[Dữ liệu 5]
Sự xác định giới tính ở ruồi giấm (Drosophila)
Ở ruồi giấm, hệ thống xác định giới tính thuộc hệ XX - XY. Tuy nhiên, các nhân tố xác định tính cái nằm trên NST X; các nhân tố xác định tính đực nằm trên NST thường (NST A - autosome) (không nằm trên NST Y). Vì vậy, giới tính ở ruồi giấm được xác định bởi tỷ lệ giữa số NST X và số bộ NST A đơn bội (sinh vật lưỡng bội có số bộ NST A đơn bội là 2, cá thể tam bội có số bộ NST A đơn bội là 3). Tỷ lệ này bằng hoặc lớn hơn 1 là ruồi cái; bằng hoặc nhỏ hơn 0,5 là ruồi đực; nằm giữa 0,5 – 1 là ruồi lưỡng tính (bảng 1, hình 1). Các tỷ lệ nhỏ hơn 0,5 và lớn hơn 1 sẽ sinh ra ruồi siêu đực hoặc siêu cái (theo thứ tự). Những con ruồi này thường phát triển kém và chết sớm.

Ở ruồi giấm và côn trùng nói chung, trong một số trường hợp, một cá thể có thể ở dạng lưỡng tính: một số vùng của cơ thể là đực và một số vùng khác là cái. Đây là kết quả của sự không phân ly NST ở các tế bào soma, làm thay đổi số lượng NST X trong tế bào từ đó dẫn đến thay đổi tỷ lệ X/A và ảnh hưởng đến giới tính của tế bào. Ở ruồi giấm, giới tính được xác định riêng ở mỗi tế bào nên khi 1 tế bào bị thay đổi giới tính nó sẽ tiếp tục phân chia tạo thành 1 dòng tế bào. Tùy vào vị trí của tế bào đó trong cơ thể mà nó sẽ biệt hóa thành các cấu trúc có giới tính ngược so với giới tính của các phần khác trong cơ thể. Đặc biệt, ở lần phân chia đầu tiên của hợp tử, nếu cặp NST X không phân ly sẽ tạo ra 2 tế bào con: 1 tế bào chứa 2 NST X và 1 tế bào không có NST X, khi đó sẽ sinh ra ruồi giấm một nửa cơ thể là đực, một nửa là cái. Đối với NST Y, tuy không có vai trò gì trong sự xác định giới tính ở ruồi giấm nhưng một số gene nằm trên NST Y quy định cho việc phát triển tinh trùng có khả năng thụ tinh. Vì vậy, những ruồi không có NST Y vẫn có thể là ruồi đực nhưng sẽ bất thụ.
Kéo thả từ/số thích hợp
| Đực | Cái | 1 | 2 | 3 |
Ở một cá thể ruồi giấm lưỡng bội, nếu tỷ lệ giữa số NST X với số bộ NST thường (A) đơn bội bằng 1, thì cá thể đó mang giới tính [1] và số lượng NST X trong tế bào của nó là [2] .
Cái
2
Theo Bảng 1, trường hợp 2(XX)/2(AA) = 1 → giới tính Cái, tương ứng có 2 NST X trong tế bào.
[Dữ liệu 5]
Sự xác định giới tính ở ruồi giấm (Drosophila)
Ở ruồi giấm, hệ thống xác định giới tính thuộc hệ XX - XY. Tuy nhiên, các nhân tố xác định tính cái nằm trên NST X; các nhân tố xác định tính đực nằm trên NST thường (NST A - autosome) (không nằm trên NST Y). Vì vậy, giới tính ở ruồi giấm được xác định bởi tỷ lệ giữa số NST X và số bộ NST A đơn bội (sinh vật lưỡng bội có số bộ NST A đơn bội là 2, cá thể tam bội có số bộ NST A đơn bội là 3). Tỷ lệ này bằng hoặc lớn hơn 1 là ruồi cái; bằng hoặc nhỏ hơn 0,5 là ruồi đực; nằm giữa 0,5 – 1 là ruồi lưỡng tính (bảng 1, hình 1). Các tỷ lệ nhỏ hơn 0,5 và lớn hơn 1 sẽ sinh ra ruồi siêu đực hoặc siêu cái (theo thứ tự). Những con ruồi này thường phát triển kém và chết sớm.

Ở ruồi giấm và côn trùng nói chung, trong một số trường hợp, một cá thể có thể ở dạng lưỡng tính: một số vùng của cơ thể là đực và một số vùng khác là cái. Đây là kết quả của sự không phân ly NST ở các tế bào soma, làm thay đổi số lượng NST X trong tế bào từ đó dẫn đến thay đổi tỷ lệ X/A và ảnh hưởng đến giới tính của tế bào. Ở ruồi giấm, giới tính được xác định riêng ở mỗi tế bào nên khi 1 tế bào bị thay đổi giới tính nó sẽ tiếp tục phân chia tạo thành 1 dòng tế bào. Tùy vào vị trí của tế bào đó trong cơ thể mà nó sẽ biệt hóa thành các cấu trúc có giới tính ngược so với giới tính của các phần khác trong cơ thể. Đặc biệt, ở lần phân chia đầu tiên của hợp tử, nếu cặp NST X không phân ly sẽ tạo ra 2 tế bào con: 1 tế bào chứa 2 NST X và 1 tế bào không có NST X, khi đó sẽ sinh ra ruồi giấm một nửa cơ thể là đực, một nửa là cái. Đối với NST Y, tuy không có vai trò gì trong sự xác định giới tính ở ruồi giấm nhưng một số gene nằm trên NST Y quy định cho việc phát triển tinh trùng có khả năng thụ tinh. Vì vậy, những ruồi không có NST Y vẫn có thể là ruồi đực nhưng sẽ bất thụ.
Một hợp tử tam bội hình thành từ sự thụ tinh giữa trứng lưỡng bội (2n, mang 2 NST X) và tinh trùng đơn bội (n, mang 1 NST X). Hợp tử này có khả năng phát triển thành cá thể mang giới tính nào?
Chọn A
Hợp tử nhận 2 NST X từ trứng + 1 NST X từ tinh trùng = 3 NST X; đồng thời là thể tam bội nên số bộ NST thường đơn bội = 3. Tỷ lệ X/A = 3/3 = 1 → tương ứng trường hợp XX/AA = 1 trong bảng → giới tính Cái bình thường.
[Dữ liệu 5]
Sự xác định giới tính ở ruồi giấm (Drosophila)
Ở ruồi giấm, hệ thống xác định giới tính thuộc hệ XX - XY. Tuy nhiên, các nhân tố xác định tính cái nằm trên NST X; các nhân tố xác định tính đực nằm trên NST thường (NST A - autosome) (không nằm trên NST Y). Vì vậy, giới tính ở ruồi giấm được xác định bởi tỷ lệ giữa số NST X và số bộ NST A đơn bội (sinh vật lưỡng bội có số bộ NST A đơn bội là 2, cá thể tam bội có số bộ NST A đơn bội là 3). Tỷ lệ này bằng hoặc lớn hơn 1 là ruồi cái; bằng hoặc nhỏ hơn 0,5 là ruồi đực; nằm giữa 0,5 – 1 là ruồi lưỡng tính (bảng 1, hình 1). Các tỷ lệ nhỏ hơn 0,5 và lớn hơn 1 sẽ sinh ra ruồi siêu đực hoặc siêu cái (theo thứ tự). Những con ruồi này thường phát triển kém và chết sớm.

Ở ruồi giấm và côn trùng nói chung, trong một số trường hợp, một cá thể có thể ở dạng lưỡng tính: một số vùng của cơ thể là đực và một số vùng khác là cái. Đây là kết quả của sự không phân ly NST ở các tế bào soma, làm thay đổi số lượng NST X trong tế bào từ đó dẫn đến thay đổi tỷ lệ X/A và ảnh hưởng đến giới tính của tế bào. Ở ruồi giấm, giới tính được xác định riêng ở mỗi tế bào nên khi 1 tế bào bị thay đổi giới tính nó sẽ tiếp tục phân chia tạo thành 1 dòng tế bào. Tùy vào vị trí của tế bào đó trong cơ thể mà nó sẽ biệt hóa thành các cấu trúc có giới tính ngược so với giới tính của các phần khác trong cơ thể. Đặc biệt, ở lần phân chia đầu tiên của hợp tử, nếu cặp NST X không phân ly sẽ tạo ra 2 tế bào con: 1 tế bào chứa 2 NST X và 1 tế bào không có NST X, khi đó sẽ sinh ra ruồi giấm một nửa cơ thể là đực, một nửa là cái. Đối với NST Y, tuy không có vai trò gì trong sự xác định giới tính ở ruồi giấm nhưng một số gene nằm trên NST Y quy định cho việc phát triển tinh trùng có khả năng thụ tinh. Vì vậy, những ruồi không có NST Y vẫn có thể là ruồi đực nhưng sẽ bất thụ.
Cơ chế xác định giới tính ở ruồi giấm dựa trên yếu tố nào sau đây?
Chọn C
Theo ngữ liệu, giới tính ở ruồi giấm được xác định bởi tỷ lệ giữa số NST X và số bộ NST thường (A) đơn bội, không phụ thuộc vào sự hiện diện của NST Y hay việc trứng có được thụ tinh hay không.
[Dữ liệu 5]
Sự xác định giới tính ở ruồi giấm (Drosophila)
Ở ruồi giấm, hệ thống xác định giới tính thuộc hệ XX - XY. Tuy nhiên, các nhân tố xác định tính cái nằm trên NST X; các nhân tố xác định tính đực nằm trên NST thường (NST A - autosome) (không nằm trên NST Y). Vì vậy, giới tính ở ruồi giấm được xác định bởi tỷ lệ giữa số NST X và số bộ NST A đơn bội (sinh vật lưỡng bội có số bộ NST A đơn bội là 2, cá thể tam bội có số bộ NST A đơn bội là 3). Tỷ lệ này bằng hoặc lớn hơn 1 là ruồi cái; bằng hoặc nhỏ hơn 0,5 là ruồi đực; nằm giữa 0,5 – 1 là ruồi lưỡng tính (bảng 1, hình 1). Các tỷ lệ nhỏ hơn 0,5 và lớn hơn 1 sẽ sinh ra ruồi siêu đực hoặc siêu cái (theo thứ tự). Những con ruồi này thường phát triển kém và chết sớm.

Ở ruồi giấm và côn trùng nói chung, trong một số trường hợp, một cá thể có thể ở dạng lưỡng tính: một số vùng của cơ thể là đực và một số vùng khác là cái. Đây là kết quả của sự không phân ly NST ở các tế bào soma, làm thay đổi số lượng NST X trong tế bào từ đó dẫn đến thay đổi tỷ lệ X/A và ảnh hưởng đến giới tính của tế bào. Ở ruồi giấm, giới tính được xác định riêng ở mỗi tế bào nên khi 1 tế bào bị thay đổi giới tính nó sẽ tiếp tục phân chia tạo thành 1 dòng tế bào. Tùy vào vị trí của tế bào đó trong cơ thể mà nó sẽ biệt hóa thành các cấu trúc có giới tính ngược so với giới tính của các phần khác trong cơ thể. Đặc biệt, ở lần phân chia đầu tiên của hợp tử, nếu cặp NST X không phân ly sẽ tạo ra 2 tế bào con: 1 tế bào chứa 2 NST X và 1 tế bào không có NST X, khi đó sẽ sinh ra ruồi giấm một nửa cơ thể là đực, một nửa là cái. Đối với NST Y, tuy không có vai trò gì trong sự xác định giới tính ở ruồi giấm nhưng một số gene nằm trên NST Y quy định cho việc phát triển tinh trùng có khả năng thụ tinh. Vì vậy, những ruồi không có NST Y vẫn có thể là ruồi đực nhưng sẽ bất thụ.
Các nhận định sau về cơ chế xác định giới tính ở ruồi giấm là Đúng hay Sai?
Chọn b đúng, a và c và d sai
a) Sai
Nhân tố quy định tính đực nằm trên NST thường (A), NST Y không quyết định giới tính.
b) Đúng
Ruồi mang X có thể là đực (XY, XO) hoặc cái (XX, XXX...) tùy tỷ lệ X/A.
c) Sai
Ruồi thiếu NST Y vẫn có thể là đực nhưng sẽ bất thụ (do gene trên Y quy định phát triển tinh trùng hữu thụ).
d) Sai
Ở thể lưỡng tính, các dòng tế bào khác nhau có thể mang số NST giới tính khác nhau do sự không phân ly NST xảy ra ở một số tế bào soma.
