Xác định hàm lượng ion ammonium
Nitrogen là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cho sinh vật, tuy nhiên hàm lượng nitrogen cao có thể gây ô nhiễm nguồn nước. Một nghiên cứu xác định hàm lượng ion ammonium (NH₄⁺) trong nước bề mặt ở Đồng bằng Sông Cửu Long và so sánh với tiêu chuẩn (nồng độ NH₄⁺ < 3 mg.L⁻¹) theo nguyên tắc sau:
– Chuẩn bị mẫu thử bằng cách pha loãng mẫu nước 10 lần.
– Ion NH₄⁺ được chuyển thành indophenol qua các phản ứng sau:
NH₄⁺ + ClO⁻ → NH₂Cl + H₂O
NH₂Cl + Dẫn xuất phenol → Indophenol (dung dịch A)
Cường độ màu (đậm/nhạt) của dung dịch A tỉ lệ thuận với nồng độ indophenol trong dung dịch. Khi đó máy đo cường độ màu có thể tính toán được hàm lượng indophenol, từ đó tính được hàm lượng NH₄⁺ trong mẫu đo. Kết quả cho thấy hàm lượng ion NH₄⁺ trong mẫu thử là 1,44 mg.L⁻¹.
– Các phản ứng cần thực hiện ở điều kiện pH trong khoảng từ 4 đến 13. Thiết bị chỉ đo được mẫu nước có hàm lượng NH₄⁺ nằm trong khoảng từ 0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹.
Trước khi tiến hành đo cường độ màu, để kiểm tra pH người ta nhúng giấy quỳ tím vào mẫu thử, nhận thấy quỳ tím chuyển sang màu đỏ. Kết luận nào sau đây là đúng?
Dạng câu hỏi: Chu trình nitrogen
Giải thích:
Chọn C
Giấy quỳ tím chỉ là chất chỉ thị định tính: quỳ hóa đỏ chỉ cho biết môi trường có tính acid (pH < 7), quỳ hóa xanh cho biết môi trường base (pH > 7), không đổi màu cho biết môi trường gần trung tính. Quỳ tím không cho biết giá trị pH cụ thể.
Theo dữ liệu, phản ứng tạo indophenol cần thực hiện ở pH trong khoảng 4 đến 13 — đây là một khoảng khá rộng bao gồm cả một phần vùng acid yếu. Vì vậy, việc quỳ tím hóa đỏ chỉ cho biết pH < 7, nhưng chưa đủ để kết luận pH đó lớn hơn hay nhỏ hơn 4.
Do đó, loại A (vì chưa chắc pH nằm trong 4–13), loại B (vì không có cơ sở khẳng định chắc chắn pH < 4 chỉ từ quỳ tím), loại D (vì đề bài đã nêu rõ phản ứng cần điều kiện pH nhất định, tức có phụ thuộc pH).
Đáp án đúng là C: cần dùng thiết bị đo pH chính xác hơn (như máy đo pH điện cực) để xác định mẫu có đạt yêu cầu hay không, thay vì chỉ dựa vào quỳ tím.
Xác định hàm lượng ion ammonium
Nitrogen là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cho sinh vật, tuy nhiên hàm lượng nitrogen cao có thể gây ô nhiễm nguồn nước. Một nghiên cứu xác định hàm lượng ion ammonium (NH₄⁺) trong nước bề mặt ở Đồng bằng Sông Cửu Long và so sánh với tiêu chuẩn (nồng độ NH₄⁺ < 3 mg.L⁻¹) theo nguyên tắc sau:
– Chuẩn bị mẫu thử bằng cách pha loãng mẫu nước 10 lần.
– Ion NH₄⁺ được chuyển thành indophenol qua các phản ứng sau:
NH₄⁺ + ClO⁻ → NH₂Cl + H₂O
NH₂Cl + Dẫn xuất phenol → Indophenol (dung dịch A)
Cường độ màu (đậm/nhạt) của dung dịch A tỉ lệ thuận với nồng độ indophenol trong dung dịch. Khi đó máy đo cường độ màu có thể tính toán được hàm lượng indophenol, từ đó tính được hàm lượng NH₄⁺ trong mẫu đo. Kết quả cho thấy hàm lượng ion NH₄⁺ trong mẫu thử là 1,44 mg.L⁻¹.
