CHỦ ĐỀ 3. Quan điểm khác nhau về thích nghi của sinh vật
Lamac (1809) cho rằng, mọi sinh vật vốn có khả năng phản ứng phù hợp với ngoại cảnh thay đổi. Ngoại cảnh thay đổi một cách chậm chạp nên sinh vật có khả năng thích ứng kịp.
Đacuyn (1859) đã giải thích sự thích nghi bằng tác dụng của chọn lọc tự nhiên. Các cá thể trong loài thường xuyên phát sinh các biến dị cá thể. Sinh vật tồn tại luôn luôn phụ thuộc vào nhiều yếu tố phức tạp của môi trường sống thường xuyên biến đổi, vì vậy chúng chịu một sự chọn lọc tự phát. Tác nhân gây ra sự chọn lọc này có thể là các yếu tố bất lợi của khí hậu, đất đai, kẻ thù tiêu diệt, đối thủ cạnh tranh về thức ăn, chỗ ở, sinh sản,... Trước cùng một điều kiện sống, những cá thể nào mang các biến dị có lợi hơn có thể giúp chúng có ưu thế hơn về sự sống sót và sinh sản, nhờ đó mà con cháu của chúng ngày càng đông đúc. Trong khi đó, những cá thể nào mang các biến dị ít có lợi hoặc có hại sẽ cạnh tranh kém trong cuộc đấu tranh sinh tồn, ít có khả năng tồn tại và phát triển, con cháu hiếm dần. Như vậy, sự thích nghi theo Đacuyn là một quá trình lịch sử, vừa là kết quả của quá trình đó. Mọi đặc điểm thích nghi chỉ hợp lý tương đối.
Thuyết tiến hoá hiện đại trên cơ sở của di truyền học hiện đại và di truyền học quần thể đã củng cố và phát triển quan niệm của Đacuyn về sự thích nghi và quá trình hình thành các đặc điểm thích nghi sinh vật. Theo nghĩa rộng, sự thích nghi được hiểu như là sự hài hoà giữa cơ thể với môi trường sống. Theo nghