 | 6,0 | 78 |
6 | 6,5 | 90 |
7 | 7,0 | 100 |
8 | 7,5 | 88 |
9 | 8,0 | 65 |
Thí nghiệm 2:
Sinh viên tiếp tục lặp lại toàn bộ quy trình của Thí nghiệm 1, nhưng thay đổi một yếu tố duy nhất: Các ống nghiệm (Ống 10 – 17) đều được thêm cùng một loại dung dịch đệm agarose có pH = 6,5, nồng độ agarose 0,2%. Tuy nhiên, mỗi ống nghiệm được ủ ở một nhiệt độ khác nhau trong 30 phút. Sau thời gian ủ, sinh viên xác định hoạt tính tương đối của Agarase X ở mỗi mức nhiệt độ ( xem bảng 2 ).
Bảng 2 | ||
Ống nghiệm | Nhiệt độ ủ ( ℃ ) | Hoạt tính tương đối (%) |
10 | 20 | 18 |
11 | 25 | 32 |
12 | 30 | 55 |
13 | 35 | 76 |
14 | 40 | 92 |
15 | 45 | 100 |
16 | 50 | 84 |
17 | 55 | 58 |
Thể tích dung dịch Agarase X được thêm vào.
pH của dung dịch đệm agarose.
Nhiệt độ mà các ống được ủ.
Nồng độ agarose trong dung dịch đệm.
Ống và đều dùng đệm có , agarose .
Thể tích Agarase X và thời gian ủ phút cũng giống nhau.
Nhiệt độ ủ của ống là , còn ống là .
Vì vậy, nhiệt độ ủ là điểm khác biệt duy nhất.
Chọn C. A, B, D sai vì thể tích Agarase X, pH dung dịch đệm và nồng độ agarose đều được giữ nguyên.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
Agarose là một carbohydrate gồm các đơn vị galactose, thường xuất hiện trong thành tế bào của một số loài tảo đỏ và có thể bị phân giải nhờ enzyme agarase. Một sinh viên đã tìm ra một dạng agarase mới, gọi là Agarase X, được sản xuất bởi một loài vi khuẩn. Để xác định điều kiện hoạt động tối ưu của enzyme này, sinh viên đã tiến hành các thí nghiệm nhằm tìm ra mức nhiệt độ và pH tại đó Agarase X thể hiện hoạt tính mạnh nhất.
Thí nghiệm 1:
Sinh viên chuẩn bị ống nghiệm (Ống 1 – 9), mỗi ống chứa: 0,2 mL dung dịch Agarase X, sau đó thêm 0,8 mL dung dịch đệm có các giá trị pH khác nhau, tất cả đều chứa 0,2% agarose. Tất cả ống nghiệm được ủ ở cùng một nhiệt độ cố định 40°C trong 30 phút. Sau đó sinh viên xác định hoạt tính tương đối (%) của Agarase X ở mỗi giá trị pH ( xem Bảng 1 ).
Bảng 1 | ||
Ống nghiệm | pH của dung dịch đệm | Hoạt tính tương đối (%) |
1 | 4,0 | 22 |
2 | 4,5 | 30 |
3 | 5,0 | 45 |
4 | 5,5 | 62 |
5 | 6,0 | 78 |
6 | 6,5 | 90 |
7 | 7,0 | 100 |
8 | 7,5 | 88 |
9 | 8,0 | 65 |
Thí nghiệm 2:
Sinh viên tiếp tục lặp lại toàn bộ quy trình của Thí nghiệm 1, nhưng thay đổi một yếu tố duy nhất: Các ống nghiệm (Ống 10 – 17) đều được thêm cùng một loại dung dịch đệm agarose có pH = 6,5, nồng độ agarose 0,2%. Tuy nhiên, mỗi ống nghiệm được ủ ở một nhiệt độ khác nhau trong 30 phút. Sau thời gian ủ, sinh viên xác định hoạt tính tương đối của Agarase X ở mỗi mức nhiệt độ ( xem bảng 2 ).
Bảng 2 | ||
Ống nghiệm | Nhiệt độ ủ ( ℃ ) | Hoạt tính tương đối (%) |
10 | 20 | 18 |
11 | 25 | 32 |
12 | 30 | 55 |
13 | 35 | 76 |
14 | 40 | 92 |
15 | 45 | 100 |
16 | 50 | 84 |
17 | 55 | 58 |
Dưới 20%.