– Các phản ứng cần thực hiện ở điều kiện pH trong khoảng từ 4 đến 13. Thiết bị chỉ đo được mẫu nước có hàm lượng NH₄⁺ nằm trong khoảng từ 0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹.
Nồng độ ion NH₄⁺ trong mẫu nước ban đầu (trước khi pha loãng) là mg.L⁻¹. Kết quả làm tròn đến 2 chữ số sau dấu phẩy thập phân.
Dạng câu hỏi: Chu trình nitrogen
Đáp án: 14,40
Theo dữ liệu, mẫu thử được chuẩn bị bằng cách pha loãng mẫu nước ban đầu 10 lần.
Kết quả đo trên mẫu thử (đã pha loãng) cho hàm lượng ion NH₄⁺ là 1,44 mg.L⁻¹.
Vì mẫu thử đã bị pha loãng 10 lần so với mẫu nước ban đầu, nên nồng độ NH₄⁺ trong mẫu nước ban đầu phải gấp 10 lần nồng độ đo được trên mẫu thử:
Lưu ý: Giá trị 1,44 mg.L⁻¹ đo được nằm trong khoảng đo cho phép của thiết bị (0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹), nên kết quả đo là đáng tin cậy và có thể tính ngược lại nồng độ ban đầu bằng hệ số pha loãng.
C(ban đầu) = C(mẫu thử) × 10 = 1,44 × 10 = 14,40 mg.L⁻¹
So với tiêu chuẩn (NH₄⁺ < 3 mg.L⁻¹ đối với mẫu nước chưa pha loãng), nồng độ 14,40 mg.L⁻¹ trong mẫu nước ban đầu đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép, cho thấy nguồn nước này có dấu hiệu ô nhiễm nitrogen.
Xác định hàm lượng ion ammonium
Nitrogen là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cho sinh vật, tuy nhiên hàm lượng nitrogen cao có thể gây ô nhiễm nguồn nước. Một nghiên cứu xác định hàm lượng ion ammonium (NH₄⁺) trong nước bề mặt ở Đồng bằng Sông Cửu Long và so sánh với tiêu chuẩn (nồng độ NH₄⁺ < 3 mg.L⁻¹) theo nguyên tắc sau:
– Chuẩn bị mẫu thử bằng cách pha loãng mẫu nước 10 lần.
– Ion NH₄⁺ được chuyển thành indophenol qua các phản ứng sau:
NH₄⁺ + ClO⁻ → NH₂Cl + H₂O
NH₂Cl + Dẫn xuất phenol → Indophenol (dung dịch A)
Cường độ màu (đậm/nhạt) của dung dịch A tỉ lệ thuận với nồng độ indophenol trong dung dịch. Khi đó máy đo cường độ màu có thể tính toán được hàm lượng indophenol, từ đó tính được hàm lượng NH₄⁺ trong mẫu đo. Kết quả cho thấy hàm lượng ion NH₄⁺ trong mẫu thử là 1,44 mg.L⁻¹.
– Các phản ứng cần thực hiện ở điều kiện pH trong khoảng từ 4 đến 13. Thiết bị chỉ đo được mẫu nước có hàm lượng NH₄⁺ nằm trong khoảng từ 0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹.
Từ kết quả thí nghiệm, các phát biểu được đưa ra như sau, đúng hay sai?
Dạng câu hỏi:Chu trình nitrogen
Chọn a và c đúng, b sai
a) Đúng
Nồng độ NH₄⁺ trong mẫu nước ban đầu tính được là 14,40 mg.L⁻¹ (= 1,44 × 10), trong khi tiêu chuẩn quy định NH₄⁺ phải nhỏ hơn 3 mg.L⁻¹. Như vậy 14,40 : 3 ≈ 4,8 lần, tức là gần gấp 5 lần tiêu chuẩn cho phép, phản ánh mức ô nhiễm nitrogen đáng kể.
b) Sai
Bước pha loãng mẫu 10 lần là cần thiết, vì thiết bị chỉ đo được mẫu nước có hàm lượng NH₄⁺ nằm trong khoảng từ 0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹. Nếu không pha loãng, với nồng độ thực tế 14,40 mg.L⁻¹ (vượt quá giới hạn đo tối đa 10,30 mg.L⁻¹), thiết bị sẽ không đo được chính xác hoặc báo lỗi vượt ngưỡng.
c) Đúng
Phương pháp trong thí nghiệm chỉ chuyển hóa và đo ion NH₄⁺ thành indophenol để định lượng, do đó chỉ xác định được hàm lượng nitrogen ở dạng ammonium. Nitrogen trong nước còn có thể tồn tại ở nhiều dạng khác như nitrate (NO₃⁻), nitrite (NO₂⁻), hoặc nitrogen hữu cơ, mà phương pháp này không đo được. Vì vậy, kết quả không phản ánh được tổng hàm lượng nitrogen trong mẫu nước.
