Đáp án & lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 02 - Sinh học

Đánh giá Tư duy (TSA)Môn Tư duy khoa học - Sinh họcNăm 202713 câuChuẩn GDPT mới

Phần I

Câu 1

Xác định hàm lượng ion ammonium

Nitrogen là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cho sinh vật, tuy nhiên hàm lượng nitrogen cao có thể gây ô nhiễm nguồn nước. Một nghiên cứu xác định hàm lượng ion ammonium (NH₄⁺) trong nước bề mặt ở Đồng bằng Sông Cửu Long và so sánh với tiêu chuẩn (nồng độ NH₄⁺ < 3 mg.L⁻¹) theo nguyên tắc sau:

– Chuẩn bị mẫu thử bằng cách pha loãng mẫu nước 10 lần.

– Ion NH₄⁺ được chuyển thành indophenol qua các phản ứng sau:

NH₄⁺ + ClO⁻ → NH₂Cl + H₂O

NH₂Cl + Dẫn xuất phenol → Indophenol (dung dịch A)

Cường độ màu (đậm/nhạt) của dung dịch A tỉ lệ thuận với nồng độ indophenol trong dung dịch. Khi đó máy đo cường độ màu có thể tính toán được hàm lượng indophenol, từ đó tính được hàm lượng NH₄⁺ trong mẫu đo. Kết quả cho thấy hàm lượng ion NH₄⁺ trong mẫu thử là 1,44 mg.L⁻¹.

– Các phản ứng cần thực hiện ở điều kiện pH trong khoảng từ 4 đến 13. Thiết bị chỉ đo được mẫu nước có hàm lượng NH₄⁺ nằm trong khoảng từ 0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹.

Trước khi tiến hành đo cường độ màu, để kiểm tra pH người ta nhúng giấy quỳ tím vào mẫu thử, nhận thấy quỳ tím chuyển sang màu đỏ. Kết luận nào sau đây là đúng?

A
pH của mẫu thử phù hợp để tiến hành đo vì nằm trong khoảng 4 đến 13.
B
pH của mẫu thử chắc chắn nhỏ hơn 4, không phù hợp để đo, cần điều chỉnh bằng kiềm.
C
Quỳ tím chỉ cho biết mẫu thử có tính acid (pH < 7), chưa thể khẳng định giá trị pH cụ thể có nằm trong khoảng 4–13 hay không; cần dùng máy đo pH để xác định chính xác.
D
Kết quả này không ảnh hưởng đến phép đo vì phản ứng tạo indophenol không phụ thuộc vào pH.

Lời giải

Dạng câu hỏi: Chu trình nitrogen

Giải thích:

Chọn C

Giấy quỳ tím chỉ là chất chỉ thị định tính: quỳ hóa đỏ chỉ cho biết môi trường có tính acid (pH < 7), quỳ hóa xanh cho biết môi trường base (pH > 7), không đổi màu cho biết môi trường gần trung tính. Quỳ tím không cho biết giá trị pH cụ thể.

Theo dữ liệu, phản ứng tạo indophenol cần thực hiện ở pH trong khoảng 4 đến 13 — đây là một khoảng khá rộng bao gồm cả một phần vùng acid yếu. Vì vậy, việc quỳ tím hóa đỏ chỉ cho biết pH < 7, nhưng chưa đủ để kết luận pH đó lớn hơn hay nhỏ hơn 4.

Do đó, loại A (vì chưa chắc pH nằm trong 4–13), loại B (vì không có cơ sở khẳng định chắc chắn pH < 4 chỉ từ quỳ tím), loại D (vì đề bài đã nêu rõ phản ứng cần điều kiện pH nhất định, tức có phụ thuộc pH).

Đáp án đúng là C: cần dùng thiết bị đo pH chính xác hơn (như máy đo pH điện cực) để xác định mẫu có đạt yêu cầu hay không, thay vì chỉ dựa vào quỳ tím.

Câu 2

Xác định hàm lượng ion ammonium

Nitrogen là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cho sinh vật, tuy nhiên hàm lượng nitrogen cao có thể gây ô nhiễm nguồn nước. Một nghiên cứu xác định hàm lượng ion ammonium (NH₄⁺) trong nước bề mặt ở Đồng bằng Sông Cửu Long và so sánh với tiêu chuẩn (nồng độ NH₄⁺ < 3 mg.L⁻¹) theo nguyên tắc sau:

– Chuẩn bị mẫu thử bằng cách pha loãng mẫu nước 10 lần.

– Ion NH₄⁺ được chuyển thành indophenol qua các phản ứng sau:

NH₄⁺ + ClO⁻ → NH₂Cl + H₂O

NH₂Cl + Dẫn xuất phenol → Indophenol (dung dịch A)

Cường độ màu (đậm/nhạt) của dung dịch A tỉ lệ thuận với nồng độ indophenol trong dung dịch. Khi đó máy đo cường độ màu có thể tính toán được hàm lượng indophenol, từ đó tính được hàm lượng NH₄⁺ trong mẫu đo. Kết quả cho thấy hàm lượng ion NH₄⁺ trong mẫu thử là 1,44 mg.L⁻¹.

– Các phản ứng cần thực hiện ở điều kiện pH trong khoảng từ 4 đến 13. Thiết bị chỉ đo được mẫu nước có hàm lượng NH₄⁺ nằm trong khoảng từ 0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹.

Nồng độ ion NH₄⁺ trong mẫu nước ban đầu (trước khi pha loãng) là mg.L⁻¹. Kết quả làm tròn đến 2 chữ số sau dấu phẩy thập phân.

Đáp án đúng: 14,40

Lời giải

Dạng câu hỏi: Chu trình nitrogen

Đáp án: 14,40

Theo dữ liệu, mẫu thử được chuẩn bị bằng cách pha loãng mẫu nước ban đầu 10 lần.

Kết quả đo trên mẫu thử (đã pha loãng) cho hàm lượng ion NH₄⁺ là 1,44 mg.L⁻¹.

Vì mẫu thử đã bị pha loãng 10 lần so với mẫu nước ban đầu, nên nồng độ NH₄⁺ trong mẫu nước ban đầu phải gấp 10 lần nồng độ đo được trên mẫu thử:

Lưu ý: Giá trị 1,44 mg.L⁻¹ đo được nằm trong khoảng đo cho phép của thiết bị (0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹), nên kết quả đo là đáng tin cậy và có thể tính ngược lại nồng độ ban đầu bằng hệ số pha loãng.

C(ban đầu) = C(mẫu thử) × 10 = 1,44 × 10 = 14,40 mg.L⁻¹

So với tiêu chuẩn (NH₄⁺ < 3 mg.L⁻¹ đối với mẫu nước chưa pha loãng), nồng độ 14,40 mg.L⁻¹ trong mẫu nước ban đầu đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép, cho thấy nguồn nước này có dấu hiệu ô nhiễm nitrogen.

Câu 3

Xác định hàm lượng ion ammonium

Nitrogen là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cho sinh vật, tuy nhiên hàm lượng nitrogen cao có thể gây ô nhiễm nguồn nước. Một nghiên cứu xác định hàm lượng ion ammonium (NH₄⁺) trong nước bề mặt ở Đồng bằng Sông Cửu Long và so sánh với tiêu chuẩn (nồng độ NH₄⁺ < 3 mg.L⁻¹) theo nguyên tắc sau:

– Chuẩn bị mẫu thử bằng cách pha loãng mẫu nước 10 lần.

– Ion NH₄⁺ được chuyển thành indophenol qua các phản ứng sau:

NH₄⁺ + ClO⁻ → NH₂Cl + H₂O

NH₂Cl + Dẫn xuất phenol → Indophenol (dung dịch A)

Cường độ màu (đậm/nhạt) của dung dịch A tỉ lệ thuận với nồng độ indophenol trong dung dịch. Khi đó máy đo cường độ màu có thể tính toán được hàm lượng indophenol, từ đó tính được hàm lượng NH₄⁺ trong mẫu đo. Kết quả cho thấy hàm lượng ion NH₄⁺ trong mẫu thử là 1,44 mg.L⁻¹.

– Các phản ứng cần thực hiện ở điều kiện pH trong khoảng từ 4 đến 13. Thiết bị chỉ đo được mẫu nước có hàm lượng NH₄⁺ nằm trong khoảng từ 0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹.

Từ kết quả thí nghiệm, các phát biểu được đưa ra như sau, đúng hay sai?