[Dữ liệu 5]
Sự xác định giới tính ở ruồi giấm (Drosophila)
Ở ruồi giấm, hệ thống xác định giới tính thuộc hệ XX - XY. Tuy nhiên, các nhân tố xác định tính cái nằm trên NST X; các nhân tố xác định tính đực nằm trên NST thường (NST A - autosome) (không nằm trên NST Y). Vì vậy, giới tính ở ruồi giấm được xác định bởi tỷ lệ giữa số NST X và số bộ NST A đơn bội (sinh vật lưỡng bội có số bộ NST A đơn bội là 2, cá thể tam bội có số bộ NST A đơn bội là 3). Tỷ lệ này bằng hoặc lớn hơn 1 là ruồi cái; bằng hoặc nhỏ hơn 0,5 là ruồi đực; nằm giữa 0,5 – 1 là ruồi lưỡng tính (bảng 1, hình 1). Các tỷ lệ nhỏ hơn 0,5 và lớn hơn 1 sẽ sinh ra ruồi siêu đực hoặc siêu cái (theo thứ tự). Những con ruồi này thường phát triển kém và chết sớm.

Ở ruồi giấm và côn trùng nói chung, trong một số trường hợp, một cá thể có thể ở dạng lưỡng tính: một số vùng của cơ thể là đực và một số vùng khác là cái. Đây là kết quả của sự không phân ly NST ở các tế bào soma, làm thay đổi số lượng NST X trong tế bào từ đó dẫn đến thay đổi tỷ lệ X/A và ảnh hưởng đến giới tính của tế bào. Ở ruồi giấm, giới tính được xác định riêng ở mỗi tế bào nên khi 1 tế bào bị thay đổi giới tính nó sẽ tiếp tục phân chia tạo thành 1 dòng tế bào. Tùy vào vị trí của tế bào đó trong cơ thể mà nó sẽ biệt hóa thành các cấu trúc có giới tính ngược so với giới tính của các phần khác trong cơ thể. Đặc biệt, ở lần phân chia đầu tiên của hợp tử, nếu cặp NST X không phân ly sẽ tạo ra 2 tế bào con: 1 tế bào chứa 2 NST X và 1 tế bào không có NST X, khi đó sẽ sinh ra ruồi giấm một nửa cơ thể là đực, một nửa là cái. Đối với NST Y, tuy không có vai trò gì trong sự xác định giới tính ở ruồi giấm nhưng một số gene nằm trên NST Y quy định cho việc phát triển tinh trùng có khả năng thụ tinh. Vì vậy, những ruồi không có NST Y vẫn có thể là ruồi đực nhưng sẽ bất thụ.
Điền từ thích hợp vào chỗ trống:
Nếu ở hợp tử mang cặp NST XX xảy ra sự không phân ly trong lần nguyên phân đầu tiên, sẽ tạo ra hai tế bào con: một tế bào nhận cả 2 NST X sẽ phát triển thành phần cơ thể mang giới tính[1] , còn tế bào không nhận NST X nào sẽ phát triển thành phần cơ thể mang giới tính [2] .
Cái
Đực
Tế bào chứa 2 NST X có tỷ lệ X/A cao (≥1) → phát triển thành mô cái; tế bào không có NST X nào có tỷ lệ X/A = 0 (rất thấp) → phát triển thành mô đực, tạo nên thể khảm nửa đực – nửa cái.
[Dữ liệu 5]
Sự xác định giới tính ở ruồi giấm (Drosophila)
Ở ruồi giấm, hệ thống xác định giới tính thuộc hệ XX - XY. Tuy nhiên, các nhân tố xác định tính cái nằm trên NST X; các nhân tố xác định tính đực nằm trên NST thường (NST A - autosome) (không nằm trên NST Y). Vì vậy, giới tính ở ruồi giấm được xác định bởi tỷ lệ giữa số NST X và số bộ NST A đơn bội (sinh vật lưỡng bội có số bộ NST A đơn bội là 2, cá thể tam bội có số bộ NST A đơn bội là 3). Tỷ lệ này bằng hoặc lớn hơn 1 là ruồi cái; bằng hoặc nhỏ hơn 0,5 là ruồi đực; nằm giữa 0,5 – 1 là ruồi lưỡng tính (bảng 1, hình 1). Các tỷ lệ nhỏ hơn 0,5 và lớn hơn 1 sẽ sinh ra ruồi siêu đực hoặc siêu cái (theo thứ tự). Những con ruồi này thường phát triển kém và chết sớm.