Từ 40% đến 70%.
Từ 70% đến 90%.
Gần 100%.
Bảng cho thấy hoạt tính tăng từ tại lên tại .
Vì vậy, khi giảm xuống dưới , hoạt tính tiếp tục giảm.
Nhiệt độ thấp hơn nên hoạt tính nhỏ hơn .
Do đó, hoạt tính chắc chắn dưới .
Chọn phương án : dưới ; , , sai vì lần lượt dự đoán hoạt tính từ đến , từ đến , và gần , đều trái với xu hướng giảm dưới .
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
Agarose là một carbohydrate gồm các đơn vị galactose, thường xuất hiện trong thành tế bào của một số loài tảo đỏ và có thể bị phân giải nhờ enzyme agarase. Một sinh viên đã tìm ra một dạng agarase mới, gọi là Agarase X, được sản xuất bởi một loài vi khuẩn. Để xác định điều kiện hoạt động tối ưu của enzyme này, sinh viên đã tiến hành các thí nghiệm nhằm tìm ra mức nhiệt độ và pH tại đó Agarase X thể hiện hoạt tính mạnh nhất.
Thí nghiệm 1:
Sinh viên chuẩn bị ống nghiệm (Ống 1 – 9), mỗi ống chứa: 0,2 mL dung dịch Agarase X, sau đó thêm 0,8 mL dung dịch đệm có các giá trị pH khác nhau, tất cả đều chứa 0,2% agarose. Tất cả ống nghiệm được ủ ở cùng một nhiệt độ cố định 40°C trong 30 phút. Sau đó sinh viên xác định hoạt tính tương đối (%) của Agarase X ở mỗi giá trị pH ( xem Bảng 1 ).
Bảng 1 | ||
Ống nghiệm | pH của dung dịch đệm | Hoạt tính tương đối (%) |
1 | 4,0 | 22 |
2 | 4,5 | 30 |
3 | 5,0 | 45 |
4 | 5,5 | 62 |
5 | 6,0 | 78 |
6 | 6,5 | 90 |
7 | 7,0 | 100 |
8 | 7,5 | 88 |
9 | 8,0 | 65 |
Thí nghiệm 2:
Sinh viên tiếp tục lặp lại toàn bộ quy trình của Thí nghiệm 1, nhưng thay đổi một yếu tố duy nhất: Các ống nghiệm (Ống 10 – 17) đều được thêm cùng một loại dung dịch đệm agarose có pH = 6,5, nồng độ agarose 0,2%. Tuy nhiên, mỗi ống nghiệm được ủ ở một nhiệt độ khác nhau trong 30 phút. Sau thời gian ủ, sinh viên xác định hoạt tính tương đối của Agarase X ở mỗi mức nhiệt độ ( xem bảng 2 ).
Bảng 2 | ||
Ống nghiệm | Nhiệt độ ủ ( ℃ ) | Hoạt tính tương đối (%) |
10 | 20 | 18 |
11 | 25 | 32 |
12 | 30 | 55 |
13 | 35 | 76 |
14 | 40 | 92 |
15 | 45 | 100 |
16 | 50 | 84 |
17 | 55 | 58 |
30 °C, pH 5.
45 °C, pH 7.
60 °C, pH 8.
20 °C, pH 4.
Trong Bảng , hoạt tính lớn nhất là tại .
Trong Bảng , hoạt tính lớn nhất là tại .
Chọn B: , . A, C, D sai vì lần lượt không đồng thời đạt cực đại, dùng ngoài dữ liệu và có hoạt tính thấp hơn.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
Agarose là một carbohydrate gồm các đơn vị galactose, thường xuất hiện trong thành tế bào của một số loài tảo đỏ và có thể bị phân giải nhờ enzyme agarase. Một sinh viên đã tìm ra một dạng agarase mới, gọi là Agarase X, được sản xuất bởi một loài vi khuẩn. Để xác định điều kiện hoạt động tối ưu của enzyme này, sinh viên đã tiến hành các thí nghiệm nhằm tìm ra mức nhiệt độ và pH tại đó Agarase X thể hiện hoạt tính mạnh nhất.
