Đáp án & lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 4 - Sinh học

Đánh giá Tư duy (TSA)Môn Tư duy khoa học - Sinh họcNăm 202713 câuChuẩn GDPT mới

Phần I

Câu 1

[Dữ liệu 5]

Chuyển hóa vitamin D3

Trong máu người, nồng độ calcium (Ca2+) được điều chỉnh bởi vitamin D3. Đầu tiên,

vitamin D3 được chuyển thành calcidiol (CD) trong gan. Nồng độ CD tăng cao sẽ ức

chế quá trình chuyển đổi thành CD của vitamin D3. Tiếp theo, CD được chuyển thành

calcitriol (CT) trong thận nhờ sự kích thích từ hormone tuyến cận giáp (PTH). Nồng độ

CT tăng cao làm tăng nồng độ Ca2+, từ đó ức chế quá trình giải phóng PTH tiếp theo. Xem hình 1

Hình minh họa

Hình 1

Hình 2 và 3 cho thấy cách tiêu thụ vitamin D3 trong chế độ ăn uống ảnh hưởng đến

nồng độ CD tương đối trong máu và cách nồng độ Ca2+ trong máu ảnh hưởng đến

nồng độ CT tương đối trong máu.

Hình minh họa

Hình 2

Hình minh họa

Hình 3

*1,0: biểu thị nồng độ calcitriol trong máu bình thường

Theo Hình 2, nếu một người giảm lượng vitamin D3 tiêu thụ trong chế độ ăn uống từ 2,0 lần RDA xuống còn 1,5 lần RDA, thì nồng độ tương đối của CD trong máu có thay đổi không?

A
Có, sẽ giảm từ 1,0 xuống 0,5 lần bình thường.
B
Không, nồng độ tương đối của CD trong máu sẽ vẫn giữ nguyên ở mức 1,0.
C
Có, sẽ tăng lên trên 1,0 lần bình thường.
D
Không thể xác định được từ đồ thị.

Lời giải

Chọn B

Từ khoảng 0,5 lần RDA trở đi, đường cong trong Hình 2 đã đạt trạng thái bão hòa (plateau) ở mức 1,0. Cả hai giá trị 2,0 và 1,5 lần RDA đều nằm trong vùng bão hòa này, nên nồng độ CD tương đối không đổi.

Câu 2

[Dữ liệu 5]

Chuyển hóa vitamin D3

Trong máu người, nồng độ calcium (Ca2+) được điều chỉnh bởi vitamin D3. Đầu tiên,

vitamin D3 được chuyển thành calcidiol (CD) trong gan. Nồng độ CD tăng cao sẽ ức

chế quá trình chuyển đổi thành CD của vitamin D3. Tiếp theo, CD được chuyển thành

calcitriol (CT) trong thận nhờ sự kích thích từ hormone tuyến cận giáp (PTH). Nồng độ

CT tăng cao làm tăng nồng độ Ca2+, từ đó ức chế quá trình giải phóng PTH tiếp theo. Xem hình 1

Hình minh họa

Hình 1

Hình 2 và 3 cho thấy cách tiêu thụ vitamin D3 trong chế độ ăn uống ảnh hưởng đến

nồng độ CD tương đối trong máu và cách nồng độ Ca2+ trong máu ảnh hưởng đến

nồng độ CT tương đối trong máu.

Hình minh họa

Hình 2

Hình minh họa

Hình 3

*1,0: biểu thị nồng độ calcitriol trong máu bình thường

Theo Hình 3, khi nồng độ tương đối của CT trong máu nằm trong khoảng từ 0 đến 1 lần bình thường, thì nồng độ Ca²⁺ trong máu nằm trong khoảng nào sau đây?

A
6 mg/100 mL đến 8 mg/100 mL.
B
8 mg/100 mL đến 9 mg/100 mL.
C
9 mg/100 mL đến 10 mg/100 mL.
D
12 mg/100 mL đến 14 mg/100 mL.

Lời giải

Chọn D

Sau đoạn dốc giảm mạnh (khoảng Ca²⁺ = 9-10 mg/100 mL), đường cong CT tụt xuống gần 0 và giữ ổn định ở mức thấp này khi Ca²⁺ tiếp tục tăng, nên trong khoảng 12-14 mg/100 mL, CT tương đối nằm trong khoảng 0-1 lần bình thường.

Câu 3

[Dữ liệu 5]

Chuyển hóa vitamin D3

Trong máu người, nồng độ calcium (Ca2+) được điều chỉnh bởi vitamin D3. Đầu tiên,

vitamin D3 được chuyển thành calcidiol (CD) trong gan. Nồng độ CD tăng cao sẽ ức

chế quá trình chuyển đổi thành CD của vitamin D3. Tiếp theo, CD được chuyển thành

calcitriol (CT) trong thận nhờ sự kích thích từ hormone tuyến cận giáp (PTH). Nồng độ

CT tăng cao làm tăng nồng độ Ca2+, từ đó ức chế quá trình giải phóng PTH tiếp theo. Xem hình 1

Hình minh họa

Hình 1

Hình 2 và 3 cho thấy cách tiêu thụ vitamin D3 trong chế độ ăn uống ảnh hưởng đến

nồng độ CD tương đối trong máu và cách nồng độ Ca2+ trong máu ảnh hưởng đến

nồng độ CT tương đối trong máu.

Hình minh họa

Hình 2

Hình minh họa

Hình 3

*1,0: biểu thị nồng độ calcitriol trong máu bình thường

Theo Hình 2, khi nồng độ tương đối của CD trong máu đạt mức bình thường (1,0 lần), thì lượng vitamin D3 tiêu thụ trong chế độ ăn uống gần nhất với giá trị nào sau đây?

A
0,05 lần RDA bình thường.
B
0,25 lần RDA bình thường.
C
1,0 lần RDA bình thường.
D
2,0 lần RDA bình thường.

Lời giải

Chọn B

Theo đồ thị Hình 2, đường cong tăng rất nhanh ngay từ đầu và đạt tới mức bão hòa 1,0 khi lượng vitamin D3 tiêu thụ đạt khoảng 0,25 lần RDA; sau đó đường cong nằm ngang ở mức 1,0.

Câu 4

[Dữ liệu 5]

Chuyển hóa vitamin D3

Trong máu người, nồng độ calcium (Ca2+) được điều chỉnh bởi vitamin D3. Đầu tiên,

vitamin D3 được chuyển thành calcidiol (CD) trong gan. Nồng độ CD tăng cao sẽ ức

chế quá trình chuyển đổi thành CD của vitamin D3. Tiếp theo, CD được chuyển thành

calcitriol (CT) trong thận nhờ sự kích thích từ hormone tuyến cận giáp (PTH). Nồng độ

CT tăng cao làm tăng nồng độ Ca2+, từ đó ức chế quá trình giải phóng PTH tiếp theo. Xem hình 1

Hình minh họa

Hình 1

Hình 2 và 3 cho thấy cách tiêu thụ vitamin D3 trong chế độ ăn uống ảnh hưởng đến

nồng độ CD tương đối trong máu và cách nồng độ Ca2+ trong máu ảnh hưởng đến

nồng độ CT tương đối trong máu.

Hình minh họa

Hình 2

Hình minh họa

Hình 3

*1,0: biểu thị nồng độ calcitriol trong máu bình thường

Theo Hình 2, sự thay đổi nhỏ nhất về nồng độ tương đối của CD trong máu xảy ra khi lượng vitamin D3 tiêu thụ trong chế độ ăn uống nằm trong phạm vi nào sau đây?

A
nhỏ hơn 0,25 lần RDA bình thường.
B
0,25 lần RDA bình thường đến 0,5 lần RDA bình thường.
C
0,75 lần RDA bình thường đến 1,0 lần RDA bình thường.
D
2,0 lần RDA bình thường đến 2,5 lần RDA bình thường.

Lời giải

Chọn D

Ở khoảng 2,0–2,5 lần RDA, đường cong đã nằm ngang hoàn toàn ở mức 1,0 (trạng thái bão hòa), nên gần như không có sự thay đổi nào về nồng độ tương đối của CD. Ngược lại, khoảng nhỏ hơn 0,25 lần RDA là nơi có sự thay đổi lớn nhất (đường cong dốc đứng).

Câu 5

[Dữ liệu 5]

Chuyển hóa vitamin D3

Trong máu người, nồng độ calcium (Ca2+) được điều chỉnh bởi vitamin D3. Đầu tiên,

vitamin D3 được chuyển thành calcidiol (CD) trong gan. Nồng độ CD tăng cao sẽ ức

chế quá trình chuyển đổi thành CD của vitamin D3. Tiếp theo, CD được chuyển thành

calcitriol (CT) trong thận nhờ sự kích thích từ hormone tuyến cận giáp (PTH). Nồng độ

CT tăng cao làm tăng nồng độ Ca2+, từ đó ức chế quá trình giải phóng PTH tiếp theo. Xem hình 1

Hình minh họa

Hình 1

Hình 2 và 3 cho thấy cách tiêu thụ vitamin D3 trong chế độ ăn uống ảnh hưởng đến

nồng độ CD tương đối trong máu và cách nồng độ Ca2+ trong máu ảnh hưởng đến

nồng độ CT tương đối trong máu.

Hình minh họa

Hình 2

Hình minh họa

Hình 3

*1,0: biểu thị nồng độ calcitriol trong máu bình thường

"Dựa trên thông tin trên, sự ức chế quá trình giải phóng PTH tiếp theo là do nồng độ (1) tăng cao. "

Đáp án đúng: Ca²⁺

Lời giải

Đáp án: Ca²⁺

Theo Hình 1, calcitriol (CT) làm tăng nồng độ Ca²⁺ trong máu, và chính nồng độ Ca²⁺ tăng cao này sẽ ức chế quá trình giải phóng PTH tiếp theo (vòng phản hồi âm).

Câu 6

[Dữ liệu 5]

Chuyển hóa vitamin D3

Trong máu người, nồng độ calcium (Ca2+) được điều chỉnh bởi vitamin D3. Đầu tiên,

vitamin D3 được chuyển thành calcidiol (CD) trong gan. Nồng độ CD tăng cao sẽ ức

chế quá trình chuyển đổi thành CD của vitamin D3. Tiếp theo, CD được chuyển thành

calcitriol (CT) trong thận nhờ sự kích thích từ hormone tuyến cận giáp (PTH). Nồng độ

CT tăng cao làm tăng nồng độ Ca2+, từ đó ức chế quá trình giải phóng PTH tiếp theo. Xem hình 1

Hình minh họa

Hình 1

Hình 2 và 3 cho thấy cách tiêu thụ vitamin D3 trong chế độ ăn uống ảnh hưởng đến

nồng độ CD tương đối trong máu và cách nồng độ Ca2+ trong máu ảnh hưởng đến

nồng độ CT tương đối trong máu.

Hình minh họa

Hình 2

Hình minh họa

Hình 3

*1,0: biểu thị nồng độ calcitriol trong máu bình thường

Các phát biểu sau đúng hay sai?

A
Calcitriol (CT) được tạo thành trong thận nhờ sự kích thích của PTH.
B
Nồng độ CD tăng cao sẽ ức chế quá trình chuyển hóa CD thành CT.
C
Calcitriol được tạo ra trong gan.
D
Nồng độ Ca²⁺ trong máu tăng cao sẽ ức chế quá trình giải phóng PTH tiếp theo.

Lời giải

Chọn a và d đúng, b và c sai

a) Đúng

Hình 1 cho thấy PTH hoạt hóa quá trình chuyển CD thành CT tại thận.

b) Sai

CD tăng cao ức chế quá trình chuyển vitamin D3 thành CD (ức chế ngược lên bước trước), chứ không ức chế bước CD → CT.

c) Sai

Theo Hình 1, calcitriol được tạo thành trong thận, không phải trong gan (gan là nơi tạo calcidiol từ vitamin D3).

d) Đúng

Theo đoạn văn, nồng độ CT tăng làm tăng Ca²⁺, và Ca²⁺ tăng cao sẽ ức chế việc giải phóng PTH tiếp theo.

Câu 7

[Dữ liệu 5]

Chuyển hóa vitamin D3

Trong máu người, nồng độ calcium (Ca2+) được điều chỉnh bởi vitamin D3. Đầu tiên,

vitamin D3 được chuyển thành calcidiol (CD) trong gan. Nồng độ CD tăng cao sẽ ức

chế quá trình chuyển đổi thành CD của vitamin D3. Tiếp theo, CD được chuyển thành

calcitriol (CT) trong thận nhờ sự kích thích từ hormone tuyến cận giáp (PTH). Nồng độ

CT tăng cao làm tăng nồng độ Ca2+, từ đó ức chế quá trình giải phóng PTH tiếp theo. Xem hình 1

Hình minh họa

Hình 1

Hình 2 và 3 cho thấy cách tiêu thụ vitamin D3 trong chế độ ăn uống ảnh hưởng đến

nồng độ CD tương đối trong máu và cách nồng độ Ca2+ trong máu ảnh hưởng đến

nồng độ CT tương đối trong máu.