A
Hàm lượng ion NH₄⁺ trong mẫu nước ban đầu (14,40 mg.L⁻¹) đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép (< 3 mg.L⁻¹) gần 5 lần, cho thấy nguồn nước có dấu hiệu ô nhiễm nitrogen ở mức đáng lo ngại.
B
Việc pha loãng mẫu nước 10 lần trước khi đo là bước không bắt buộc, có thể bỏ qua mà không ảnh hưởng đến độ chính xác của kết quả.
C
Kết quả đo được bằng phương pháp trên chỉ phản ánh hàm lượng nitrogen tồn tại ở dạng ion NH₄⁺, không phản ánh được tổng hàm lượng nitrogen (bao gồm cả các dạng như NO₃⁻, NO₂⁻, nitrogen hữu cơ...) có trong mẫu nước.

Lời giải

Dạng câu hỏi:Chu trình nitrogen

Chọn a và c đúng, b sai

a) Đúng

Nồng độ NH₄⁺ trong mẫu nước ban đầu tính được là 14,40 mg.L⁻¹ (= 1,44 × 10), trong khi tiêu chuẩn quy định NH₄⁺ phải nhỏ hơn 3 mg.L⁻¹. Như vậy 14,40 : 3 ≈ 4,8 lần, tức là gần gấp 5 lần tiêu chuẩn cho phép, phản ánh mức ô nhiễm nitrogen đáng kể.

b) Sai

Bước pha loãng mẫu 10 lần là cần thiết, vì thiết bị chỉ đo được mẫu nước có hàm lượng NH₄⁺ nằm trong khoảng từ 0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹. Nếu không pha loãng, với nồng độ thực tế 14,40 mg.L⁻¹ (vượt quá giới hạn đo tối đa 10,30 mg.L⁻¹), thiết bị sẽ không đo được chính xác hoặc báo lỗi vượt ngưỡng.

c) Đúng

Phương pháp trong thí nghiệm chỉ chuyển hóa và đo ion NH₄⁺ thành indophenol để định lượng, do đó chỉ xác định được hàm lượng nitrogen ở dạng ammonium. Nitrogen trong nước còn có thể tồn tại ở nhiều dạng khác như nitrate (NO₃⁻), nitrite (NO₂⁻), hoặc nitrogen hữu cơ, mà phương pháp này không đo được. Vì vậy, kết quả không phản ánh được tổng hàm lượng nitrogen trong mẫu nước.

Câu 4

Xác định hàm lượng ion ammonium

Nitrogen là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cho sinh vật, tuy nhiên hàm lượng nitrogen cao có thể gây ô nhiễm nguồn nước. Một nghiên cứu xác định hàm lượng ion ammonium (NH₄⁺) trong nước bề mặt ở Đồng bằng Sông Cửu Long và so sánh với tiêu chuẩn (nồng độ NH₄⁺ < 3 mg.L⁻¹) theo nguyên tắc sau:

– Chuẩn bị mẫu thử bằng cách pha loãng mẫu nước 10 lần.

– Ion NH₄⁺ được chuyển thành indophenol qua các phản ứng sau:

NH₄⁺ + ClO⁻ → NH₂Cl + H₂O

NH₂Cl + Dẫn xuất phenol → Indophenol (dung dịch A)

Cường độ màu (đậm/nhạt) của dung dịch A tỉ lệ thuận với nồng độ indophenol trong dung dịch. Khi đó máy đo cường độ màu có thể tính toán được hàm lượng indophenol, từ đó tính được hàm lượng NH₄⁺ trong mẫu đo. Kết quả cho thấy hàm lượng ion NH₄⁺ trong mẫu thử là 1,44 mg.L⁻¹.

– Các phản ứng cần thực hiện ở điều kiện pH trong khoảng từ 4 đến 13. Thiết bị chỉ đo được mẫu nước có hàm lượng NH₄⁺ nằm trong khoảng từ 0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹.

Dựa vào thông tin bài đọc, cho biết các phát biểu sau đúng hay sai?

A
Indophenol được tạo thành qua hai giai đoạn phản ứng: đầu tiên NH₄⁺ phản ứng với ClO⁻ tạo NH₂Cl, sau đó NH₂Cl tiếp tục phản ứng với dẫn xuất phenol để tạo thành indophenol.
B
Nồng độ indophenol trong dung dịch A càng lớn thì cường độ màu của dung dịch càng đậm.
C
Việc pha loãng mẫu nước 10 lần nhằm đưa nồng độ NH₄⁺ về khoảng đo phù hợp của thiết bị (từ 0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹).

