Đề thi tự luyện - Đề số 04 - Tư duy Khoa học

Đánh giá Tư duy (TSA)38 câuChuẩn GDPT mới

Tư duy Khoa học

Câu 1

Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:

Trong hoá học, chuẩn độ là một phương pháp dùng để xác định nồng độ của một chất trong dung dịch bằng một dung dịch khác đã biết nồng độ. Về nguyên tắc, có thể xác định nồng độ của một dung dịch base mạnh bằng một dung dịch acid mạnh (hoặc ngược lại) đã biết trước nồng độ (thường gọi là dung dịch chuẩn) dựa theo phản ứng trung hoà: H+ + OH− → H2O. Những phản ứng giữa các acid mạnh và base mạnh trong dung dịch đều có chung bản chất.

Người ta muốn xác định nồng độ của một acid chưa biết nồng độ bằng một dung dịch base đã biết nồng độ. Quy trình thường là thêm từng giọt base vào acid cho đến khi dung dịch đạt đến điểm tương đương. Tại thời điểm này, lượng mol acid và base bằng nhau trong dung dịch và được biểu thị bằng sự thay đổi màu sắc của dung dịch chỉ thị được thêm vào hỗn hợp.

Chẳng hạn, chuẩn độ dung dịch acid mạnh HCl chưa biết nồng độ bằng dung dịch chuẩn là base mạnh là NaOH diễn ta theo phản ứng sau:

HCl + NaOH → NaCl + H2O

Hình 1 thể hiện đường cong chuẩn độ của phản ứng này được thể hiện bằng đường cong liền nét

ea1f0bde-d7e0-49a0-92e1-c8a9ffb266f4

Hình 1. Đường cong chuẩn độ dung dịch HCl bằng NaOH

Phương trình cân bằng của phản ứng giữa acid yếu là CH3COOH và base mạnh NaOH là:

CH3COOH + NaOH → CH3COONa + H2O

Đường cong chuẩn độ của phản ứng trên được thể hiện trong hình 2 dưới đây:

f8836079-107d-4cf5-9ff7-905864b2f3eb

Hình 2. Đường cong chuẩn độ dung dịch CH3COOH bằng NaOH

Đâu là pH của dung dịch thu được khi chuẩn độ dung dịch HCl với 5 mL dung dịch NaOH?
A

2.

B

4.

C

7.

D

12.

Câu 2

Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:

Trong hoá học, chuẩn độ là một phương pháp dùng để xác định nồng độ của một chất trong dung dịch bằng một dung dịch khác đã biết nồng độ. Về nguyên tắc, có thể xác định nồng độ của một dung dịch base mạnh bằng một dung dịch acid mạnh (hoặc ngược lại) đã biết trước nồng độ (thường gọi là dung dịch chuẩn) dựa theo phản ứng trung hoà: H+ + OH− → H2O. Những phản ứng giữa các acid mạnh và base mạnh trong dung dịch đều có chung bản chất.

Người ta muốn xác định nồng độ của một acid chưa biết nồng độ bằng một dung dịch base đã biết nồng độ. Quy trình thường là thêm từng giọt base vào acid cho đến khi dung dịch đạt đến điểm tương đương. Tại thời điểm này, lượng mol acid và base bằng nhau trong dung dịch và được biểu thị bằng sự thay đổi màu sắc của dung dịch chỉ thị được thêm vào hỗn hợp.

Chẳng hạn, chuẩn độ dung dịch acid mạnh HCl chưa biết nồng độ bằng dung dịch chuẩn là base mạnh là NaOH diễn ta theo phản ứng sau:

HCl + NaOH → NaCl + H2O

Hình 1 thể hiện đường cong chuẩn độ của phản ứng này được thể hiện bằng đường cong liền nét

ea1f0bde-d7e0-49a0-92e1-c8a9ffb266f4

Hình 1. Đường cong chuẩn độ dung dịch HCl bằng NaOH

Phương trình cân bằng của phản ứng giữa acid yếu là CH3COOH và base mạnh NaOH là:

CH3COOH + NaOH → CH3COONa + H2O

Đường cong chuẩn độ của phản ứng trên được thể hiện trong hình 2 dưới đây:

f8836079-107d-4cf5-9ff7-905864b2f3eb

Hình 2. Đường cong chuẩn độ dung dịch CH3COOH bằng NaOH

Định nghĩa đúng về điểm tương đương là gì?
A

Điểm trong phản ứng acid - base trong đó thể tích acid và base bằng nhau..

B

Điểm trong một phản ứng hoá học có đủ lượng base để bắt đầu phản ứng acid..

C

Điểm trong một phản ứng hoá học trong đó 15 mL base được thêm vào một thể tích acid không xác định.

D

Điểm trong phản ứng acid - base trong đó có lượng mol acid và base bằng nhau.

Câu 3

Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:

Trong hoá học, chuẩn độ là một phương pháp dùng để xác định nồng độ của một chất trong dung dịch bằng một dung dịch khác đã biết nồng độ. Về nguyên tắc, có thể xác định nồng độ của một dung dịch base mạnh bằng một dung dịch acid mạnh (hoặc ngược lại) đã biết trước nồng độ (thường gọi là dung dịch chuẩn) dựa theo phản ứng trung hoà: H+ + OH− → H2O. Những phản ứng giữa các acid mạnh và base mạnh trong dung dịch đều có chung bản chất.

Người ta muốn xác định nồng độ của một acid chưa biết nồng độ bằng một dung dịch base đã biết nồng độ. Quy trình thường là thêm từng giọt base vào acid cho đến khi dung dịch đạt đến điểm tương đương. Tại thời điểm này, lượng mol acid và base bằng nhau trong dung dịch và được biểu thị bằng sự thay đổi màu sắc của dung dịch chỉ thị được thêm vào hỗn hợp.

Chẳng hạn, chuẩn độ dung dịch acid mạnh HCl chưa biết nồng độ bằng dung dịch chuẩn là base mạnh là NaOH diễn ta theo phản ứng sau:

HCl + NaOH → NaCl + H2O

Hình 1 thể hiện đường cong chuẩn độ của phản ứng này được thể hiện bằng đường cong liền nét

ea1f0bde-d7e0-49a0-92e1-c8a9ffb266f4

Hình 1. Đường cong chuẩn độ dung dịch HCl bằng NaOH

Phương trình cân bằng của phản ứng giữa acid yếu là CH3COOH và base mạnh NaOH là:

CH3COOH + NaOH → CH3COONa + H2O

Đường cong chuẩn độ của phản ứng trên được thể hiện trong hình 2 dưới đây:

f8836079-107d-4cf5-9ff7-905864b2f3eb

Hình 2. Đường cong chuẩn độ dung dịch CH3COOH bằng NaOH

Câu nào sau đây mô tả đúng sự so sánh giữa Hình 1 và Hình 2?
A

Cần nhiều base hơn để đạt đến điểm tương đương trong phản ứng chuẩn độ acid yếu bằng base mạnh so với phản ứng chuẩn độ acid yếu bằng base yếu.

B

Cần nhiều base hơn để đạt đến điểm tương đương trong phản ứng chuẩn độ acid mạnh bằng base mạnh hơn là chuẩn độ acid yếu bằng base mạnh.

C

pH tại điểm tương đương là như nhau đối với cả hai loại phản ứng.

D

Giá trị pH của acid mạnh cao hơn giá trị pH của acid yếu.

Câu 4

Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:

Trong hoá học, chuẩn độ là một phương pháp dùng để xác định nồng độ của một chất trong dung dịch bằng một dung dịch khác đã biết nồng độ. Về nguyên tắc, có thể xác định nồng độ của một dung dịch base mạnh bằng một dung dịch acid mạnh (hoặc ngược lại) đã biết trước nồng độ (thường gọi là dung dịch chuẩn) dựa theo phản ứng trung hoà: H+ + OH− → H2O. Những phản ứng giữa các acid mạnh và base mạnh trong dung dịch đều có chung bản chất.

Người ta muốn xác định nồng độ của một acid chưa biết nồng độ bằng một dung dịch base đã biết nồng độ. Quy trình thường là thêm từng giọt base vào acid cho đến khi dung dịch đạt đến điểm tương đương. Tại thời điểm này, lượng mol acid và base bằng nhau trong dung dịch và được biểu thị bằng sự thay đổi màu sắc của dung dịch chỉ thị được thêm vào hỗn hợp.