Xác định hàm lượng ion ammonium
Nitrogen là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cho sinh vật, tuy nhiên hàm lượng nitrogen cao có thể gây ô nhiễm nguồn nước. Một nghiên cứu xác định hàm lượng ion ammonium (NH₄⁺) trong nước bề mặt ở Đồng bằng Sông Cửu Long và so sánh với tiêu chuẩn (nồng độ NH₄⁺ < 3 mg.L⁻¹) theo nguyên tắc sau:
– Chuẩn bị mẫu thử bằng cách pha loãng mẫu nước 10 lần.
– Ion NH₄⁺ được chuyển thành indophenol qua các phản ứng sau:
NH₄⁺ + ClO⁻ → NH₂Cl + H₂O
NH₂Cl + Dẫn xuất phenol → Indophenol (dung dịch A)
Cường độ màu (đậm/nhạt) của dung dịch A tỉ lệ thuận với nồng độ indophenol trong dung dịch. Khi đó máy đo cường độ màu có thể tính toán được hàm lượng indophenol, từ đó tính được hàm lượng NH₄⁺ trong mẫu đo. Kết quả cho thấy hàm lượng ion NH₄⁺ trong mẫu thử là 1,44 mg.L⁻¹.
– Các phản ứng cần thực hiện ở điều kiện pH trong khoảng từ 4 đến 13. Thiết bị chỉ đo được mẫu nước có hàm lượng NH₄⁺ nằm trong khoảng từ 0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹.
Dựa vào thông tin bài đọc, cho biết các phát biểu sau đúng hay sai?
Dạng câu hỏi: Chu trình nitrogen
Chọn a và b và c đúng
a) Đúng
Theo dữ liệu, ion NH₄⁺ được chuyển thành indophenol qua đúng hai phản ứng nối tiếp: NH₄⁺ + ClO⁻ → NH₂Cl + H₂O, sau đó NH₂Cl + Dẫn xuất phenol → Indophenol (dung dịch A).
b) Đúng
Đề bài nêu rõ cường độ màu (đậm/nhạt) của dung dịch A tỉ lệ thuận với nồng độ indophenol trong dung dịch, nghĩa là nồng độ indophenol càng cao thì màu càng đậm.
c) Đúng
Vì thiết bị chỉ đo được mẫu nước có hàm lượng NH₄⁺ nằm trong khoảng từ 0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹, trong khi nồng độ NH₄⁺ thực tế trong mẫu nước ban đầu (14,40 mg.L⁻¹) vượt quá giới hạn trên. Do đó cần pha loãng 10 lần để đưa nồng độ về mức 1,44 mg.L⁻¹, nằm trong khoảng đo cho phép của thiết bị.
Xác định hàm lượng ion ammonium
Nitrogen là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cho sinh vật, tuy nhiên hàm lượng nitrogen cao có thể gây ô nhiễm nguồn nước. Một nghiên cứu xác định hàm lượng ion ammonium (NH₄⁺) trong nước bề mặt ở Đồng bằng Sông Cửu Long và so sánh với tiêu chuẩn (nồng độ NH₄⁺ < 3 mg.L⁻¹) theo nguyên tắc sau:
– Chuẩn bị mẫu thử bằng cách pha loãng mẫu nước 10 lần.
– Ion NH₄⁺ được chuyển thành indophenol qua các phản ứng sau:
NH₄⁺ + ClO⁻ → NH₂Cl + H₂O
NH₂Cl + Dẫn xuất phenol → Indophenol (dung dịch A)
Cường độ màu (đậm/nhạt) của dung dịch A tỉ lệ thuận với nồng độ indophenol trong dung dịch. Khi đó máy đo cường độ màu có thể tính toán được hàm lượng indophenol, từ đó tính được hàm lượng NH₄⁺ trong mẫu đo. Kết quả cho thấy hàm lượng ion NH₄⁺ trong mẫu thử là 1,44 mg.L⁻¹.