Lời giải

Dạng câu hỏi: Chu trình nitrogen

Chọn a và b và c đúng

a) Đúng

Theo dữ liệu, ion NH₄⁺ được chuyển thành indophenol qua đúng hai phản ứng nối tiếp: NH₄⁺ + ClO⁻ → NH₂Cl + H₂O, sau đó NH₂Cl + Dẫn xuất phenol → Indophenol (dung dịch A).

b) Đúng

Đề bài nêu rõ cường độ màu (đậm/nhạt) của dung dịch A tỉ lệ thuận với nồng độ indophenol trong dung dịch, nghĩa là nồng độ indophenol càng cao thì màu càng đậm.

c) Đúng

Vì thiết bị chỉ đo được mẫu nước có hàm lượng NH₄⁺ nằm trong khoảng từ 0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹, trong khi nồng độ NH₄⁺ thực tế trong mẫu nước ban đầu (14,40 mg.L⁻¹) vượt quá giới hạn trên. Do đó cần pha loãng 10 lần để đưa nồng độ về mức 1,44 mg.L⁻¹, nằm trong khoảng đo cho phép của thiết bị.

Câu 5

Xác định hàm lượng ion ammonium

Nitrogen là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cho sinh vật, tuy nhiên hàm lượng nitrogen cao có thể gây ô nhiễm nguồn nước. Một nghiên cứu xác định hàm lượng ion ammonium (NH₄⁺) trong nước bề mặt ở Đồng bằng Sông Cửu Long và so sánh với tiêu chuẩn (nồng độ NH₄⁺ < 3 mg.L⁻¹) theo nguyên tắc sau:

– Chuẩn bị mẫu thử bằng cách pha loãng mẫu nước 10 lần.

– Ion NH₄⁺ được chuyển thành indophenol qua các phản ứng sau:

NH₄⁺ + ClO⁻ → NH₂Cl + H₂O

NH₂Cl + Dẫn xuất phenol → Indophenol (dung dịch A)

Cường độ màu (đậm/nhạt) của dung dịch A tỉ lệ thuận với nồng độ indophenol trong dung dịch. Khi đó máy đo cường độ màu có thể tính toán được hàm lượng indophenol, từ đó tính được hàm lượng NH₄⁺ trong mẫu đo. Kết quả cho thấy hàm lượng ion NH₄⁺ trong mẫu thử là 1,44 mg.L⁻¹.

– Các phản ứng cần thực hiện ở điều kiện pH trong khoảng từ 4 đến 13. Thiết bị chỉ đo được mẫu nước có hàm lượng NH₄⁺ nằm trong khoảng từ 0,26 đến 10,30 mg.L⁻¹.

Có thể kết luận rằng mẫu nước này bị ô nhiễm NH₄⁺?

A
Đúng
B
Sai

Lời giải

Dạng câu hỏi: Chu trình nitrogen

Chọn A

Theo tiêu chuẩn, nồng độ NH₄⁺ trong nước bề mặt phải nhỏ hơn 3 mg.L⁻¹.

Nồng độ NH₄⁺ trong mẫu nước ban đầu (trước khi pha loãng) được tính là: C(ban đầu) = C(mẫu thử) × 10 = 1,44 × 10 = 14,40 mg.L⁻¹.

So sánh 14,40 mg.L⁻¹ với tiêu chuẩn 3 mg.L⁻¹, ta thấy 14,40 > 3, tức là nồng độ NH₄⁺ trong mẫu nước vượt quá tiêu chuẩn cho phép (gấp khoảng 4,8 lần).

Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận rằng mẫu nước này bị ô nhiễm NH₄⁺ so với tiêu chuẩn đã đề ra

Câu 6

Sự gia tăng ồ ạt của việc sử dụng nhựa trong các sản phẩm tiêu dùng, từ chai lọ đến

quần áo, đã dẫn đến việc hàng triệu tấn nhựa bị thải ra vào môi trường hàng năm. Các

vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân hủy nhựa. Cho đến nay, hơn 90 chi vi khuẩn và nấm có khả năng phân hủy nhựa đã được phát hiện. Tuy nhiên, quá trình phân hủy sinh học nhựa bởi vi sinh vật diễn ra rất chậm và một số vi sinh vật không thể phân hủy được một số loại nhựa nhất định. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào phân lập các chủng vi sinh vật và đánh giá khả năng phân hủy nhựa của từng chủng mà chưa chú ý quá nhiều đến khả năng phân hủy khi các chủng được trộn cùng nhau.