Thí nghiệm 1:
Sinh viên chuẩn bị ống nghiệm (Ống 1 – 9), mỗi ống chứa: 0,2 mL dung dịch Agarase X, sau đó thêm 0,8 mL dung dịch đệm có các giá trị pH khác nhau, tất cả đều chứa 0,2% agarose. Tất cả ống nghiệm được ủ ở cùng một nhiệt độ cố định 40°C trong 30 phút. Sau đó sinh viên xác định hoạt tính tương đối (%) của Agarase X ở mỗi giá trị pH ( xem Bảng 1 ).
Bảng 1 | ||
Ống nghiệm | pH của dung dịch đệm | Hoạt tính tương đối (%) |
1 | 4,0 | 22 |
2 | 4,5 | 30 |
3 | 5,0 | 45 |
4 | 5,5 | 62 |
5 | 6,0 | 78 |
6 | 6,5 | 90 |
7 | 7,0 | 100 |
8 | 7,5 | 88 |
9 | 8,0 | 65 |
Thí nghiệm 2:
Sinh viên tiếp tục lặp lại toàn bộ quy trình của Thí nghiệm 1, nhưng thay đổi một yếu tố duy nhất: Các ống nghiệm (Ống 10 – 17) đều được thêm cùng một loại dung dịch đệm agarose có pH = 6,5, nồng độ agarose 0,2%. Tuy nhiên, mỗi ống nghiệm được ủ ở một nhiệt độ khác nhau trong 30 phút. Sau thời gian ủ, sinh viên xác định hoạt tính tương đối của Agarase X ở mỗi mức nhiệt độ ( xem bảng 2 ).
Bảng 2 | ||
Ống nghiệm | Nhiệt độ ủ ( ℃ ) | Hoạt tính tương đối (%) |
10 | 20 | 18 |
11 | 25 | 32 |
12 | 30 | 55 |
13 | 35 | 76 |
14 | 40 | 92 |
15 | 45 | 100 |
16 | 50 | 84 |
17 | 55 | 58 |
Ống 12.
Ống 10.
Ống 16.
Ống 15.
Ống có hoạt tính tương đối nhỏ nhất sẽ còn nhiều agarose nhất.
Trong Thí nghiệm , hoạt tính nhỏ nhất là , thuộc Ống .
Chọn B. A, C, D sai vì các ống , , có hoạt tính lần lượt , , , đều lớn hơn .
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
Agarose là một carbohydrate gồm các đơn vị galactose, thường xuất hiện trong thành tế bào của một số loài tảo đỏ và có thể bị phân giải nhờ enzyme agarase. Một sinh viên đã tìm ra một dạng agarase mới, gọi là Agarase X, được sản xuất bởi một loài vi khuẩn. Để xác định điều kiện hoạt động tối ưu của enzyme này, sinh viên đã tiến hành các thí nghiệm nhằm tìm ra mức nhiệt độ và pH tại đó Agarase X thể hiện hoạt tính mạnh nhất.
Thí nghiệm 1:
Sinh viên chuẩn bị ống nghiệm (Ống 1 – 9), mỗi ống chứa: 0,2 mL dung dịch Agarase X, sau đó thêm 0,8 mL dung dịch đệm có các giá trị pH khác nhau, tất cả đều chứa 0,2% agarose. Tất cả ống nghiệm được ủ ở cùng một nhiệt độ cố định 40°C trong 30 phút. Sau đó sinh viên xác định hoạt tính tương đối (%) của Agarase X ở mỗi giá trị pH ( xem Bảng 1 ).
Bảng 1 | ||
Ống nghiệm | pH của dung dịch đệm | Hoạt tính tương đối (%) |
1 | 4,0 | 22 |
2 | 4,5 | 30 |
3 | 5,0 | 45 |
4 | 5,5 | 62 |
5 | 6,0 | 78 |
6 | 6,5 | 90 |
7 | 7,0 | 100 |
8 | 7,5 | 88 |
9 | 8,0 | 65 |
Thí nghiệm 2:
Sinh viên tiếp tục lặp lại toàn bộ quy trình của Thí nghiệm 1, nhưng thay đổi một yếu tố duy nhất: Các ống nghiệm (Ống 10 – 17) đều được thêm cùng một loại dung dịch đệm agarose có pH = 6,5, nồng độ agarose 0,2%. Tuy nhiên, mỗi ống nghiệm được ủ ở một nhiệt độ khác nhau trong 30 phút. Sau thời gian ủ, sinh viên xác định hoạt tính tương đối của Agarase X ở mỗi mức nhiệt độ ( xem bảng 2 ).
Bảng 2 | ||
Ống nghiệm | Nhiệt độ ủ ( ℃ ) | Hoạt tính tương đối (%) |
10 | 20 | 18 |
11 | 25 | 32 |
12 | 30 | 55 |
13 | 35 | 76 |
14 | 40 | 92 |
15 | 45 | 100 |
16 | 50 | 84 |
17 | 55 | 58 |
Nếu một ion kim loại nặng làm giảm hoạt tính của Agarase X xuống còn 50% tại 45 °C và pH 7, thì ở 60 °C hoạt tính chắc chắn cũng bị giảm ít nhất 50%.
Đúng.
Sai.
Tại và pH , ion kim loại làm hoạt tính còn .
Điều này chỉ kết luận mức giảm tại đúng điều kiện và pH .
Bảng chỉ khảo sát đến , không có dữ liệu tại .
Đề cũng không cho quy luật hoạt tính hoặc mức ảnh hưởng của ion ở nhiệt độ cao hơn.
Phương án B đúng; A sai vì khẳng định mức giảm ít nhất tại khi chưa đủ dữ liệu.
Không thể suy ra chắc chắn mức ảnh hưởng của ion ở nhiệt độ này.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
Agarose là một carbohydrate gồm các đơn vị galactose, thường xuất hiện trong thành tế bào của một số loài tảo đỏ và có thể bị phân giải nhờ enzyme agarase. Một sinh viên đã tìm ra một dạng agarase mới, gọi là Agarase X, được sản xuất bởi một loài vi khuẩn. Để xác định điều kiện hoạt động tối ưu của enzyme này, sinh viên đã tiến hành các thí nghiệm nhằm tìm ra mức nhiệt độ và pH tại đó Agarase X thể hiện hoạt tính mạnh nhất.
Thí nghiệm 1:
Sinh viên chuẩn bị ống nghiệm (Ống 1 – 9), mỗi ống chứa: 0,2 mL dung dịch Agarase X, sau đó thêm 0,8 mL dung dịch đệm có các giá trị pH khác nhau, tất cả đều chứa 0,2% agarose. Tất cả ống nghiệm được ủ ở cùng một nhiệt độ cố định 40°C trong 30 phút. Sau đó sinh viên xác định hoạt tính tương đối (%) của Agarase X ở mỗi giá trị pH ( xem Bảng 1 ).
Bảng 1 | ||
Ống nghiệm | pH của dung dịch đệm | Hoạt tính tương đối (%) |
1 | 4,0 | 22 |
2 | 4,5 | 30 |
3 | 5,0 | 45 |
4 | 5,5 | 62 |
5 | 6,0 | 78 |
6 | 6,5 | 90 |
7 | 7,0 | 100 |
8 | 7,5 | 88 |
9 | 8,0 | 65 |
Thí nghiệm 2:
Sinh viên tiếp tục lặp lại toàn bộ quy trình của Thí nghiệm 1, nhưng thay đổi một yếu tố duy nhất: Các ống nghiệm (Ống 10 – 17) đều được thêm cùng một loại dung dịch đệm agarose có pH = 6,5, nồng độ agarose 0,2%. Tuy nhiên, mỗi ống nghiệm được ủ ở một nhiệt độ khác nhau trong 30 phút. Sau thời gian ủ, sinh viên xác định hoạt tính tương đối của Agarase X ở mỗi mức nhiệt độ ( xem bảng 2 ).
Bảng 2 | ||
Ống nghiệm | Nhiệt độ ủ ( ℃ ) | Hoạt tính tương đối (%) |
10 | 20 | 18 |
11 | 25 | 32 |
12 | 30 | 55 |
13 | 35 | 76 |
14 | 40 | 92 |
15 | 45 | 100 |
16 | 50 | 84 |
17 | 55 | 58 |
Agarose là một polysaccharide được chiết xuất từ [[____]], có cấu trúc gồm các đơn vị galactose. Khi bị phân giải bởi agarase, agarose tạo thành các oligosaccharides, với kích thước phụ thuộc vào điều kiện pH và nhiệt độ. Hoạt tính của enzyme còn có thể bị cản trở bởi ion kim loại nặng trong môi trường.
Trong Thí nghiệm 1 và 2, Agarase X hoạt động mạnh nhất ở khoảng [[____]] °C và pH [[____]].
Agarose được chiết xuất từ thành tế bào của một số loài tảo đỏ.
Ở Thí nghiệm 1, hoạt tính lớn nhất là tại pH .
Ở Thí nghiệm 2, hoạt tính lớn nhất là tại .
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
Trong máy đo màu (colorimeter), ánh sáng có bước sóng xác định được truyền qua một mẫu dung dịch trước khi đi đến bộ dò. Nếu dung dịch chứa các chất hấp thụ ánh sáng ở bước sóng đó, một phần ánh sáng sẽ bị giữ lại và không tới được detector. Mức độ hấp thụ ánh sáng phản ánh lượng ánh sáng bị giảm và vì thế liên hệ trực tiếp với nồng độ của chất hấp thụ trong dung dịch.
Bản thân ion sắt hòa tan (Fe) không hấp thụ ánh sáng nhìn thấy. Tuy nhiên, khi nhỏ một loại dung dịch chỉ thị đặc biệt vào dung dịch chứa Fe³⁺, ion này sẽ tạo phức Fe(SCN)₆³⁻ – một phức chất có khả năng hấp thụ ánh sáng màu xanh. Nhờ đó, người ta có thể dùng đo màu để khảo sát nồng độ sắt. Các thí nghiệm đã được tiến hành để đánh giá ảnh hưởng của quá trình đun sôi và đóng hộp đối với hàm lượng Fe trong hạt đậu.
Thí nghiệm 1:
Một loạt các mẫu Fe trong đậu đã được chiết bằng cách nghiền 10 g đậu và hòa tan trong 100 mL nước cất. Sau khi lọc, lấy 50 mL dung dịch chiết được và thêm 10 mL dung dịch chỉ thị SCN⁻ để tạo phức Fe(SCN)₆³⁻. Tất cả mẫu được để phản ứng hoàn toàn trong 10 phút. Độ hấp thụ ánh sáng xanh của từng mẫu sau đó được đo bằng máy đo màu để xác định nồng độ Fe còn lại sau quá trình xử lý.

Thí nghiệm 2:
Hạt đậu (đã sấy khô) được cân lấy 5 g và hòa tan bằng phương pháp tro ướt (wet-ashing) sử dụng hỗn hợp HNO₃–H₂O₂. Sau khi dung dịch trở nên trong suốt và không còn chất rắn, dung dịch được làm nguội và chuyển vào bình định mức 100 mL. Tiếp theo, thêm 20 mL dung dịch chỉ thị SCN⁻ để tạo phức Fe(SCN)₆³⁻. Dung dịch được để yên 5 phút rồi đo độ hấp thụ bằng máy đo màu. Từ đồ thị chuẩn (Hình 1), nồng độ Fe trong dung dịch được xác định. Cuối cùng, hàm lượng Fe trong mẫu đậu được tính ra đơn vị mg Fe / 100 g đậu khô. Quy trình được lặp lại cho nhiều loại đậu khác nhau để so sánh hàm lượng Fe ( xem bảng 1 ).

Tươi: 12.4; luộc: 14.8; đóng hộp: 9.6.
Tươi: 12.4; luộc: 9.6; đóng hộp: 14.8.
Tươi: 14.8; luộc: 12.4; đóng hộp: 9.6.
Tươi: 9.6; luộc: 12.4; đóng hộp: 14.8.
Giá trị sau luộc phải lớn hơn giá trị tươi; giá trị đóng hộp phải nhỏ hơn.
Trong ba số , , , thứ tự giảm dần là .
Chọn A: tươi , luộc , đóng hộp . B, C, D sai vì lần lượt đảo xu hướng luộc–đóng hộp, làm luộc giảm, và làm đóng hộp tăng.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
Trong máy đo màu (colorimeter), ánh sáng có bước sóng xác định được truyền qua một mẫu dung dịch trước khi đi đến bộ dò. Nếu dung dịch chứa các chất hấp thụ ánh sáng ở bước sóng đó, một phần ánh sáng sẽ bị giữ lại và không tới được detector. Mức độ hấp thụ ánh sáng phản ánh lượng ánh sáng bị giảm và vì thế liên hệ trực tiếp với nồng độ của chất hấp thụ trong dung dịch.
Bản thân ion sắt hòa tan (Fe) không hấp thụ ánh sáng nhìn thấy. Tuy nhiên, khi nhỏ một loại dung dịch chỉ thị đặc biệt vào dung dịch chứa Fe³⁺, ion này sẽ tạo phức Fe(SCN)₆³⁻ – một phức chất có khả năng hấp thụ ánh sáng màu xanh. Nhờ đó, người ta có thể dùng đo màu để khảo sát nồng độ sắt. Các thí nghiệm đã được tiến hành để đánh giá ảnh hưởng của quá trình đun sôi và đóng hộp đối với hàm lượng Fe trong hạt đậu.
Thí nghiệm 1:
Một loạt các mẫu Fe trong đậu đã được chiết bằng cách nghiền 10 g đậu và hòa tan trong 100 mL nước cất. Sau khi lọc, lấy 50 mL dung dịch chiết được và thêm 10 mL dung dịch chỉ thị SCN⁻ để tạo phức Fe(SCN)₆³⁻. Tất cả mẫu được để phản ứng hoàn toàn trong 10 phút. Độ hấp thụ ánh sáng xanh của từng mẫu sau đó được đo bằng máy đo màu để xác định nồng độ Fe còn lại sau quá trình xử lý.

Thí nghiệm 2:
Hạt đậu (đã sấy khô) được cân lấy 5 g và hòa tan bằng phương pháp tro ướt (wet-ashing) sử dụng hỗn hợp HNO₃–H₂O₂. Sau khi dung dịch trở nên trong suốt và không còn chất rắn, dung dịch được làm nguội và chuyển vào bình định mức 100 mL. Tiếp theo, thêm 20 mL dung dịch chỉ thị SCN⁻ để tạo phức Fe(SCN)₆³⁻. Dung dịch được để yên 5 phút rồi đo độ hấp thụ bằng máy đo màu. Từ đồ thị chuẩn (Hình 1), nồng độ Fe trong dung dịch được xác định. Cuối cùng, hàm lượng Fe trong mẫu đậu được tính ra đơn vị mg Fe / 100 g đậu khô. Quy trình được lặp lại cho nhiều loại đậu khác nhau để so sánh hàm lượng Fe ( xem bảng 1 ).

< 4 mg/L
Từ 4–6 mg/L
Từ 6–8 mg/L
> 8 mg/L
Vì tăng tuyến tính theo , mẫu có sẽ ứng với nồng độ lớn khi độ hấp thụ cao.
Trên đường chuẩn, độ hấp thụ nằm cao hơn mức ứng với .
Chọn : ; , , sai vì lần lượt giới hạn nồng độ không vượt quá .
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
Trong máy đo màu (colorimeter), ánh sáng có bước sóng xác định được truyền qua một mẫu dung dịch trước khi đi đến bộ dò. Nếu dung dịch chứa các chất hấp thụ ánh sáng ở bước sóng đó, một phần ánh sáng sẽ bị giữ lại và không tới được detector. Mức độ hấp thụ ánh sáng phản ánh lượng ánh sáng bị giảm và vì thế liên hệ trực tiếp với nồng độ của chất hấp thụ trong dung dịch.
Bản thân ion sắt hòa tan (Fe) không hấp thụ ánh sáng nhìn thấy. Tuy nhiên, khi nhỏ một loại dung dịch chỉ thị đặc biệt vào dung dịch chứa Fe³⁺, ion này sẽ tạo phức Fe(SCN)₆³⁻ – một phức chất có khả năng hấp thụ ánh sáng màu xanh. Nhờ đó, người ta có thể dùng đo màu để khảo sát nồng độ sắt. Các thí nghiệm đã được tiến hành để đánh giá ảnh hưởng của quá trình đun sôi và đóng hộp đối với hàm lượng Fe trong hạt đậu.
Thí nghiệm 1:
Một loạt các mẫu Fe trong đậu đã được chiết bằng cách nghiền 10 g đậu và hòa tan trong 100 mL nước cất. Sau khi lọc, lấy 50 mL dung dịch chiết được và thêm 10 mL dung dịch chỉ thị SCN⁻ để tạo phức Fe(SCN)₆³⁻. Tất cả mẫu được để phản ứng hoàn toàn trong 10 phút. Độ hấp thụ ánh sáng xanh của từng mẫu sau đó được đo bằng máy đo màu để xác định nồng độ Fe còn lại sau quá trình xử lý.