Ở ruồi giấm và côn trùng nói chung, trong một số trường hợp, một cá thể có thể ở dạng lưỡng tính: một số vùng của cơ thể là đực và một số vùng khác là cái. Đây là kết quả của sự không phân ly NST ở các tế bào soma, làm thay đổi số lượng NST X trong tế bào từ đó dẫn đến thay đổi tỷ lệ X/A và ảnh hưởng đến giới tính của tế bào. Ở ruồi giấm, giới tính được xác định riêng ở mỗi tế bào nên khi 1 tế bào bị thay đổi giới tính nó sẽ tiếp tục phân chia tạo thành 1 dòng tế bào. Tùy vào vị trí của tế bào đó trong cơ thể mà nó sẽ biệt hóa thành các cấu trúc có giới tính ngược so với giới tính của các phần khác trong cơ thể. Đặc biệt, ở lần phân chia đầu tiên của hợp tử, nếu cặp NST X không phân ly sẽ tạo ra 2 tế bào con: 1 tế bào chứa 2 NST X và 1 tế bào không có NST X, khi đó sẽ sinh ra ruồi giấm một nửa cơ thể là đực, một nửa là cái. Đối với NST Y, tuy không có vai trò gì trong sự xác định giới tính ở ruồi giấm nhưng một số gene nằm trên NST Y quy định cho việc phát triển tinh trùng có khả năng thụ tinh. Vì vậy, những ruồi không có NST Y vẫn có thể là ruồi đực nhưng sẽ bất thụ.
Trong các trường hợp dưới đây, trường hợp nào hai cá thể ruồi giấm có cùng giới tính?
| Ruồi giấm 1 | Ruồi giấm 2 | |||
| NST giới tính | Bộ NST thường | NST giới tính | Bộ NST thường | |
| A | X | Lưỡng bội | XX | Lưỡng bội |
| B | XX | Lưỡng bội | XXY | Lưỡng bội |
| C | XY | Lưỡng bội | XXX | Tam bội |
| D | XXX | Tứ bội | XXY | Lưỡng bội |
Chọn B
A: Ruồi 1 (X, lưỡng bội) → X/A = 1/2 = 0,5 → Đực; Ruồi 2 (XX, lưỡng bội) → X/A = 2/2 = 1 → Cái. → Khác giới tính.
B: Ruồi 1 (XXX, lưỡng bội) → X/A = 3/2 = 1,5 → Cái; Ruồi 2 (XXY, lưỡng bội, chỉ tính 2 NST X) → X/A = 2/2 = 1 → Cái. → Cùng giới tính (Cái).
C: Ruồi 1 (XY, lưỡng bội) → X/A = 1/2 = 0,5 → Đực; Ruồi 2 (XXX, tam bội) → X/A = 3/3 = 1 → Cái. → Khác giới tính.
D: Ruồi 1 (XXX, tứ bội) → X/A = 3/4 = 0,75 → Lưỡng tính; Ruồi 2 (XXY, lưỡng bội) → X/A = 2/2 = 1 → Cái. → Khác giới tính.
[Dữ liệu 6]
Đột biến nhạy cảm với nhiệt độ thúc đẩy C. glutamicum sản xuất L-glutamate
L-glutamate là một loại amino acid được dùng trong công nghiệp sản xuất bột ngọt.
Quá trình sản xuất L-glumate có thể sử dụng nhiều giống và loài vi khuẩn khác nhau,
trong đó phổ biến nhất là Corynebacterium glutamicum. Tuy nhiên, sản lượng L-
glutamate từ các chủng C. glutamicum hoang dại thường rất thấp do đó các chủng này
không đáp ứng các yêu cầu cho quá trình lên men ở quy mô công nghiệp. Để cải thiện
hơn nữa hiệu suất sản xuất L-glutamate, các chủng C. glutamicum nhạy cảm với nhiệt
độ đã được tạo ra và có thể tổng hợp L-glutamate bằng cách gia tăng nhiệt độ bể nuôi
cấy. Một thí nghiệm được tiến hành bằng cách cho lên men riêng lẽ từng chủng C.
glutamicum TCCC 11822 và C. glutamicum ATCC 13032 (trong đó có một chủng
hoang dại và một chủng đột biến) trong lò phản ứng sinh học 5 lít (bioracter).

Hình 1. Quá trình lên men được kích hoạt bởi nhiệt độ của chủng C. glutamicum
TCCC 11822 và C. glutamicum ATCC 13032.