Các nhà khoa học tại đại học Lagos đã tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng phân

hủy nhựa bởi các vi sinh vật. Trong nghiên cứu này, mẫu đất từ bãi rác gần trường đại

học Lagos chứa nhiều loại nhựa trong thời gian dài được thu thập. Từ các mẫu đất,

chủng vi khuẩn Pseudomonas sp. và nấm Aspergillus niger được chọn lọc để sử dụng

cho nghiên cứu. Khả năng phân hủy nhựa Polyethylene mật độ thấp (LDPE) của vi

khuẩn và nấm ở dạng nuôi cấy riêng lẻ và phối hợp được thực hiện trong ống nghiệm

thể tích 10 ml có chứa môi trường nuôi cấy và một dải nhựa LDPE có trọng lượng ban

đầu 0,1 g. Trọng lượng của dải nhựa và độ tăng trưởng sinh khối của vi sinh vật (độ

tăng số lượng tế bào vi sinh vật trong môi trường nuôi cấy) được kiểm tra định kì trong suốt quá trình thí nghiệm. Kết quả thí nghiệm được biểu diễn trong các đồ thị sau:

Hình minh họa

Theo đoạn văn, hạn chế chủ yếu của các nghiên cứu trước đây về phân hủy nhựa bởi vi sinh vật là gì?

A
Chưa phát hiện đủ nhiều chủng vi sinh vật có khả năng phân hủy nhựa.
B
Chưa đánh giá khả năng phân hủy nhựa khi các chủng vi sinh vật được phối hợp (trộn) cùng nhau.
C
Chưa xác định được tốc độ phân hủy nhựa của từng chủng vi sinh vật riêng lẻ.
D
Chưa tìm ra loại nhựa nào mà vi sinh vật có thể phân hủy được.

Lời giải

Dạng câu hỏi: Ứng dụng vi sinh vật

Chọn B

Đoạn văn nêu rõ: "Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào phân lập các chủng vi sinh vật và đánh giá khả năng phân hủy nhựa của từng chủng mà chưa chú ý quá nhiều đến khả năng phân hủy khi các chủng được trộn cùng nhau." Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà nhóm tại Đại học Lagos hướng đến giải quyết (nuôi cấy riêng lẻ và phối hợp).

Câu 7

Sự gia tăng ồ ạt của việc sử dụng nhựa trong các sản phẩm tiêu dùng, từ chai lọ đến

quần áo, đã dẫn đến việc hàng triệu tấn nhựa bị thải ra vào môi trường hàng năm. Các

vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân hủy nhựa. Cho đến nay, hơn 90 chi vi khuẩn và nấm có khả năng phân hủy nhựa đã được phát hiện. Tuy nhiên, quá trình phân hủy sinh học nhựa bởi vi sinh vật diễn ra rất chậm và một số vi sinh vật không thể phân hủy được một số loại nhựa nhất định. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào phân lập các chủng vi sinh vật và đánh giá khả năng phân hủy nhựa của từng chủng mà chưa chú ý quá nhiều đến khả năng phân hủy khi các chủng được trộn cùng nhau.

Các nhà khoa học tại đại học Lagos đã tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng phân

hủy nhựa bởi các vi sinh vật. Trong nghiên cứu này, mẫu đất từ bãi rác gần trường đại

học Lagos chứa nhiều loại nhựa trong thời gian dài được thu thập. Từ các mẫu đất,

chủng vi khuẩn Pseudomonas sp. và nấm Aspergillus niger được chọn lọc để sử dụng

cho nghiên cứu. Khả năng phân hủy nhựa Polyethylene mật độ thấp (LDPE) của vi

khuẩn và nấm ở dạng nuôi cấy riêng lẻ và phối hợp được thực hiện trong ống nghiệm

thể tích 10 ml có chứa môi trường nuôi cấy và một dải nhựa LDPE có trọng lượng ban

đầu 0,1 g. Trọng lượng của dải nhựa và độ tăng trưởng sinh khối của vi sinh vật (độ

tăng số lượng tế bào vi sinh vật trong môi trường nuôi cấy) được kiểm tra định kì trong suốt quá trình thí nghiệm. Kết quả thí nghiệm được biểu diễn trong các đồ thị sau:

Hình minh họa

Nếu nhóm nghiên cứu thu mẫu đất từ một khu vườn trồng rau sạch (không có rác thải nhựa) thay vì bãi rác, điều gì có khả năng xảy ra nhất?

A
Khả năng phân lập được vi sinh vật có khả năng phân hủy nhựa sẽ cao hơn.
B
Khả năng phân lập được vi sinh vật có khả năng phân hủy nhựa sẽ thấp hơn, vì môi trường này ít tiếp xúc lâu dài với nhựa.
C
Không có sự khác biệt vì mọi vi sinh vật trong đất đều có khả năng phân hủy nhựa như nhau.
D
Kết quả nghiên cứu sẽ chính xác hơn vì mẫu đất sạch hơn.

Lời giải

Dạng câu hỏi: Ứng dụng vi sinh vật

Chọn B

Bãi rác chứa nhiều loại nhựa trong thời gian dài tạo áp lực chọn lọc tự nhiên, khiến các vi sinh vật sống ở đó có xu hướng thích nghi và phát triển khả năng phân hủy nhựa để tồn tại. Ngược lại, đất ở khu vực không có nhựa thải sẽ ít có cơ hội xuất hiện các chủng vi sinh vật đã thích nghi với việc sử dụng nhựa làm nguồn dinh dưỡng/năng lượng, nên khả năng phân lập được các chủng có ích cho mục đích nghiên cứu sẽ thấp hơn.

Câu 8

Sự gia tăng ồ ạt của việc sử dụng nhựa trong các sản phẩm tiêu dùng, từ chai lọ đến

quần áo, đã dẫn đến việc hàng triệu tấn nhựa bị thải ra vào môi trường hàng năm. Các

vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân hủy nhựa. Cho đến nay, hơn 90 chi vi khuẩn và nấm có khả năng phân hủy nhựa đã được phát hiện. Tuy nhiên, quá trình phân hủy sinh học nhựa bởi vi sinh vật diễn ra rất chậm và một số vi sinh vật không thể phân hủy được một số loại nhựa nhất định. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào phân lập các chủng vi sinh vật và đánh giá khả năng phân hủy nhựa của từng chủng mà chưa chú ý quá nhiều đến khả năng phân hủy khi các chủng được trộn cùng nhau.

Các nhà khoa học tại đại học Lagos đã tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng phân

hủy nhựa bởi các vi sinh vật. Trong nghiên cứu này, mẫu đất từ bãi rác gần trường đại

học Lagos chứa nhiều loại nhựa trong thời gian dài được thu thập. Từ các mẫu đất,

chủng vi khuẩn Pseudomonas sp. và nấm Aspergillus niger được chọn lọc để sử dụng

cho nghiên cứu. Khả năng phân hủy nhựa Polyethylene mật độ thấp (LDPE) của vi

khuẩn và nấm ở dạng nuôi cấy riêng lẻ và phối hợp được thực hiện trong ống nghiệm

thể tích 10 ml có chứa môi trường nuôi cấy và một dải nhựa LDPE có trọng lượng ban

đầu 0,1 g. Trọng lượng của dải nhựa và độ tăng trưởng sinh khối của vi sinh vật (độ

tăng số lượng tế bào vi sinh vật trong môi trường nuôi cấy) được kiểm tra định kì trong suốt quá trình thí nghiệm. Kết quả thí nghiệm được biểu diễn trong các đồ thị sau:

Hình minh họa

Nếu thí nghiệm được tiếp tục với hiệu suất phân hủy LDPE không đổi, ước tính thời gian cần thiết để vi khuẩn Pseudomonas sp. (nuôi riêng lẻ) phân hủy được 20% trọng lượng dải nhựa ban đầu là bao lâu?

A
Khoảng 145 ngày
B
Khoảng 165 ngày
C
Khoảng 185 ngày
D
Khoảng 205 ngày

Lời giải

Dạng câu hỏi: Ứng dụng vi sinh vật

Chọn B

20% trọng lượng dải nhựa ban đầu tương đương với việc trọng lượng giảm từ 10,0 g/l xuống còn 8,0 g/l.

Dựa vào đường màu đỏ (Pseudomonas sp.) trong Hình 1, từ ngày 40 đến ngày 60, trọng lượng giảm từ 9,55 xuống 9,3 g/l, tức tốc độ giảm ≈ 0,0125 g/l mỗi ngày.

Với tốc độ không đổi, thời gian cần thêm để giảm từ 9,3 xuống 8,0 g/l là: (9,3 − 8,0) ÷ 0,0125 ≈ 104 ngày.

