Đáp án & lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử TSA Môn Sinh học 2027 - Đề số 25

Đánh giá Tư duy (TSA)Môn Tư duy khoa học - Sinh họcNăm 202713 câuChuẩn GDPT mới

Phần I

Câu 1

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:

PHƯƠNG PHÁP NHUỘM GRAM

Kỹ thuật nhuộm Gram (được đặt tên theo Hans Christian Gram, nhà vi khuẩn học người Đan Mạch) gồm nhiều bước nhuộm tế bào vi khuẩn bằng các loại hóa chất khác nhau để phân biệt hai nhóm vi khuẩn là Gram dương (+) và Gram âm (–). Các bước thực hiện được mô tả ở Hình 1.

Hình minh họa

Hình 1. Các bước nhuộm Gram

Cơ sở khoa học của phương pháp nhuộm Gram là sự khác biệt về cấu tạo vách tế bào của vi khuẩn, cụ thể:

– Vi khuẩn Gram dương có lớp vách peptidoglycan dày, dạng lưới, có khả năng bắt màu tím của thuốc nhuộm tím Violet – Iodine kết tinh. Vì lớp vách dày nên việc tẩy cồn khó khăn hơn, do đó vi khuẩn giữ được màu tím của phức hợp Violet – Iodine.

– Vi khuẩn Gram âm có lớp vách peptidoglycan mỏng hơn và có thêm lớp màng lipopolysaccharide ở phía ngoài. Khi tẩy cồn, cồn hòa tan lớp màng này, đồng thời lớp vách mỏng bị tẩy dễ dàng nên vi khuẩn không giữ được màu tím mà bắt màu thuốc nhuộm sau là dung dịch Fuchsin kiềm.

Hình minh họa

Một nhóm sinh viên đã tiến hành một thí nghiệm đo độ dày lớp peptidoglycan của bốn loài vi khuẩn để phân biệt các loài này. Kết quả ghi ở Bảng 1.

Bảng 1. Kết quả đo độ dày lớp peptidoglycan của một số loài vi khuẩn

Loài vi khuẩn Độ dày của lớp peptidoglycan (nm)
1 9
2 11
3 28
4 8

 

Quan sát Hình 1: sau bước rửa bằng cồn, vi khuẩn (1) vẫn giữ màu tím còn vi khuẩn (2) mất màu rồi mới bắt màu hồng ở bước nhuộm Fuchsin. Vì vậy, vi khuẩn (1) thuộc nhóm [1]_____ và vi khuẩn (2) thuộc nhóm [2]_____.

A
Vi khuẩn Gram âm
B
Vi khuẩn Gram dương
C
Vi khuẩn không có vách tế bào
Đáp án đúng: Vi khuẩn Gram dương — Vi khuẩn Gram âm

Lời giải

[1] = Vi khuẩn Gram dương (B): sau bước rửa cồn vẫn giữ được màu tím của phức hợp Violet – Iodine, cuối cùng vẫn có màu tím.

[2] = Vi khuẩn Gram âm (A): bị cồn tẩy mất màu tím (trở nên không màu), sau đó bắt màu hồng của thuốc nhuộm Fuchsin.

Chip C không dùng: cả hai vi khuẩn trong Hình 1 đều có vách tế bào và đều bắt màu ở các bước đầu.

Câu 2

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:

PHƯƠNG PHÁP NHUỘM GRAM

Kỹ thuật nhuộm Gram (được đặt tên theo Hans Christian Gram, nhà vi khuẩn học người Đan Mạch) gồm nhiều bước nhuộm tế bào vi khuẩn bằng các loại hóa chất khác nhau để phân biệt hai nhóm vi khuẩn là Gram dương (+) và Gram âm (–). Các bước thực hiện được mô tả ở Hình 1.

Hình minh họa

Hình 1. Các bước nhuộm Gram

Cơ sở khoa học của phương pháp nhuộm Gram là sự khác biệt về cấu tạo vách tế bào của vi khuẩn, cụ thể:

– Vi khuẩn Gram dương có lớp vách peptidoglycan dày, dạng lưới, có khả năng bắt màu tím của thuốc nhuộm tím Violet – Iodine kết tinh. Vì lớp vách dày nên việc tẩy cồn khó khăn hơn, do đó vi khuẩn giữ được màu tím của phức hợp Violet – Iodine.

– Vi khuẩn Gram âm có lớp vách peptidoglycan mỏng hơn và có thêm lớp màng lipopolysaccharide ở phía ngoài. Khi tẩy cồn, cồn hòa tan lớp màng này, đồng thời lớp vách mỏng bị tẩy dễ dàng nên vi khuẩn không giữ được màu tím mà bắt màu thuốc nhuộm sau là dung dịch Fuchsin kiềm.

Hình minh họa

Một nhóm sinh viên đã tiến hành một thí nghiệm đo độ dày lớp peptidoglycan của bốn loài vi khuẩn để phân biệt các loài này. Kết quả ghi ở Bảng 1.

Bảng 1. Kết quả đo độ dày lớp peptidoglycan của một số loài vi khuẩn

Loài vi khuẩn Độ dày của lớp peptidoglycan (nm)
1 9
2 11
3 28
4 8

 

Ở vi khuẩn Gram dương, lớp cấu trúc nào của vách tế bào dày, dạng lưới và giữ lại phức hợp màu tím Violet – Iodine sau khi tẩy cồn?

(Viết tên một lớp cấu trúc của vách tế bào.)

Đáp án đúng: peptidoglycan

Lời giải

Đáp án: peptidoglycan

Theo văn bản, vi khuẩn Gram dương có lớp vách peptidoglycan dày, dạng lưới, có khả năng bắt màu tím của phức hợp Violet – Iodine và giữ lại được màu này khi tẩy cồn ⇒ lớp cần điền là peptidoglycan.

Câu 3

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:

PHƯƠNG PHÁP NHUỘM GRAM

Kỹ thuật nhuộm Gram (được đặt tên theo Hans Christian Gram, nhà vi khuẩn học người Đan Mạch) gồm nhiều bước nhuộm tế bào vi khuẩn bằng các loại hóa chất khác nhau để phân biệt hai nhóm vi khuẩn là Gram dương (+) và Gram âm (–). Các bước thực hiện được mô tả ở Hình 1.

Hình minh họa

Hình 1. Các bước nhuộm Gram

Cơ sở khoa học của phương pháp nhuộm Gram là sự khác biệt về cấu tạo vách tế bào của vi khuẩn, cụ thể:

– Vi khuẩn Gram dương có lớp vách peptidoglycan dày, dạng lưới, có khả năng bắt màu tím của thuốc nhuộm tím Violet – Iodine kết tinh. Vì lớp vách dày nên việc tẩy cồn khó khăn hơn, do đó vi khuẩn giữ được màu tím của phức hợp Violet – Iodine.

– Vi khuẩn Gram âm có lớp vách peptidoglycan mỏng hơn và có thêm lớp màng lipopolysaccharide ở phía ngoài. Khi tẩy cồn, cồn hòa tan lớp màng này, đồng thời lớp vách mỏng bị tẩy dễ dàng nên vi khuẩn không giữ được màu tím mà bắt màu thuốc nhuộm sau là dung dịch Fuchsin kiềm.

Hình minh họa

Một nhóm sinh viên đã tiến hành một thí nghiệm đo độ dày lớp peptidoglycan của bốn loài vi khuẩn để phân biệt các loài này. Kết quả ghi ở Bảng 1.

Bảng 1. Kết quả đo độ dày lớp peptidoglycan của một số loài vi khuẩn

Loài vi khuẩn Độ dày của lớp peptidoglycan (nm)
1 9
2 11
3 28
4 8

 

Phẩy khuẩn tả (Vibrio cholerae) là một vi khuẩn Gram âm. Sau khi nhuộm Gram hoàn chỉnh, tế bào của vi khuẩn này sẽ có màu nào dưới kính hiển vi?

A
Màu tím.
B
Màu hồng.
C
Màu xanh.
D
Không bắt màu.

Lời giải

Chọn B

Vi khuẩn Gram âm có lớp peptidoglycan mỏng, khi tẩy cồn thì bị mất màu tím, sau đó bắt màu hồng của dung dịch Fuchsin ⇒ tế bào có màu hồng.

Câu 4

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:

PHƯƠNG PHÁP NHUỘM GRAM

Kỹ thuật nhuộm Gram (được đặt tên theo Hans Christian Gram, nhà vi khuẩn học người Đan Mạch) gồm nhiều bước nhuộm tế bào vi khuẩn bằng các loại hóa chất khác nhau để phân biệt hai nhóm vi khuẩn là Gram dương (+) và Gram âm (–). Các bước thực hiện được mô tả ở Hình 1.

Hình minh họa

Hình 1. Các bước nhuộm Gram

Cơ sở khoa học của phương pháp nhuộm Gram là sự khác biệt về cấu tạo vách tế bào của vi khuẩn, cụ thể:

– Vi khuẩn Gram dương có lớp vách peptidoglycan dày, dạng lưới, có khả năng bắt màu tím của thuốc nhuộm tím Violet – Iodine kết tinh. Vì lớp vách dày nên việc tẩy cồn khó khăn hơn, do đó vi khuẩn giữ được màu tím của phức hợp Violet – Iodine.

– Vi khuẩn Gram âm có lớp vách peptidoglycan mỏng hơn và có thêm lớp màng lipopolysaccharide ở phía ngoài. Khi tẩy cồn, cồn hòa tan lớp màng này, đồng thời lớp vách mỏng bị tẩy dễ dàng nên vi khuẩn không giữ được màu tím mà bắt màu thuốc nhuộm sau là dung dịch Fuchsin kiềm.

Hình minh họa

Một nhóm sinh viên đã tiến hành một thí nghiệm đo độ dày lớp peptidoglycan của bốn loài vi khuẩn để phân biệt các loài này. Kết quả ghi ở Bảng 1.

Bảng 1. Kết quả đo độ dày lớp peptidoglycan của một số loài vi khuẩn

Loài vi khuẩn Độ dày của lớp peptidoglycan (nm)
1 9
2 11
3 28
4 8

 

Các nhà nghiên cứu đo độ dày lớp peptidoglycan ở bốn loài vi khuẩn như Bảng 1. Dựa vào kết quả này, những loài nào có thể là vi khuẩn Gram âm?

A
Loài 1, 2, 3.
B
Loài 1, 2, 4.
C
Loài 2, 3, 4.
D
Loài 1, 3, 4.

Lời giải

Chọn B

Vi khuẩn Gram âm có lớp peptidoglycan mỏng, vi khuẩn Gram dương có lớp peptidoglycan dày hơn nhiều.

Bảng 1: loài 1 (9 nm), loài 2 (11 nm), loài 4 (8 nm) đều mỏng ⇒ có thể là Gram âm; loài 3 (28 nm) dày hơn hẳn ⇒ có thể là Gram dương ⇒ chọn B.

Câu 5

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:

PHƯƠNG PHÁP NHUỘM GRAM

Kỹ thuật nhuộm Gram (được đặt tên theo Hans Christian Gram, nhà vi khuẩn học người Đan Mạch) gồm nhiều bước nhuộm tế bào vi khuẩn bằng các loại hóa chất khác nhau để phân biệt hai nhóm vi khuẩn là Gram dương (+) và Gram âm (–). Các bước thực hiện được mô tả ở Hình 1.

Hình minh họa

Hình 1. Các bước nhuộm Gram

Cơ sở khoa học của phương pháp nhuộm Gram là sự khác biệt về cấu tạo vách tế bào của vi khuẩn, cụ thể:

– Vi khuẩn Gram dương có lớp vách peptidoglycan dày, dạng lưới, có khả năng bắt màu tím của thuốc nhuộm tím Violet – Iodine kết tinh. Vì lớp vách dày nên việc tẩy cồn khó khăn hơn, do đó vi khuẩn giữ được màu tím của phức hợp Violet – Iodine.

– Vi khuẩn Gram âm có lớp vách peptidoglycan mỏng hơn và có thêm lớp màng lipopolysaccharide ở phía ngoài. Khi tẩy cồn, cồn hòa tan lớp màng này, đồng thời lớp vách mỏng bị tẩy dễ dàng nên vi khuẩn không giữ được màu tím mà bắt màu thuốc nhuộm sau là dung dịch Fuchsin kiềm.

Hình minh họa

Một nhóm sinh viên đã tiến hành một thí nghiệm đo độ dày lớp peptidoglycan của bốn loài vi khuẩn để phân biệt các loài này. Kết quả ghi ở Bảng 1.

Bảng 1. Kết quả đo độ dày lớp peptidoglycan của một số loài vi khuẩn

Loài vi khuẩn Độ dày của lớp peptidoglycan (nm)
1 9
2 11
3 28
4 8

 

Phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) là vi khuẩn có thể gây viêm phổi, viêm tai giữa và viêm màng não. Khi nhuộm Gram, tế bào của chúng bắt màu tím. Theo em, vi khuẩn này có thể tương ứng với loài nào trong Bảng 1?

A
Loài 1.
B
Loài 2.
C
Loài 3.
D
Loài 4.

Lời giải

Chọn C

Bắt màu tím khi nhuộm Gram ⇒ vi khuẩn Gram dương ⇒ có lớp peptidoglycan dày. Trong Bảng 1 chỉ có loài 3 (28 nm) có lớp peptidoglycan dày hơn hẳn các loài còn lại ⇒ chọn C.

Câu 6

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:

PHƯƠNG PHÁP NHUỘM GRAM

Kỹ thuật nhuộm Gram (được đặt tên theo Hans Christian Gram, nhà vi khuẩn học người Đan Mạch) gồm nhiều bước nhuộm tế bào vi khuẩn bằng các loại hóa chất khác nhau để phân biệt hai nhóm vi khuẩn là Gram dương (+) và Gram âm (–). Các bước thực hiện được mô tả ở Hình 1.

Hình minh họa

Hình 1. Các bước nhuộm Gram

Cơ sở khoa học của phương pháp nhuộm Gram là sự khác biệt về cấu tạo vách tế bào của vi khuẩn, cụ thể:

– Vi khuẩn Gram dương có lớp vách peptidoglycan dày, dạng lưới, có khả năng bắt màu tím của thuốc nhuộm tím Violet – Iodine kết tinh. Vì lớp vách dày nên việc tẩy cồn khó khăn hơn, do đó vi khuẩn giữ được màu tím của phức hợp Violet – Iodine.

– Vi khuẩn Gram âm có lớp vách peptidoglycan mỏng hơn và có thêm lớp màng lipopolysaccharide ở phía ngoài. Khi tẩy cồn, cồn hòa tan lớp màng này, đồng thời lớp vách mỏng bị tẩy dễ dàng nên vi khuẩn không giữ được màu tím mà bắt màu thuốc nhuộm sau là dung dịch Fuchsin kiềm.

Hình minh họa

Một nhóm sinh viên đã tiến hành một thí nghiệm đo độ dày lớp peptidoglycan của bốn loài vi khuẩn để phân biệt các loài này. Kết quả ghi ở Bảng 1.