(Nguồn: Shi, T., Fan, X., Wu, Y., Ma, Q., Xu, Q., Xie, X., & Chen, N. (2020).
Mutation of genes for cell membrane synthesis in Corynebacterium glutamicum
causes temperature-sensitive trait and promotes L-glutamate excretion. Biotechnology
& Biotechnological Equipment, 34(1), 38–47)
Ở một thời điểm bất kỳ sau khi tăng nhiệt độ bể nuôi cấy lên 39°C (trong giai đoạn sau khi cả hai chủng đã bắt đầu đáp ứng với nhiệt độ), hàm lượng glutamate tích lũy được của chủng C. glutamicum TCCC 11822 luôn cao hơn so với chủng C. glutamicum ATCC 13032. Nhận định này đúng hay sai?
Đúng
Sai
Chọn A
Quan sát trục tung của hai đồ thị: Hình a (TCCC 11822) có thang đo hàm lượng glutamate lên tới 220 g/L, trong khi Hình b (ATCC 13032) chỉ có thang đo tối đa khoảng 8 g/L. Sự chênh lệch về bậc độ lớn này cho thấy chủng TCCC 11822 sản xuất glutamate với hàm lượng vượt trội hơn hẳn ATCC 13032 ở hầu hết mọi thời điểm sau khi tăng nhiệt.
[Dữ liệu 6]
Đột biến nhạy cảm với nhiệt độ thúc đẩy C. glutamicum sản xuất L-glutamate
L-glutamate là một loại amino acid được dùng trong công nghiệp sản xuất bột ngọt.
Quá trình sản xuất L-glumate có thể sử dụng nhiều giống và loài vi khuẩn khác nhau,
trong đó phổ biến nhất là Corynebacterium glutamicum. Tuy nhiên, sản lượng L-
glutamate từ các chủng C. glutamicum hoang dại thường rất thấp do đó các chủng này
không đáp ứng các yêu cầu cho quá trình lên men ở quy mô công nghiệp. Để cải thiện
hơn nữa hiệu suất sản xuất L-glutamate, các chủng C. glutamicum nhạy cảm với nhiệt
độ đã được tạo ra và có thể tổng hợp L-glutamate bằng cách gia tăng nhiệt độ bể nuôi
cấy. Một thí nghiệm được tiến hành bằng cách cho lên men riêng lẽ từng chủng C.
glutamicum TCCC 11822 và C. glutamicum ATCC 13032 (trong đó có một chủng
hoang dại và một chủng đột biến) trong lò phản ứng sinh học 5 lít (bioracter).

Hình 1. Quá trình lên men được kích hoạt bởi nhiệt độ của chủng C. glutamicum
TCCC 11822 và C. glutamicum ATCC 13032.
(Nguồn: Shi, T., Fan, X., Wu, Y., Ma, Q., Xu, Q., Xie, X., & Chen, N. (2020).
Mutation of genes for cell membrane synthesis in Corynebacterium glutamicum
causes temperature-sensitive trait and promotes L-glutamate excretion. Biotechnology
& Biotechnological Equipment, 34(1), 38–47)
Khi nhiệt độ bể nuôi cấy được nâng lên 39°C, hàm lượng glutamate do chủng C. glutamicum ATCC 13032 tạo ra có xu hướng biến đổi như thế nào?
Chọn Tăng
Theo Hình b, sau mốc tăng nhiệt (~4-5 giờ), đường biểu diễn sản phẩm (đỏ) tiếp tục đi lên đều đặn cho đến khi đạt trạng thái ổn định gần cuối thí nghiệm.
[Dữ liệu 6]
Đột biến nhạy cảm với nhiệt độ thúc đẩy C. glutamicum sản xuất L-glutamate
L-glutamate là một loại amino acid được dùng trong công nghiệp sản xuất bột ngọt.
Quá trình sản xuất L-glumate có thể sử dụng nhiều giống và loài vi khuẩn khác nhau,
trong đó phổ biến nhất là Corynebacterium glutamicum. Tuy nhiên, sản lượng L-
glutamate từ các chủng C. glutamicum hoang dại thường rất thấp do đó các chủng này
không đáp ứng các yêu cầu cho quá trình lên men ở quy mô công nghiệp. Để cải thiện
hơn nữa hiệu suất sản xuất L-glutamate, các chủng C. glutamicum nhạy cảm với nhiệt
độ đã được tạo ra và có thể tổng hợp L-glutamate bằng cách gia tăng nhiệt độ bể nuôi
cấy. Một thí nghiệm được tiến hành bằng cách cho lên men riêng lẽ từng chủng C.
glutamicum TCCC 11822 và C. glutamicum ATCC 13032 (trong đó có một chủng
hoang dại và một chủng đột biến) trong lò phản ứng sinh học 5 lít (bioracter).