Tổng thời gian ước tính: 60 + 104 ≈ 164 ngày

Câu 9

Sự gia tăng ồ ạt của việc sử dụng nhựa trong các sản phẩm tiêu dùng, từ chai lọ đến

quần áo, đã dẫn đến việc hàng triệu tấn nhựa bị thải ra vào môi trường hàng năm. Các

vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân hủy nhựa. Cho đến nay, hơn 90 chi vi khuẩn và nấm có khả năng phân hủy nhựa đã được phát hiện. Tuy nhiên, quá trình phân hủy sinh học nhựa bởi vi sinh vật diễn ra rất chậm và một số vi sinh vật không thể phân hủy được một số loại nhựa nhất định. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào phân lập các chủng vi sinh vật và đánh giá khả năng phân hủy nhựa của từng chủng mà chưa chú ý quá nhiều đến khả năng phân hủy khi các chủng được trộn cùng nhau.

Các nhà khoa học tại đại học Lagos đã tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng phân

hủy nhựa bởi các vi sinh vật. Trong nghiên cứu này, mẫu đất từ bãi rác gần trường đại

học Lagos chứa nhiều loại nhựa trong thời gian dài được thu thập. Từ các mẫu đất,

chủng vi khuẩn Pseudomonas sp. và nấm Aspergillus niger được chọn lọc để sử dụng

cho nghiên cứu. Khả năng phân hủy nhựa Polyethylene mật độ thấp (LDPE) của vi

khuẩn và nấm ở dạng nuôi cấy riêng lẻ và phối hợp được thực hiện trong ống nghiệm

thể tích 10 ml có chứa môi trường nuôi cấy và một dải nhựa LDPE có trọng lượng ban

đầu 0,1 g. Trọng lượng của dải nhựa và độ tăng trưởng sinh khối của vi sinh vật (độ

tăng số lượng tế bào vi sinh vật trong môi trường nuôi cấy) được kiểm tra định kì trong suốt quá trình thí nghiệm. Kết quả thí nghiệm được biểu diễn trong các đồ thị sau:

Hình minh họa

Nhận xét nào sau đây về sinh khối vi sinh vật trong thí nghiệm trên là KHÔNG ĐÚNG (có thể chọn nhiều hơn 1 đáp án)?

A
Sinh khối càng tăng nhanh thì tốc độ phân hủy nhựa của chủng đó càng nhanh.
B
Ở giai đoạn đầu thí nghiệm (0–10 ngày), tốc độ giảm trọng lượng nhựa giữa các chủng gần như không có sự khác biệt.
C
Aspergillus niger có độ tăng sinh khối cao nhất trong ba nhóm thí nghiệm.
D
Hỗn hợp hai chủng vi sinh vật có độ tăng sinh khối thấp nhất trong ba nhóm nhưng lại phân hủy nhựa nhanh nhất.

Lời giải

Dạng câu hỏi: Ứng dụng vi sinh vật

Chọn A và D

A. Không đúng

Theo Hình 2, Aspergillus niger có độ tăng sinh khối cao nhất (lên đến khoảng 2,3×10⁸ tế bào/ml) nhưng lại có mức giảm trọng lượng nhựa ít nhất trong ba nhóm (chỉ còn khoảng 9,1 g/l ở cuối thí nghiệm, so với hỗn hợp giảm còn 8,5 g/l). Điều này cho thấy sinh khối tăng nhanh không đồng nghĩa với khả năng phân hủy nhựa mạnh hơn.

B.Đúng

Từ ngày 0 đến 10, cả ba đường trong Hình 1 đều giữ nguyên ở mức 10,0 g/l, cho thấy chưa có sự khác biệt về tốc độ phân hủy giữa các chủng ở giai đoạn đầu.

C. Đúng

Trong Hình 2, đường của Aspergillus niger kéo dài đến giá trị trục hoành lớn nhất (~2,3×10⁸ tế bào/ml), cao hơn hẳn so với Pseudomonas sp. (~1,7×10⁸) và hỗn hợp (~2,2×10⁸).