Bảng 1. Kết quả đo độ dày lớp peptidoglycan của một số loài vi khuẩn

Loài vi khuẩn Độ dày của lớp peptidoglycan (nm)
1 9
2 11
3 28
4 8

 

Penicillin tác động bằng cách phá hủy lớp peptidoglycan của vách tế bào vi khuẩn đang phát triển. Loại thuốc kháng sinh này có khả năng ức chế hiệu quả nhất trên loài vi khuẩn nào trong Bảng 1?

A
Loài 1.
B
Loài 2.
C
Loài 3.
D
Loài 4.

Lời giải

Chọn C

Penicillin phá peptidoglycan nên có tác dụng mạnh nhất lên loài phụ thuộc nhiều vào lớp này, tức loài có peptidoglycan dày nhất là loài 3 (28 nm, Gram dương). Ở Gram dương lớp peptidoglycan nằm phía ngoài, không bị màng ngoài che chắn nên thuốc dễ tiếp cận.

Các loài 1, 2, 4 là Gram âm có peptidoglycan mỏng và có thêm lớp màng ngoài lipopolysaccharide bảo vệ nên penicillin kém hiệu quả hơn.

Câu 7

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 7:

PHƯƠNG PHÁP NHUỘM GRAM

Kỹ thuật nhuộm Gram (được đặt tên theo Hans Christian Gram, nhà vi khuẩn học người Đan Mạch) gồm nhiều bước nhuộm tế bào vi khuẩn bằng các loại hóa chất khác nhau để phân biệt hai nhóm vi khuẩn là Gram dương (+) và Gram âm (–). Các bước thực hiện được mô tả ở Hình 1.

Hình minh họa

Hình 1. Các bước nhuộm Gram

Cơ sở khoa học của phương pháp nhuộm Gram là sự khác biệt về cấu tạo vách tế bào của vi khuẩn, cụ thể:

– Vi khuẩn Gram dương có lớp vách peptidoglycan dày, dạng lưới, có khả năng bắt màu tím của thuốc nhuộm tím Violet – Iodine kết tinh. Vì lớp vách dày nên việc tẩy cồn khó khăn hơn, do đó vi khuẩn giữ được màu tím của phức hợp Violet – Iodine.

– Vi khuẩn Gram âm có lớp vách peptidoglycan mỏng hơn và có thêm lớp màng lipopolysaccharide ở phía ngoài. Khi tẩy cồn, cồn hòa tan lớp màng này, đồng thời lớp vách mỏng bị tẩy dễ dàng nên vi khuẩn không giữ được màu tím mà bắt màu thuốc nhuộm sau là dung dịch Fuchsin kiềm.

Hình minh họa

Một nhóm sinh viên đã tiến hành một thí nghiệm đo độ dày lớp peptidoglycan của bốn loài vi khuẩn để phân biệt các loài này. Kết quả ghi ở Bảng 1.

Bảng 1. Kết quả đo độ dày lớp peptidoglycan của một số loài vi khuẩn

Loài vi khuẩn Độ dày của lớp peptidoglycan (nm)
1 9
2 11
3 28
4 8

 

Một học sinh làm tiêu bản nhuộm Gram nhưng quên mất bước rửa bằng cồn. Sau khi nhuộm Fuchsin xong, kết quả quan sát nhiều khả năng nhất là gì?

A
Vi khuẩn Gram dương mất màu tím còn vi khuẩn Gram âm có màu hồng.
B
Cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm đều giữ màu tím nên không phân biệt được hai nhóm.
C
Cả hai nhóm vi khuẩn đều có màu hồng.
D
Vi khuẩn Gram âm có màu tím còn vi khuẩn Gram dương có màu hồng.

Lời giải

Chọn B

Theo Hình 1, ở cả hai loại vi khuẩn, sau các bước nhuộm Violet và Iodine, tế bào đều có màu tím. Chính bước rửa bằng cồn mới làm vi khuẩn Gram âm mất màu tím (rồi bắt màu hồng ở bước Fuchsin).

Nếu bỏ bước này, vi khuẩn Gram âm không bị tẩy màu nên vẫn giữ màu tím như vi khuẩn Gram dương ⇒ không phân biệt được hai nhóm ⇒ chọn B.

Câu 8

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 8 đến 13:

KHÁNG SINH ĐỒ

Để tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ kháng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn, bác sĩ sử dụng phương pháp thử và tìm loại kháng sinh hiệu quả nhất với loại vi khuẩn mà người bệnh đang nhiễm. Phương pháp này gọi là kháng sinh đồ. Quy trình thực hiện gồm các bước:

Bước 1: Lấy mẫu bệnh phẩm có chứa vi khuẩn của người bệnh.

Bước 2: Cấy vi khuẩn thu được lên 3 đĩa thạch dinh dưỡng.

Bước 3: Bác sĩ xác định các loại thuốc kháng sinh có thể dùng để điều trị.

Bước 4: Dùng giấy thấm tẩm các loại thuốc kháng sinh với nồng độ đã xác định.

Bước 5: Đặt các giấy thấm lên đĩa thạch với khoảng cách đều nhau.

Bước 6: Để các đĩa trong tủ ấm trong 24 – 48 giờ.

Bước 7: Đo đường kính của từng vòng vô khuẩn (như minh họa ở Hình 2).

Hình minh họa

Hình 2. Đĩa thạch kháng sinh đồ (minh họa)

Một người bị nhiễm khuẩn điều trị tại bệnh viện, bác sĩ làm kháng sinh đồ và thu được kết quả ở Bảng 2.

Bảng 2. Đường kính vòng vô khuẩn của từng loại kháng sinh

Loại kháng sinh Đường kính vòng vô khuẩn (mm)
  Đĩa thạch 1 Đĩa thạch 2 Đĩa thạch 3 Trung bình
A 14 16 15 15
B 25 23 24 24
C 20 19 21 20
D 22 38 21 27
E 30 31 29 30

 

Mục đích chính của việc làm kháng sinh đồ trong điều trị nhiễm khuẩn là gì?

A
Xác định tên loài vi khuẩn đang gây bệnh.
B
Chọn ra loại kháng sinh hiệu quả nhất với vi khuẩn đang gây nhiễm và giảm nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc.
C
Nhuộm màu để phân biệt vi khuẩn Gram dương và Gram âm.
D
Đếm số lượng vi khuẩn trong mẫu bệnh phẩm.

Lời giải

Chọn B

Văn bản nêu kháng sinh đồ là phương pháp thử và tìm loại kháng sinh hiệu quả nhất với loại vi khuẩn người bệnh đang nhiễm, nhằm tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc. A, C, D không phải mục đích của kháng sinh đồ.

Câu 9

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 8 đến 13:

KHÁNG SINH ĐỒ

Để tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ kháng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn, bác sĩ sử dụng phương pháp thử và tìm loại kháng sinh hiệu quả nhất với loại vi khuẩn mà người bệnh đang nhiễm. Phương pháp này gọi là kháng sinh đồ. Quy trình thực hiện gồm các bước:

Bước 1: Lấy mẫu bệnh phẩm có chứa vi khuẩn của người bệnh.

Bước 2: Cấy vi khuẩn thu được lên 3 đĩa thạch dinh dưỡng.

Bước 3: Bác sĩ xác định các loại thuốc kháng sinh có thể dùng để điều trị.

Bước 4: Dùng giấy thấm tẩm các loại thuốc kháng sinh với nồng độ đã xác định.

Bước 5: Đặt các giấy thấm lên đĩa thạch với khoảng cách đều nhau.

Bước 6: Để các đĩa trong tủ ấm trong 24 – 48 giờ.

Bước 7: Đo đường kính của từng vòng vô khuẩn (như minh họa ở Hình 2).

Hình minh họa

Hình 2. Đĩa thạch kháng sinh đồ (minh họa)

Một người bị nhiễm khuẩn điều trị tại bệnh viện, bác sĩ làm kháng sinh đồ và thu được kết quả ở Bảng 2.

Bảng 2. Đường kính vòng vô khuẩn của từng loại kháng sinh

Loại kháng sinh Đường kính vòng vô khuẩn (mm)
  Đĩa thạch 1 Đĩa thạch 2 Đĩa thạch 3 Trung bình
A 14 16 15 15
B 25 23 24 24
C 20 19 21 20
D 22 38 21 27
E 30 31 29 30

 

Vòng vô khuẩn quanh một giấy thấm kháng sinh có đường kính càng lớn thì vi khuẩn càng nhạy cảm với loại kháng sinh đó. Phát biểu trên đúng hay sai?

 

A

Đúng

B

Sai

Lời giải

Chọn A

Vòng vô khuẩn là vùng xung quanh giấy thấm mà vi khuẩn không phát triển được, do kháng sinh khuếch tán ra thạch và ức chế/tiêu diệt vi khuẩn. Vòng càng rộng chứng tỏ kháng sinh ức chế vi khuẩn càng mạnh, tức vi khuẩn càng nhạy cảm với kháng sinh đó ⇒ phát biểu đúng.

Câu 10

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 8 đến 13:

KHÁNG SINH ĐỒ

Để tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ kháng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn, bác sĩ sử dụng phương pháp thử và tìm loại kháng sinh hiệu quả nhất với loại vi khuẩn mà người bệnh đang nhiễm. Phương pháp này gọi là kháng sinh đồ. Quy trình thực hiện gồm các bước:

Bước 1: Lấy mẫu bệnh phẩm có chứa vi khuẩn của người bệnh.

Bước 2: Cấy vi khuẩn thu được lên 3 đĩa thạch dinh dưỡng.

Bước 3: Bác sĩ xác định các loại thuốc kháng sinh có thể dùng để điều trị.

Bước 4: Dùng giấy thấm tẩm các loại thuốc kháng sinh với nồng độ đã xác định.

Bước 5: Đặt các giấy thấm lên đĩa thạch với khoảng cách đều nhau.

Bước 6: Để các đĩa trong tủ ấm trong 24 – 48 giờ.

Bước 7: Đo đường kính của từng vòng vô khuẩn (như minh họa ở Hình 2).

Hình minh họa

Hình 2. Đĩa thạch kháng sinh đồ (minh họa)

Một người bị nhiễm khuẩn điều trị tại bệnh viện, bác sĩ làm kháng sinh đồ và thu được kết quả ở Bảng 2.

Bảng 2. Đường kính vòng vô khuẩn của từng loại kháng sinh

Loại kháng sinh Đường kính vòng vô khuẩn (mm)
  Đĩa thạch 1 Đĩa thạch 2 Đĩa thạch 3 Trung bình
A 14 16 15 15
B 25 23 24 24
C 20 19 21 20
D 22 38 21 27
E 30 31 29 30

 

Vi khuẩn cấy lên các đĩa thạch trong kháng sinh đồ phải là chủng vi khuẩn mẫu mua sẵn, không được lấy từ mẫu bệnh phẩm của người bệnh. Phát biểu trên đúng hay sai?

 

A

Đúng

B

Sai

Lời giải

Chọn B

Quy trình bắt đầu bằng việc lấy mẫu bệnh phẩm có chứa vi khuẩn của người bệnh rồi cấy lên các đĩa thạch dinh dưỡng, vì kháng sinh đồ nhằm tìm thuốc hiệu quả nhất với chính vi khuẩn mà người bệnh đang nhiễm ⇒ phát biểu sai.

Bảng tra cứu nhanh đáp án trọn bộ 10 câu hỏiNhấn để đóng / mở
Câu12345678910
Đáp án-peptidoglycanBBCCBBAB

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.

Đăng nhập để làm bài
Đáp án & Lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử TSA Môn Sinh học 2027 - Đề số 25 môn Tư duy khoa học - Sinh học 2027 (Đánh giá Tư duy (TSA)) - 9Study