Hình minh họa

Hình 2

Hình minh họa

Hình 3

*1,0: biểu thị nồng độ calcitriol trong máu bình thường

Một người có chế độ ăn uống chỉ tiêu thụ vitamin D3 ở mức 0,1 lần RDA bình thường trong thời gian dài, đồng thời nồng độ Ca²⁺ trong máu của người này đang ở mức 7 mg/100 mL. Dựa vào Hình 1, 2 và 3, hãy dự đoán điều gì sẽ xảy ra tiếp theo với nồng độ PTH của người này?

A
PTH sẽ giảm, vì nồng độ CD thấp làm giảm hoạt hóa chuyển đổi CD thành CT.
B
PTH sẽ tăng, vì nồng độ CT thấp (do CD thấp) không đủ để ức chế giải phóng PTH.
C
PTH sẽ không đổi, vì PTH chỉ phụ thuộc vào lượng vitamin D3 tiêu thụ.
D
PTH sẽ giảm, vì nồng độ Ca²⁺ ở mức 7 mg/100 mL đã đủ cao để ức chế PTH.

Lời giải

Chọn B

Theo Hình 2, khi lượng vitamin D3 tiêu thụ chỉ đạt 0,1 lần RDA (nằm trong vùng dốc đứng, chưa tới ngưỡng bão hòa ~0,25 lần), nồng độ CD tương đối sẽ thấp hơn 1,0 (dưới mức bình thường).

CD thấp → theo Hình 1, ít CD được chuyển thành CT hơn → nồng độ CT trong máu sẽ thấp.

Theo Hình 3, ở mức Ca²⁺ = 7 mg/100 mL, đường cong CT vẫn đang ở vùng cao (khoảng 5,5–6 lần bình thường) — nhưng vì CD đang thiếu (từ bước 1–2), CT thực tế của người này sẽ thấp hơn mức mà đồ thị Hình 3 dự đoán chỉ dựa vào Ca²⁺ đơn thuần (Hình 3 giả định CD đầy đủ).

Theo đoạn văn, nồng độ CT tăng cao mới ức chế giải phóng PTH. Vì CT đang ở mức thấp (do thiếu CD), tín hiệu ức chế PTH bị suy yếu → PTH không bị ức chế đầy đủ → PTH sẽ tăng (hoặc tiếp tục được giải phóng).

Câu 8

Giấm trà đen

Giấm là một trong những gia vị được sử dụng lâu đời và rộng rãi nhất trên thế giới. Trà đen là loại trà chiếm khoảng 75% lượng tiêu thụ trà toàn cầu. Nhiều nghiên cứu đã

chứng minh lợi ích đối với sức khỏe của việc uống trà đen, ví dụ như giảm cân, phòng

ngừa ung thư và giảm lipid máu... Trà đen đã được sử dụng để phát triển các sản phẩm

thực phẩm mới như bánh trà, nước uống, rượu trà, đường trà và Kombucha. Nghiên cứu trình được bày sau đây đưa ra một hướng mới trong phát triển sản phẩm giấm từ việc lên men trà đen. 50,0 g trà đen được đun sôi trong 2500 mL nước khử ion trong 30 phút, pha loãng thành 5000 mL. Sau đó thêm 500,0 g sucrose và ethanol vào cho đến khi nồng độ rượu đạt 4% thể tích. Dung dịch trà đen này được bổ sung chủng vi khuẩn lên men giấm. Quá trình lên men được thực hiện trong thiết bị lắc (180 vòng/phút) ở 30°C trong 9 ngày ở điều kiện hiếu khí. Các chủng vi khuẩn được sử dụng bao gồm Acetobacter sp. GDMCC1.152, Acetobacter pasteurianus GDMCC1.67 và Acetobacter aceti ATCC15973. Trước khi đưa vào dịch trà đen, các chúng này được ủ trong môi trường acetobacter lỏng (glucose 10 g/L, chiết xuất nấm men 10 g/L, thêm nước cất đến 1000 mL) ở 30°C trong 24 giờ và điều kiện hiếu khí. Lượng tế bào sống trong thời gian lên men được xác định khi cho dịch giấm trà đen ở các thời gian lên men lên môi trường thạch acetobacter và ủ trong 48 giờ ở 30°C. Giấm trà đen được đánh giá cảm quan (thử nếm) theo phương pháp mô tả cho điểm. Mười chuyên gia cảm quan (05 nam, 05 nữ, độ tuổi 20-40) sẽ thử các mẫu giấm trà đánh số ngẫu nhiên và chấm điểm về màu sắc, trạng thái, mùi và vị với tổng điểm tối đa là 100. Kết quả được trình bày trong Hình 1.