Chẳng hạn, chuẩn độ dung dịch acid mạnh HCl chưa biết nồng độ bằng dung dịch chuẩn là base mạnh là NaOH diễn ta theo phản ứng sau:

HCl + NaOH → NaCl + H2O

Hình 1 thể hiện đường cong chuẩn độ của phản ứng này được thể hiện bằng đường cong liền nét

ea1f0bde-d7e0-49a0-92e1-c8a9ffb266f4

Hình 1. Đường cong chuẩn độ dung dịch HCl bằng NaOH

Phương trình cân bằng của phản ứng giữa acid yếu là CH3COOH và base mạnh NaOH là:

CH3COOH + NaOH → CH3COONa + H2O

Đường cong chuẩn độ của phản ứng trên được thể hiện trong hình 2 dưới đây:

f8836079-107d-4cf5-9ff7-905864b2f3eb

Hình 2. Đường cong chuẩn độ dung dịch CH3COOH bằng NaOH

Nhận định dưới đây là đúng hay sai?

Phản ứng chuẩn độ một acid mạnh bằng một base mạnh luôn có điểm tương đương tại pH bằng 8,5 vì các chất có độ mạnh khác nhau sẽ trung hoà ở các giá trị pH khác nhau.

A

Đúng.

B

Sai.

Câu 5

Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:

Trong hoá học, chuẩn độ là một phương pháp dùng để xác định nồng độ của một chất trong dung dịch bằng một dung dịch khác đã biết nồng độ. Về nguyên tắc, có thể xác định nồng độ của một dung dịch base mạnh bằng một dung dịch acid mạnh (hoặc ngược lại) đã biết trước nồng độ (thường gọi là dung dịch chuẩn) dựa theo phản ứng trung hoà: H+ + OH− → H2O. Những phản ứng giữa các acid mạnh và base mạnh trong dung dịch đều có chung bản chất.

Người ta muốn xác định nồng độ của một acid chưa biết nồng độ bằng một dung dịch base đã biết nồng độ. Quy trình thường là thêm từng giọt base vào acid cho đến khi dung dịch đạt đến điểm tương đương. Tại thời điểm này, lượng mol acid và base bằng nhau trong dung dịch và được biểu thị bằng sự thay đổi màu sắc của dung dịch chỉ thị được thêm vào hỗn hợp.

Chẳng hạn, chuẩn độ dung dịch acid mạnh HCl chưa biết nồng độ bằng dung dịch chuẩn là base mạnh là NaOH diễn ta theo phản ứng sau:

HCl + NaOH → NaCl + H2O

Hình 1 thể hiện đường cong chuẩn độ của phản ứng này được thể hiện bằng đường cong liền nét

ea1f0bde-d7e0-49a0-92e1-c8a9ffb266f4

Hình 1. Đường cong chuẩn độ dung dịch HCl bằng NaOH

Phương trình cân bằng của phản ứng giữa acid yếu là CH3COOH và base mạnh NaOH là:

CH3COOH + NaOH → CH3COONa + H2O

Đường cong chuẩn độ của phản ứng trên được thể hiện trong hình 2 dưới đây:

f8836079-107d-4cf5-9ff7-905864b2f3eb

Hình 2. Đường cong chuẩn độ dung dịch CH3COOH bằng NaOH

Điền số thích hợp vào chỗ trống:

Giả sử 5 mL của NaOH tương đương với 3 mol của NaOH. Số mol của HCl được thể hiện trong hình 1 là [[____]] mol.

Câu 6

Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:

Trong hoá học, chuẩn độ là một phương pháp dùng để xác định nồng độ của một chất trong dung dịch bằng một dung dịch khác đã biết nồng độ. Về nguyên tắc, có thể xác định nồng độ của một dung dịch base mạnh bằng một dung dịch acid mạnh (hoặc ngược lại) đã biết trước nồng độ (thường gọi là dung dịch chuẩn) dựa theo phản ứng trung hoà: H+ + OH− → H2O. Những phản ứng giữa các acid mạnh và base mạnh trong dung dịch đều có chung bản chất.

Người ta muốn xác định nồng độ của một acid chưa biết nồng độ bằng một dung dịch base đã biết nồng độ. Quy trình thường là thêm từng giọt base vào acid cho đến khi dung dịch đạt đến điểm tương đương. Tại thời điểm này, lượng mol acid và base bằng nhau trong dung dịch và được biểu thị bằng sự thay đổi màu sắc của dung dịch chỉ thị được thêm vào hỗn hợp.