– Các phản ứng cần thực hiện ở điều kiện pH trong khoảng từ 4 đến 13. Thiết bị chỉ đo được mẫu nước có hàm lượng NH₄⁺ nằm trong khoảng từ 0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹.
Có thể kết luận rằng mẫu nước này bị ô nhiễm NH₄⁺?
Dạng câu hỏi: Chu trình nitrogen
Chọn A
Theo tiêu chuẩn, nồng độ NH₄⁺ trong nước bề mặt phải nhỏ hơn 3 mg.L⁻¹.
Nồng độ NH₄⁺ trong mẫu nước ban đầu (trước khi pha loãng) được tính là: C(ban đầu) = C(mẫu thử) × 10 = 1,44 × 10 = 14,40 mg.L⁻¹.
So sánh 14,40 mg.L⁻¹ với tiêu chuẩn 3 mg.L⁻¹, ta thấy 14,40 > 3, tức là nồng độ NH₄⁺ trong mẫu nước vượt quá tiêu chuẩn cho phép (gấp khoảng 4,8 lần).
Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận rằng mẫu nước này bị ô nhiễm NH₄⁺ so với tiêu chuẩn đã đề ra
Sự gia tăng ồ ạt của việc sử dụng nhựa trong các sản phẩm tiêu dùng, từ chai lọ đến
quần áo, đã dẫn đến việc hàng triệu tấn nhựa bị thải ra vào môi trường hàng năm. Các
vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân hủy nhựa. Cho đến nay, hơn 90 chi vi khuẩn và nấm có khả năng phân hủy nhựa đã được phát hiện. Tuy nhiên, quá trình phân hủy sinh học nhựa bởi vi sinh vật diễn ra rất chậm và một số vi sinh vật không thể phân hủy được một số loại nhựa nhất định. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào phân lập các chủng vi sinh vật và đánh giá khả năng phân hủy nhựa của từng chủng mà chưa chú ý quá nhiều đến khả năng phân hủy khi các chủng được trộn cùng nhau.
Các nhà khoa học tại đại học Lagos đã tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng phân
hủy nhựa bởi các vi sinh vật. Trong nghiên cứu này, mẫu đất từ bãi rác gần trường đại
học Lagos chứa nhiều loại nhựa trong thời gian dài được thu thập. Từ các mẫu đất,
chủng vi khuẩn Pseudomonas sp. và nấm Aspergillus niger được chọn lọc để sử dụng
cho nghiên cứu. Khả năng phân hủy nhựa Polyethylene mật độ thấp (LDPE) của vi
khuẩn và nấm ở dạng nuôi cấy riêng lẻ và phối hợp được thực hiện trong ống nghiệm
thể tích 10 ml có chứa môi trường nuôi cấy và một dải nhựa LDPE có trọng lượng ban
đầu 0,1 g. Trọng lượng của dải nhựa và độ tăng trưởng sinh khối của vi sinh vật (độ
tăng số lượng tế bào vi sinh vật trong môi trường nuôi cấy) được kiểm tra định kì trong suốt quá trình thí nghiệm. Kết quả thí nghiệm được biểu diễn trong các đồ thị sau:

Theo đoạn văn, hạn chế chủ yếu của các nghiên cứu trước đây về phân hủy nhựa bởi vi sinh vật là gì?
Dạng câu hỏi: Ứng dụng vi sinh vật
Chọn B
Đoạn văn nêu rõ: "Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào phân lập các chủng vi sinh vật và đánh giá khả năng phân hủy nhựa của từng chủng mà chưa chú ý quá nhiều đến khả năng phân hủy khi các chủng được trộn cùng nhau." Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà nhóm tại Đại học Lagos hướng đến giải quyết (nuôi cấy riêng lẻ và phối hợp).
Sự gia tăng ồ ạt của việc sử dụng nhựa trong các sản phẩm tiêu dùng, từ chai lọ đến
quần áo, đã dẫn đến việc hàng triệu tấn nhựa bị thải ra vào môi trường hàng năm. Các
vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân hủy nhựa. Cho đến nay, hơn 90 chi vi khuẩn và nấm có khả năng phân hủy nhựa đã được phát hiện. Tuy nhiên, quá trình phân hủy sinh học nhựa bởi vi sinh vật diễn ra rất chậm và một số vi sinh vật không thể phân hủy được một số loại nhựa nhất định. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào phân lập các chủng vi sinh vật và đánh giá khả năng phân hủy nhựa của từng chủng mà chưa chú ý quá nhiều đến khả năng phân hủy khi các chủng được trộn cùng nhau.