Hình minh họaHình 1: Biến đổi số lượng tế bào sống và điểm cảm quan theo thời gian lên men giấm

trà đen bởi các vi khuẩn khác nhau (Chunfeng Chen và cộng sự. Ảnh hưởng của các

chủng vi khuẩn axetic khác nhau đến hoạt tính sinh học, hợp chất dễ bay hơi và hoạt

tính chống oxy hóa của giấm trà đen, LWT 2022, tập 171, số 114131)

Số lượng tế bào sống sau 6 ngày lên men giấm trà đen của vi khuẩn Acetobacter sp. GDMCC1.152:

A
Thấp nhất trong số 3 chủng vi khuẩn.
B
Cao nhất trong số 3 chủng vi khuẩn.
C
Khoảng gấp đôi lượng tế bào tại thời điểm 4 ngày lên men.
D
Khoảng gấp đôi lượng tế bào tại thời điểm 9 ngày lên men.

Lời giải

Chọn B

Tại ngày thứ 6, theo Hình 1, đường màu đen (GDMCC1.152) đạt đỉnh cao nhất (~5×10⁶ tế bào/ml), cao hơn hai chủng còn lại (ATCC15973 ~4,5; GDMCC1.67 ~4,0) tại cùng thời điểm.

Câu 9

Giấm trà đen

Giấm là một trong những gia vị được sử dụng lâu đời và rộng rãi nhất trên thế giới. Trà đen là loại trà chiếm khoảng 75% lượng tiêu thụ trà toàn cầu. Nhiều nghiên cứu đã

chứng minh lợi ích đối với sức khỏe của việc uống trà đen, ví dụ như giảm cân, phòng

ngừa ung thư và giảm lipid máu... Trà đen đã được sử dụng để phát triển các sản phẩm

thực phẩm mới như bánh trà, nước uống, rượu trà, đường trà và Kombucha. Nghiên cứu trình được bày sau đây đưa ra một hướng mới trong phát triển sản phẩm giấm từ việc lên men trà đen. 50,0 g trà đen được đun sôi trong 2500 mL nước khử ion trong 30 phút, pha loãng thành 5000 mL. Sau đó thêm 500,0 g sucrose và ethanol vào cho đến khi nồng độ rượu đạt 4% thể tích. Dung dịch trà đen này được bổ sung chủng vi khuẩn lên men giấm. Quá trình lên men được thực hiện trong thiết bị lắc (180 vòng/phút) ở 30°C trong 9 ngày ở điều kiện hiếu khí. Các chủng vi khuẩn được sử dụng bao gồm Acetobacter sp. GDMCC1.152, Acetobacter pasteurianus GDMCC1.67 và Acetobacter aceti ATCC15973. Trước khi đưa vào dịch trà đen, các chúng này được ủ trong môi trường acetobacter lỏng (glucose 10 g/L, chiết xuất nấm men 10 g/L, thêm nước cất đến 1000 mL) ở 30°C trong 24 giờ và điều kiện hiếu khí. Lượng tế bào sống trong thời gian lên men được xác định khi cho dịch giấm trà đen ở các thời gian lên men lên môi trường thạch acetobacter và ủ trong 48 giờ ở 30°C. Giấm trà đen được đánh giá cảm quan (thử nếm) theo phương pháp mô tả cho điểm. Mười chuyên gia cảm quan (05 nam, 05 nữ, độ tuổi 20-40) sẽ thử các mẫu giấm trà đánh số ngẫu nhiên và chấm điểm về màu sắc, trạng thái, mùi và vị với tổng điểm tối đa là 100. Kết quả được trình bày trong Hình 1.

Hình minh họaHình 1: Biến đổi số lượng tế bào sống và điểm cảm quan theo thời gian lên men giấm

trà đen bởi các vi khuẩn khác nhau (Chunfeng Chen và cộng sự. Ảnh hưởng của các

chủng vi khuẩn axetic khác nhau đến hoạt tính sinh học, hợp chất dễ bay hơi và hoạt

tính chống oxy hóa của giấm trà đen, LWT 2022, tập 171, số 114131)

Từ ngày thứ 3 của quá trình lên men, số lượng tế bào sống và điểm cảm quan của giấm trà đen lên men bằng Acetobacter aceti ATCC15973 biến đổi như thế nào so với Acetobacter sp. GDMCC1.152?