Chẳng hạn, chuẩn độ dung dịch acid mạnh HCl chưa biết nồng độ bằng dung dịch chuẩn là base mạnh là NaOH diễn ta theo phản ứng sau:

HCl + NaOH → NaCl + H2O

Hình 1 thể hiện đường cong chuẩn độ của phản ứng này được thể hiện bằng đường cong liền nét

ea1f0bde-d7e0-49a0-92e1-c8a9ffb266f4

Hình 1. Đường cong chuẩn độ dung dịch HCl bằng NaOH

Phương trình cân bằng của phản ứng giữa acid yếu là CH3COOH và base mạnh NaOH là:

CH3COOH + NaOH → CH3COONa + H2O

Đường cong chuẩn độ của phản ứng trên được thể hiện trong hình 2 dưới đây:

f8836079-107d-4cf5-9ff7-905864b2f3eb

Hình 2. Đường cong chuẩn độ dung dịch CH3COOH bằng NaOH

Điền số thích hợp vào chỗ trống:

Để xác định nồng độ NaOH, người ta lấy 10mL dung dịch HCl cho vào bình tam giác, thêm giấy quỳ tím. Chuẩn độ dung dịch này bằng dung dịch NaOH 2M cho đến khi giấy quỳ tím không đổi màu thì dừng. Lặp lại thí nghiệm chuẩn độ thêm 3 lần nữa. Thể tích của dung dịch NaOH sau 4 lần lần lượt là 10mL; 20mL; 25mL; 35mL. Nồng độ của HCl là [[____]]M.

Câu 7

Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:

Trong hoá học, chuẩn độ là một phương pháp dùng để xác định nồng độ của một chất trong dung dịch bằng một dung dịch khác đã biết nồng độ. Về nguyên tắc, có thể xác định nồng độ của một dung dịch base mạnh bằng một dung dịch acid mạnh (hoặc ngược lại) đã biết trước nồng độ (thường gọi là dung dịch chuẩn) dựa theo phản ứng trung hoà: H+ + OH− → H2O. Những phản ứng giữa các acid mạnh và base mạnh trong dung dịch đều có chung bản chất.

Người ta muốn xác định nồng độ của một acid chưa biết nồng độ bằng một dung dịch base đã biết nồng độ. Quy trình thường là thêm từng giọt base vào acid cho đến khi dung dịch đạt đến điểm tương đương. Tại thời điểm này, lượng mol acid và base bằng nhau trong dung dịch và được biểu thị bằng sự thay đổi màu sắc của dung dịch chỉ thị được thêm vào hỗn hợp.

Chẳng hạn, chuẩn độ dung dịch acid mạnh HCl chưa biết nồng độ bằng dung dịch chuẩn là base mạnh là NaOH diễn ta theo phản ứng sau:

HCl + NaOH → NaCl + H2O

Hình 1 thể hiện đường cong chuẩn độ của phản ứng này được thể hiện bằng đường cong liền nét

ea1f0bde-d7e0-49a0-92e1-c8a9ffb266f4

Hình 1. Đường cong chuẩn độ dung dịch HCl bằng NaOH

Phương trình cân bằng của phản ứng giữa acid yếu là CH3COOH và base mạnh NaOH là:

CH3COOH + NaOH → CH3COONa + H2O

Đường cong chuẩn độ của phản ứng trên được thể hiện trong hình 2 dưới đây:

f8836079-107d-4cf5-9ff7-905864b2f3eb

Hình 2. Đường cong chuẩn độ dung dịch CH3COOH bằng NaOH

Nối từ thích hợp vào chỗ trống dưới đây:

pH của dung dịch chuẩn độ [1] khi thể tích dung dịch NaOH thêm vào tăng.

 

A

tăng

B

giảm

Câu 8

Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:

Protein là đại phân tử sinh học chiếm tỉ lệ nhiều nhất cơ thể sinh vật. Đây là sản phẩm cuối cùng của gene sau một loạt quá trình như phiên mã, dịch mã,… Protein có rất nhiều chức năng trong cơ thể và tham gia vào hầu hết các hoạt động sống của tế bào.