Thí nghiệm 2:
Hạt đậu (đã sấy khô) được cân lấy 5 g và hòa tan bằng phương pháp tro ướt (wet-ashing) sử dụng hỗn hợp HNO₃–H₂O₂. Sau khi dung dịch trở nên trong suốt và không còn chất rắn, dung dịch được làm nguội và chuyển vào bình định mức 100 mL. Tiếp theo, thêm 20 mL dung dịch chỉ thị SCN⁻ để tạo phức Fe(SCN)₆³⁻. Dung dịch được để yên 5 phút rồi đo độ hấp thụ bằng máy đo màu. Từ đồ thị chuẩn (Hình 1), nồng độ Fe trong dung dịch được xác định. Cuối cùng, hàm lượng Fe trong mẫu đậu được tính ra đơn vị mg Fe / 100 g đậu khô. Quy trình được lặp lại cho nhiều loại đậu khác nhau để so sánh hàm lượng Fe ( xem bảng 1 ).

Nếu dung dịch chiết từ đậu lima có nồng độ Fe đo được là 0,72 mg/L, thì hàm lượng Fe trong đậu là [[____]] (5 g mẫu → 100 mL dung dịch)?
Khối lượng Fe có trong dung dịch được tính từ nồng độ và thể tích.
Lượng ứng với mẫu , nên quy đổi theo tỉ lệ khối lượng.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
Trong máy đo màu (colorimeter), ánh sáng có bước sóng xác định được truyền qua một mẫu dung dịch trước khi đi đến bộ dò. Nếu dung dịch chứa các chất hấp thụ ánh sáng ở bước sóng đó, một phần ánh sáng sẽ bị giữ lại và không tới được detector. Mức độ hấp thụ ánh sáng phản ánh lượng ánh sáng bị giảm và vì thế liên hệ trực tiếp với nồng độ của chất hấp thụ trong dung dịch.
Bản thân ion sắt hòa tan (Fe) không hấp thụ ánh sáng nhìn thấy. Tuy nhiên, khi nhỏ một loại dung dịch chỉ thị đặc biệt vào dung dịch chứa Fe³⁺, ion này sẽ tạo phức Fe(SCN)₆³⁻ – một phức chất có khả năng hấp thụ ánh sáng màu xanh. Nhờ đó, người ta có thể dùng đo màu để khảo sát nồng độ sắt. Các thí nghiệm đã được tiến hành để đánh giá ảnh hưởng của quá trình đun sôi và đóng hộp đối với hàm lượng Fe trong hạt đậu.
Thí nghiệm 1:
Một loạt các mẫu Fe trong đậu đã được chiết bằng cách nghiền 10 g đậu và hòa tan trong 100 mL nước cất. Sau khi lọc, lấy 50 mL dung dịch chiết được và thêm 10 mL dung dịch chỉ thị SCN⁻ để tạo phức Fe(SCN)₆³⁻. Tất cả mẫu được để phản ứng hoàn toàn trong 10 phút. Độ hấp thụ ánh sáng xanh của từng mẫu sau đó được đo bằng máy đo màu để xác định nồng độ Fe còn lại sau quá trình xử lý.

Thí nghiệm 2:
Hạt đậu (đã sấy khô) được cân lấy 5 g và hòa tan bằng phương pháp tro ướt (wet-ashing) sử dụng hỗn hợp HNO₃–H₂O₂. Sau khi dung dịch trở nên trong suốt và không còn chất rắn, dung dịch được làm nguội và chuyển vào bình định mức 100 mL. Tiếp theo, thêm 20 mL dung dịch chỉ thị SCN⁻ để tạo phức Fe(SCN)₆³⁻. Dung dịch được để yên 5 phút rồi đo độ hấp thụ bằng máy đo màu. Từ đồ thị chuẩn (Hình 1), nồng độ Fe trong dung dịch được xác định. Cuối cùng, hàm lượng Fe trong mẫu đậu được tính ra đơn vị mg Fe / 100 g đậu khô. Quy trình được lặp lại cho nhiều loại đậu khác nhau để so sánh hàm lượng Fe ( xem bảng 1 ).

Để điều chỉnh pH dung dịch.
Để xác định lượng nước mất đi khi đun.
Để tạo phức hấp thụ ánh sáng với Fe³⁺.
Để giảm nồng độ Fe trong dung dịch.
Câu này chưa có lời giải.
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đáp án | C | A | B | B | A | B | tảo đỏ; 45; 7,0 | A | D | 1,44 |
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 38 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.
Đăng nhập để làm bài