D. Không đúng

Trên thực tế, Pseudomonas sp. mới là nhóm có độ tăng sinh khối thấp nhất (chỉ khoảng 1,7×10⁸ tế bào/ml), không phải hỗn hợp hai chủng (khoảng 2,2×10⁸ tế bào/ml). Mặc dù hỗn hợp phân hủy nhựa nhanh nhất là đúng, nhưng tiền đề về sinh khối thấp nhất là sai, khiến cả nhận định này không chính xác

Câu 10

Sự gia tăng ồ ạt của việc sử dụng nhựa trong các sản phẩm tiêu dùng, từ chai lọ đến

quần áo, đã dẫn đến việc hàng triệu tấn nhựa bị thải ra vào môi trường hàng năm. Các

vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân hủy nhựa. Cho đến nay, hơn 90 chi vi khuẩn và nấm có khả năng phân hủy nhựa đã được phát hiện. Tuy nhiên, quá trình phân hủy sinh học nhựa bởi vi sinh vật diễn ra rất chậm và một số vi sinh vật không thể phân hủy được một số loại nhựa nhất định. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào phân lập các chủng vi sinh vật và đánh giá khả năng phân hủy nhựa của từng chủng mà chưa chú ý quá nhiều đến khả năng phân hủy khi các chủng được trộn cùng nhau.

Các nhà khoa học tại đại học Lagos đã tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng phân

hủy nhựa bởi các vi sinh vật. Trong nghiên cứu này, mẫu đất từ bãi rác gần trường đại

học Lagos chứa nhiều loại nhựa trong thời gian dài được thu thập. Từ các mẫu đất,

chủng vi khuẩn Pseudomonas sp. và nấm Aspergillus niger được chọn lọc để sử dụng

cho nghiên cứu. Khả năng phân hủy nhựa Polyethylene mật độ thấp (LDPE) của vi

khuẩn và nấm ở dạng nuôi cấy riêng lẻ và phối hợp được thực hiện trong ống nghiệm

thể tích 10 ml có chứa môi trường nuôi cấy và một dải nhựa LDPE có trọng lượng ban

đầu 0,1 g. Trọng lượng của dải nhựa và độ tăng trưởng sinh khối của vi sinh vật (độ

tăng số lượng tế bào vi sinh vật trong môi trường nuôi cấy) được kiểm tra định kì trong suốt quá trình thí nghiệm. Kết quả thí nghiệm được biểu diễn trong các đồ thị sau:

Hình minh họa

Dựa vào thông tin bài đọc, cho biết các phát biểu sau đúng hay sai?

A
Chủng Aspergillus niger có tốc độ tăng sinh khối nhanh nhất nhưng hiệu quả phân hủy nhựa lại thấp nhất trong ba nhóm thí nghiệm.
B
Hỗn hợp hai chủng vi sinh vật (A. niger & Pseudomonas sp.) là nhóm có hiệu suất phân hủy nhựa cao nhất trong nghiên cứu.
C
Sự phối hợp giữa hai chủng vi sinh vật giúp tăng hiệu quả phân hủy nhựa so với khi nuôi cấy riêng lẻ từng chủng.

Lời giải

Dạng câu hỏi: Ứng dụng vi sinh vật

Chọn a và b và c đúng

a) Đúng

Hình 2, Aspergillus niger đạt độ tăng sinh khối cao nhất (khoảng 2,3×10⁸ tế bào/ml) trong ba nhóm, nhưng theo Hình 1, đường của A. niger (màu xanh dương) lại có mức giảm trọng lượng nhựa thấp hơn so với hỗn hợp (chỉ còn khoảng 8,75 g/l ở ngày 60, so với hỗn hợp còn 8,5 g/l), cho thấy sinh khối tăng nhanh không tương ứng với hiệu quả phân hủy cao nhất.

b) Đúng

Hình 1, đường màu đen (hỗn hợp A. niger & Pseudomonas sp.) luôn nằm thấp nhất trong suốt quá trình thí nghiệm (từ ngày 20 đến ngày 60), đạt trọng lượng còn lại thấp nhất (~8,5 g/l ở ngày 60), chứng tỏ đây là nhóm phân hủy nhựa hiệu quả nhất.

c) Đúng

So sánh riêng lẻ Pseudomonas sp. giảm chậm nhất (còn 9,3 g/l ở ngày 60), A. niger giảm khá hơn (8,75 g/l), nhưng khi phối hợp cả hai thì mức giảm còn mạnh hơn nữa (8,5 g/l). Điều này cho thấy sự phối hợp giữa hai chủng có tác dụng hiệp đồng (synergy), giúp tăng hiệu quả phân hủy nhựa so với từng chủng riêng lẻ.

Bảng tra cứu nhanh đáp án trọn bộ 10 câu hỏiNhấn để đóng / mở
Câu12345678910
Đáp ánC14,40AAABBBAA

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.

Đăng nhập để làm bài
Đáp án & Lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 02 - Sinh học môn Tư duy khoa học - Sinh học 2027 (Đánh giá Tư duy (TSA)) - 9Study