Protein được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân mà đơn phân là các amino acid. Các amino acid là các phân tử hữu cơ chứa đồng thời nhóm amino (−NH2) và nhóm carboxyl (−COOH). Ở điều kiện thường, các nhóm −COOH và nhóm −NH2 tương tác với nhau làm cho phân tử amino acid tồn tại chủ yếu ở dạng ion lưỡng cực. Khả năng tương tác với cả acid (H+) và base (OH−) làm cho phân tử amino acid có thể tồn tại ở dạng cation, ion lưỡng cực hay anion tùy thuộc vào giá trị pH của môi trường và cấu tạo của mỗi amino acid. Ở pH thấp, amino acid tồn tại chủ yếu ở dạng cation, ngược lại ở pH cao, hợp chất này tồn tại của yếu ở dạng anion. Tại điểm đẳng điện (pI) là pH dung dịch tại đó axit amin ở dạng ion lưỡng cực, không di chuyển trong điện trường.

a0684e8a-a739-4708-81c4-627c38414b9a

Các amino acid có đầy đủ tính chất hóa học của các nhóm chức cấu thành nên amino acid đó. Do vậy các amino acid vừa có tính acid của nhóm carboxyl vừa có tính base của nhóm amino. Thông qua phản ứng trùng ngưng, các α-amino acid hợp thành với nhau tạo thành chuỗi polypeptide, thông qua nhiều bước biển đổi sẽ tạo thành phân tử protein có chức năng mà cơ thể sử dụng được. Phân tử protein có thể được nhận biết thông qua những phản ứng màu đặc trưng như:

- Phản ứng với HNO3: Một số đơn vị amino acid chứa vòng benzene trong protein có thể tham gia phản ứng với dung dịch HNO3 đặc tạo thành hợp chất rắn có màu vàng, đồng thời protein bị đông tụ tạo thành kết tủa.

- Phản ứng với Cu(OH)2 (phản ứng màu biuret): Protein chứa chuỗi polypeptide nên cũng có phản ứng màu biuret, tác dụng với Cu(OH)2 trong môi trường kiềm tạo thành dung dịch có màu tím đặc trưng.

Amino acid có thể có sẵn trong tự nhiên hoặc được tổng hợp qua các quá trình hóa học. Có khoảng 20 amino acid cấu thành nên phần lớn protein trong cơ thể. Trong đó có 9 amino acid thiết yếu mà cơ thể không tự tổng hợp được, chúng cần được cung cấp cho cơ thể qua thức ăn là: phenylalanine, valine, threonine, tryptophan, methionine, leucine, isoleucine, lysine, và histidine.

Nhận định dưới đây là đúng hay sai?

Các amino axit chỉ chứa các nguyên tố C, H, O, N, P

A

Đúng.

B

Sai.

Câu 9

Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:

Protein là đại phân tử sinh học chiếm tỉ lệ nhiều nhất cơ thể sinh vật. Đây là sản phẩm cuối cùng của gene sau một loạt quá trình như phiên mã, dịch mã,… Protein có rất nhiều chức năng trong cơ thể và tham gia vào hầu hết các hoạt động sống của tế bào.

Protein được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân mà đơn phân là các amino acid. Các amino acid là các phân tử hữu cơ chứa đồng thời nhóm amino (−NH2) và nhóm carboxyl (−COOH). Ở điều kiện thường, các nhóm −COOH và nhóm −NH2 tương tác với nhau làm cho phân tử amino acid tồn tại chủ yếu ở dạng ion lưỡng cực. Khả năng tương tác với cả acid (H+) và base (OH−) làm cho phân tử amino acid có thể tồn tại ở dạng cation, ion lưỡng cực hay anion tùy thuộc vào giá trị pH của môi trường và cấu tạo của mỗi amino acid. Ở pH thấp, amino acid tồn tại chủ yếu ở dạng cation, ngược lại ở pH cao, hợp chất này tồn tại của yếu ở dạng anion. Tại điểm đẳng điện (pI) là pH dung dịch tại đó axit amin ở dạng ion lưỡng cực, không di chuyển trong điện trường.

a0684e8a-a739-4708-81c4-627c38414b9a

Các amino acid có đầy đủ tính chất hóa học của các nhóm chức cấu thành nên amino acid đó. Do vậy các amino acid vừa có tính acid của nhóm carboxyl vừa có tính base của nhóm amino. Thông qua phản ứng trùng ngưng, các α-amino acid hợp thành với nhau tạo thành chuỗi polypeptide, thông qua nhiều bước biển đổi sẽ tạo thành phân tử protein có chức năng mà cơ thể sử dụng được. Phân tử protein có thể được nhận biết thông qua những phản ứng màu đặc trưng như:

- Phản ứng với HNO3: Một số đơn vị amino acid chứa vòng benzene trong protein có thể tham gia phản ứng với dung dịch HNO3 đặc tạo thành hợp chất rắn có màu vàng, đồng thời protein bị đông tụ tạo thành kết tủa.