Hình 1. Quá trình lên men được kích hoạt bởi nhiệt độ của chủng C. glutamicum
TCCC 11822 và C. glutamicum ATCC 13032.
(Nguồn: Shi, T., Fan, X., Wu, Y., Ma, Q., Xu, Q., Xie, X., & Chen, N. (2020).
Mutation of genes for cell membrane synthesis in Corynebacterium glutamicum
causes temperature-sensitive trait and promotes L-glutamate excretion. Biotechnology
& Biotechnological Equipment, 34(1), 38–47)
Tính từ thời điểm tăng nhiệt độ bể nuôi cấy lên 39°C, sau khoảng 10 giờ tiếp theo, hàm lượng glutamate của chủng C. glutamicum TCCC 11822 đã tăng lên xấp xỉ bao nhiêu lần so với thời điểm bắt đầu tăng nhiệt?
Chọn D
Tại thời điểm tăng nhiệt (t ≈ 10 giờ), hàm lượng glutamate của TCCC 11822 còn thấp (khoảng 20–25 g/L). Sau 10 giờ tiếp theo (t ≈ 20 giờ), hàm lượng này tăng lên khoảng 120–140 g/L. Tỷ lệ tăng xấp xỉ 130/24 ≈ 5,5 lần.
[Dữ liệu 6]
Đột biến nhạy cảm với nhiệt độ thúc đẩy C. glutamicum sản xuất L-glutamate
L-glutamate là một loại amino acid được dùng trong công nghiệp sản xuất bột ngọt.
Quá trình sản xuất L-glumate có thể sử dụng nhiều giống và loài vi khuẩn khác nhau,
trong đó phổ biến nhất là Corynebacterium glutamicum. Tuy nhiên, sản lượng L-
glutamate từ các chủng C. glutamicum hoang dại thường rất thấp do đó các chủng này
không đáp ứng các yêu cầu cho quá trình lên men ở quy mô công nghiệp. Để cải thiện
hơn nữa hiệu suất sản xuất L-glutamate, các chủng C. glutamicum nhạy cảm với nhiệt
độ đã được tạo ra và có thể tổng hợp L-glutamate bằng cách gia tăng nhiệt độ bể nuôi
cấy. Một thí nghiệm được tiến hành bằng cách cho lên men riêng lẽ từng chủng C.
glutamicum TCCC 11822 và C. glutamicum ATCC 13032 (trong đó có một chủng
hoang dại và một chủng đột biến) trong lò phản ứng sinh học 5 lít (bioracter).

Hình 1. Quá trình lên men được kích hoạt bởi nhiệt độ của chủng C. glutamicum
TCCC 11822 và C. glutamicum ATCC 13032.
(Nguồn: Shi, T., Fan, X., Wu, Y., Ma, Q., Xu, Q., Xie, X., & Chen, N. (2020).
Mutation of genes for cell membrane synthesis in Corynebacterium glutamicum
causes temperature-sensitive trait and promotes L-glutamate excretion. Biotechnology
& Biotechnological Equipment, 34(1), 38–47)
Dựa vào kết quả thí nghiệm ở Hình 1, việc tăng nhiệt độ bể nuôi cấy có tác động như thế nào đến hai chủng vi khuẩn?
Chọn C
Ở Hình a, sau khi tăng nhiệt, đường sinh khối (xanh) của TCCC 11822 chững lại/đạt bình nguyên (sinh trưởng bị ức chế), trong khi đường sản phẩm (đỏ) tiếp tục tăng mạnh, thậm chí vượt qua đường sinh khối. Đây là đặc điểm điển hình của chủng đột biến nhạy cảm nhiệt độ: nhiệt độ cao vừa ức chế sinh trưởng vừa kích thích tiết glutamate — cả hai hiện tượng đều xảy ra trên cùng một chủng TCCC 11822.
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đáp án | - | A | C | B | - | B | A | Tăng | D | C |
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.
Đăng nhập để làm bài