A
Luôn thấp hơn.
B
Luôn cao hơn.
C
Bằng nhau tại mọi thời điểm.
D
Lúc cao hơn, lúc thấp hơn tùy thời điểm.

Lời giải

Lời giải

Chọn A

Quan sát cả Hình 1 và Hình 2, từ ngày 3 trở đi, đường màu đỏ (ATCC15973) luôn nằm dưới đường màu đen (GDMCC1.152) cả về số lượng tế bào sống lẫn điểm cảm quan, cho đến hết quá trình lên men (ngày 9).

Câu 10

Giấm trà đen

Giấm là một trong những gia vị được sử dụng lâu đời và rộng rãi nhất trên thế giới. Trà đen là loại trà chiếm khoảng 75% lượng tiêu thụ trà toàn cầu. Nhiều nghiên cứu đã

chứng minh lợi ích đối với sức khỏe của việc uống trà đen, ví dụ như giảm cân, phòng

ngừa ung thư và giảm lipid máu... Trà đen đã được sử dụng để phát triển các sản phẩm

thực phẩm mới như bánh trà, nước uống, rượu trà, đường trà và Kombucha. Nghiên cứu trình được bày sau đây đưa ra một hướng mới trong phát triển sản phẩm giấm từ việc lên men trà đen. 50,0 g trà đen được đun sôi trong 2500 mL nước khử ion trong 30 phút, pha loãng thành 5000 mL. Sau đó thêm 500,0 g sucrose và ethanol vào cho đến khi nồng độ rượu đạt 4% thể tích. Dung dịch trà đen này được bổ sung chủng vi khuẩn lên men giấm. Quá trình lên men được thực hiện trong thiết bị lắc (180 vòng/phút) ở 30°C trong 9 ngày ở điều kiện hiếu khí. Các chủng vi khuẩn được sử dụng bao gồm Acetobacter sp. GDMCC1.152, Acetobacter pasteurianus GDMCC1.67 và Acetobacter aceti ATCC15973. Trước khi đưa vào dịch trà đen, các chúng này được ủ trong môi trường acetobacter lỏng (glucose 10 g/L, chiết xuất nấm men 10 g/L, thêm nước cất đến 1000 mL) ở 30°C trong 24 giờ và điều kiện hiếu khí. Lượng tế bào sống trong thời gian lên men được xác định khi cho dịch giấm trà đen ở các thời gian lên men lên môi trường thạch acetobacter và ủ trong 48 giờ ở 30°C. Giấm trà đen được đánh giá cảm quan (thử nếm) theo phương pháp mô tả cho điểm. Mười chuyên gia cảm quan (05 nam, 05 nữ, độ tuổi 20-40) sẽ thử các mẫu giấm trà đánh số ngẫu nhiên và chấm điểm về màu sắc, trạng thái, mùi và vị với tổng điểm tối đa là 100. Kết quả được trình bày trong Hình 1.

Hình minh họaHình 1: Biến đổi số lượng tế bào sống và điểm cảm quan theo thời gian lên men giấm

trà đen bởi các vi khuẩn khác nhau (Chunfeng Chen và cộng sự. Ảnh hưởng của các

chủng vi khuẩn axetic khác nhau đến hoạt tính sinh học, hợp chất dễ bay hơi và hoạt

tính chống oxy hóa của giấm trà đen, LWT 2022, tập 171, số 114131)

Phát biểu sau đúng hay sai?

"Trong khoảng thời gian từ ngày 6 đến ngày 9, cả 3 chủng vi khuẩn đều có xu hướng biến đổi số lượng tế bào sống giống nhau (đều giảm)."

 

A

Đúng

B

Sai

Lời giải

Lời giải

Chọn A

Theo Hình 1, sau khi đạt đỉnh ở ngày 6, cả 3 đường biểu diễn (đen, đỏ, xanh) đều có xu hướng giảm liên tục cho đến ngày 9, thể hiện pha suy vong giống nhau về xu hướng ở cả 3 chủng.

Bảng tra cứu nhanh đáp án trọn bộ 10 câu hỏiNhấn để đóng / mở
Câu12345678910
Đáp ánBDBDCa²⁺ABBAA

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.

Đăng nhập để làm bài
Đáp án & Lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 4 - Sinh học môn Tư duy khoa học - Sinh học 2027 (Đánh giá Tư duy (TSA)) - 9Study