- Phản ứng với Cu(OH)2 (phản ứng màu biuret): Protein chứa chuỗi polypeptide nên cũng có phản ứng màu biuret, tác dụng với Cu(OH)2 trong môi trường kiềm tạo thành dung dịch có màu tím đặc trưng.

Amino acid có thể có sẵn trong tự nhiên hoặc được tổng hợp qua các quá trình hóa học. Có khoảng 20 amino acid cấu thành nên phần lớn protein trong cơ thể. Trong đó có 9 amino acid thiết yếu mà cơ thể không tự tổng hợp được, chúng cần được cung cấp cho cơ thể qua thức ăn là: phenylalanine, valine, threonine, tryptophan, methionine, leucine, isoleucine, lysine, và histidine.

Nhận định dưới đây là đúng hay sai?

Cơ thể con người có thể tự sản sinh ra tất cả các loại amino acid nhờ quá trình phiên mã, dịch mã.

A

Đúng.

B

Sai.

Câu 10

Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:

Protein là đại phân tử sinh học chiếm tỉ lệ nhiều nhất cơ thể sinh vật. Đây là sản phẩm cuối cùng của gene sau một loạt quá trình như phiên mã, dịch mã,… Protein có rất nhiều chức năng trong cơ thể và tham gia vào hầu hết các hoạt động sống của tế bào.

Protein được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân mà đơn phân là các amino acid. Các amino acid là các phân tử hữu cơ chứa đồng thời nhóm amino (−NH2) và nhóm carboxyl (−COOH). Ở điều kiện thường, các nhóm −COOH và nhóm −NH2 tương tác với nhau làm cho phân tử amino acid tồn tại chủ yếu ở dạng ion lưỡng cực. Khả năng tương tác với cả acid (H+) và base (OH−) làm cho phân tử amino acid có thể tồn tại ở dạng cation, ion lưỡng cực hay anion tùy thuộc vào giá trị pH của môi trường và cấu tạo của mỗi amino acid. Ở pH thấp, amino acid tồn tại chủ yếu ở dạng cation, ngược lại ở pH cao, hợp chất này tồn tại của yếu ở dạng anion. Tại điểm đẳng điện (pI) là pH dung dịch tại đó axit amin ở dạng ion lưỡng cực, không di chuyển trong điện trường.

a0684e8a-a739-4708-81c4-627c38414b9a

Các amino acid có đầy đủ tính chất hóa học của các nhóm chức cấu thành nên amino acid đó. Do vậy các amino acid vừa có tính acid của nhóm carboxyl vừa có tính base của nhóm amino. Thông qua phản ứng trùng ngưng, các α-amino acid hợp thành với nhau tạo thành chuỗi polypeptide, thông qua nhiều bước biển đổi sẽ tạo thành phân tử protein có chức năng mà cơ thể sử dụng được. Phân tử protein có thể được nhận biết thông qua những phản ứng màu đặc trưng như:

- Phản ứng với HNO3: Một số đơn vị amino acid chứa vòng benzene trong protein có thể tham gia phản ứng với dung dịch HNO3 đặc tạo thành hợp chất rắn có màu vàng, đồng thời protein bị đông tụ tạo thành kết tủa.

- Phản ứng với Cu(OH)2 (phản ứng màu biuret): Protein chứa chuỗi polypeptide nên cũng có phản ứng màu biuret, tác dụng với Cu(OH)2 trong môi trường kiềm tạo thành dung dịch có màu tím đặc trưng.

Amino acid có thể có sẵn trong tự nhiên hoặc được tổng hợp qua các quá trình hóa học. Có khoảng 20 amino acid cấu thành nên phần lớn protein trong cơ thể. Trong đó có 9 amino acid thiết yếu mà cơ thể không tự tổng hợp được, chúng cần được cung cấp cho cơ thể qua thức ăn là: phenylalanine, valine, threonine, tryptophan, methionine, leucine, isoleucine, lysine, và histidine.

Nhận định dưới đây là đúng hay sai?

Chuỗi peptide Ala-Gly-Glu-Lys có phản ứng màu biuret.

A

Đúng.

B

Sai.

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 38 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.

Đăng nhập để làm bài
Đề thi: Đề thi tự luyện - Đề số 04 - Tư duy Khoa học (Đánh giá Tư duy (TSA)) - 9Study