Các nhà khoa học tại đại học Lagos đã tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng phân
hủy nhựa bởi các vi sinh vật. Trong nghiên cứu này, mẫu đất từ bãi rác gần trường đại
học Lagos chứa nhiều loại nhựa trong thời gian dài được thu thập. Từ các mẫu đất,
chủng vi khuẩn Pseudomonas sp. và nấm Aspergillus niger được chọn lọc để sử dụng
cho nghiên cứu. Khả năng phân hủy nhựa Polyethylene mật độ thấp (LDPE) của vi
khuẩn và nấm ở dạng nuôi cấy riêng lẻ và phối hợp được thực hiện trong ống nghiệm
thể tích 10 ml có chứa môi trường nuôi cấy và một dải nhựa LDPE có trọng lượng ban
đầu 0,1 g. Trọng lượng của dải nhựa và độ tăng trưởng sinh khối của vi sinh vật (độ
tăng số lượng tế bào vi sinh vật trong môi trường nuôi cấy) được kiểm tra định kì trong suốt quá trình thí nghiệm. Kết quả thí nghiệm được biểu diễn trong các đồ thị sau:

Nếu nhóm nghiên cứu thu mẫu đất từ một khu vườn trồng rau sạch (không có rác thải nhựa) thay vì bãi rác, điều gì có khả năng xảy ra nhất?
Dạng câu hỏi: Ứng dụng vi sinh vật
Chọn B
Bãi rác chứa nhiều loại nhựa trong thời gian dài tạo áp lực chọn lọc tự nhiên, khiến các vi sinh vật sống ở đó có xu hướng thích nghi và phát triển khả năng phân hủy nhựa để tồn tại. Ngược lại, đất ở khu vực không có nhựa thải sẽ ít có cơ hội xuất hiện các chủng vi sinh vật đã thích nghi với việc sử dụng nhựa làm nguồn dinh dưỡng/năng lượng, nên khả năng phân lập được các chủng có ích cho mục đích nghiên cứu sẽ thấp hơn.
Sự gia tăng ồ ạt của việc sử dụng nhựa trong các sản phẩm tiêu dùng, từ chai lọ đến
quần áo, đã dẫn đến việc hàng triệu tấn nhựa bị thải ra vào môi trường hàng năm. Các
vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân hủy nhựa. Cho đến nay, hơn 90 chi vi khuẩn và nấm có khả năng phân hủy nhựa đã được phát hiện. Tuy nhiên, quá trình phân hủy sinh học nhựa bởi vi sinh vật diễn ra rất chậm và một số vi sinh vật không thể phân hủy được một số loại nhựa nhất định. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào phân lập các chủng vi sinh vật và đánh giá khả năng phân hủy nhựa của từng chủng mà chưa chú ý quá nhiều đến khả năng phân hủy khi các chủng được trộn cùng nhau.
Các nhà khoa học tại đại học Lagos đã tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng phân
hủy nhựa bởi các vi sinh vật. Trong nghiên cứu này, mẫu đất từ bãi rác gần trường đại
học Lagos chứa nhiều loại nhựa trong thời gian dài được thu thập. Từ các mẫu đất,
chủng vi khuẩn Pseudomonas sp. và nấm Aspergillus niger được chọn lọc để sử dụng
cho nghiên cứu. Khả năng phân hủy nhựa Polyethylene mật độ thấp (LDPE) của vi
khuẩn và nấm ở dạng nuôi cấy riêng lẻ và phối hợp được thực hiện trong ống nghiệm
thể tích 10 ml có chứa môi trường nuôi cấy và một dải nhựa LDPE có trọng lượng ban
đầu 0,1 g. Trọng lượng của dải nhựa và độ tăng trưởng sinh khối của vi sinh vật (độ
tăng số lượng tế bào vi sinh vật trong môi trường nuôi cấy) được kiểm tra định kì trong suốt quá trình thí nghiệm. Kết quả thí nghiệm được biểu diễn trong các đồ thị sau:

Nếu thí nghiệm được tiếp tục với hiệu suất phân hủy LDPE không đổi, ước tính thời gian cần thiết để vi khuẩn Pseudomonas sp. (nuôi riêng lẻ) phân hủy được 20% trọng lượng dải nhựa ban đầu là bao lâu?
Dạng câu hỏi: Ứng dụng vi sinh vật
Chọn B
20% trọng lượng dải nhựa ban đầu tương đương với việc trọng lượng giảm từ 10,0 g/l xuống còn 8,0 g/l.
Dựa vào đường màu đỏ (Pseudomonas sp.) trong Hình 1, từ ngày 40 đến ngày 60, trọng lượng giảm từ 9,55 xuống 9,3 g/l, tức tốc độ giảm ≈ 0,0125 g/l mỗi ngày.
Với tốc độ không đổi, thời gian cần thêm để giảm từ 9,3 xuống 8,0 g/l là: (9,3 − 8,0) ÷ 0,0125 ≈ 104 ngày.
Tổng thời gian ước tính: 60 + 104 ≈ 164 ngày
Sự gia tăng ồ ạt của việc sử dụng nhựa trong các sản phẩm tiêu dùng, từ chai lọ đến
quần áo, đã dẫn đến việc hàng triệu tấn nhựa bị thải ra vào môi trường hàng năm. Các
vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân hủy nhựa. Cho đến nay, hơn 90 chi vi khuẩn và nấm có khả năng phân hủy nhựa đã được phát hiện. Tuy nhiên, quá trình phân hủy sinh học nhựa bởi vi sinh vật diễn ra rất chậm và một số vi sinh vật không thể phân hủy được một số loại nhựa nhất định. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào phân lập các chủng vi sinh vật và đánh giá khả năng phân hủy nhựa của từng chủng mà chưa chú ý quá nhiều đến khả năng phân hủy khi các chủng được trộn cùng nhau.
Các nhà khoa học tại đại học Lagos đã tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng phân
hủy nhựa bởi các vi sinh vật. Trong nghiên cứu này, mẫu đất từ bãi rác gần trường đại
học Lagos chứa nhiều loại nhựa trong thời gian dài được thu thập. Từ các mẫu đất,
chủng vi khuẩn Pseudomonas sp. và nấm Aspergillus niger được chọn lọc để sử dụng
cho nghiên cứu. Khả năng phân hủy nhựa Polyethylene mật độ thấp (LDPE) của vi
khuẩn và nấm ở dạng nuôi cấy riêng lẻ và phối hợp được thực hiện trong ống nghiệm
thể tích 10 ml có chứa môi trường nuôi cấy và một dải nhựa LDPE có trọng lượng ban
đầu 0,1 g. Trọng lượng của dải nhựa và độ tăng trưởng sinh khối của vi sinh vật (độ
tăng số lượng tế bào vi sinh vật trong môi trường nuôi cấy) được kiểm tra định kì trong suốt quá trình thí nghiệm. Kết quả thí nghiệm được biểu diễn trong các đồ thị sau:

Nhận xét nào sau đây về sinh khối vi sinh vật trong thí nghiệm trên là KHÔNG ĐÚNG (có thể chọn nhiều hơn 1 đáp án)?
Dạng câu hỏi: Ứng dụng vi sinh vật
Chọn A và D
A. Không đúng
Theo Hình 2, Aspergillus niger có độ tăng sinh khối cao nhất (lên đến khoảng 2,3×10⁸ tế bào/ml) nhưng lại có mức giảm trọng lượng nhựa ít nhất trong ba nhóm (chỉ còn khoảng 9,1 g/l ở cuối thí nghiệm, so với hỗn hợp giảm còn 8,5 g/l). Điều này cho thấy sinh khối tăng nhanh không đồng nghĩa với khả năng phân hủy nhựa mạnh hơn.
B.Đúng
Từ ngày 0 đến 10, cả ba đường trong Hình 1 đều giữ nguyên ở mức 10,0 g/l, cho thấy chưa có sự khác biệt về tốc độ phân hủy giữa các chủng ở giai đoạn đầu.
C. Đúng
Trong Hình 2, đường của Aspergillus niger kéo dài đến giá trị trục hoành lớn nhất (~2,3×10⁸ tế bào/ml), cao hơn hẳn so với Pseudomonas sp. (~1,7×10⁸) và hỗn hợp (~2,2×10⁸).
D. Không đúng
Trên thực tế, Pseudomonas sp. mới là nhóm có độ tăng sinh khối thấp nhất (chỉ khoảng 1,7×10⁸ tế bào/ml), không phải hỗn hợp hai chủng (khoảng 2,2×10⁸ tế bào/ml). Mặc dù hỗn hợp phân hủy nhựa nhanh nhất là đúng, nhưng tiền đề về sinh khối thấp nhất là sai, khiến cả nhận định này không chính xác
Sự gia tăng ồ ạt của việc sử dụng nhựa trong các sản phẩm tiêu dùng, từ chai lọ đến
quần áo, đã dẫn đến việc hàng triệu tấn nhựa bị thải ra vào môi trường hàng năm. Các
vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân hủy nhựa. Cho đến nay, hơn 90 chi vi khuẩn và nấm có khả năng phân hủy nhựa đã được phát hiện. Tuy nhiên, quá trình phân hủy sinh học nhựa bởi vi sinh vật diễn ra rất chậm và một số vi sinh vật không thể phân hủy được một số loại nhựa nhất định. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào phân lập các chủng vi sinh vật và đánh giá khả năng phân hủy nhựa của từng chủng mà chưa chú ý quá nhiều đến khả năng phân hủy khi các chủng được trộn cùng nhau.
Các nhà khoa học tại đại học Lagos đã tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng phân
hủy nhựa bởi các vi sinh vật. Trong nghiên cứu này, mẫu đất từ bãi rác gần trường đại
học Lagos chứa nhiều loại nhựa trong thời gian dài được thu thập. Từ các mẫu đất,
chủng vi khuẩn Pseudomonas sp. và nấm Aspergillus niger được chọn lọc để sử dụng
cho nghiên cứu. Khả năng phân hủy nhựa Polyethylene mật độ thấp (LDPE) của vi
khuẩn và nấm ở dạng nuôi cấy riêng lẻ và phối hợp được thực hiện trong ống nghiệm
thể tích 10 ml có chứa môi trường nuôi cấy và một dải nhựa LDPE có trọng lượng ban
đầu 0,1 g. Trọng lượng của dải nhựa và độ tăng trưởng sinh khối của vi sinh vật (độ
tăng số lượng tế bào vi sinh vật trong môi trường nuôi cấy) được kiểm tra định kì trong suốt quá trình thí nghiệm. Kết quả thí nghiệm được biểu diễn trong các đồ thị sau:

Dựa vào thông tin bài đọc, cho biết các phát biểu sau đúng hay sai?
Dạng câu hỏi: Ứng dụng vi sinh vật
Chọn a và b và c đúng
a) Đúng
Hình 2, Aspergillus niger đạt độ tăng sinh khối cao nhất (khoảng 2,3×10⁸ tế bào/ml) trong ba nhóm, nhưng theo Hình 1, đường của A. niger (màu xanh dương) lại có mức giảm trọng lượng nhựa thấp hơn so với hỗn hợp (chỉ còn khoảng 8,75 g/l ở ngày 60, so với hỗn hợp còn 8,5 g/l), cho thấy sinh khối tăng nhanh không tương ứng với hiệu quả phân hủy cao nhất.
b) Đúng
Hình 1, đường màu đen (hỗn hợp A. niger & Pseudomonas sp.) luôn nằm thấp nhất trong suốt quá trình thí nghiệm (từ ngày 20 đến ngày 60), đạt trọng lượng còn lại thấp nhất (~8,5 g/l ở ngày 60), chứng tỏ đây là nhóm phân hủy nhựa hiệu quả nhất.
c) Đúng
So sánh riêng lẻ Pseudomonas sp. giảm chậm nhất (còn 9,3 g/l ở ngày 60), A. niger giảm khá hơn (8,75 g/l), nhưng khi phối hợp cả hai thì mức giảm còn mạnh hơn nữa (8,5 g/l). Điều này cho thấy sự phối hợp giữa hai chủng có tác dụng hiệp đồng (synergy), giúp tăng hiệu quả phân hủy nhựa so với từng chủng riêng lẻ.
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đáp án | C | 14,40 | A | A | A | B | B | B | A | A |
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.
Đăng nhập để làm bài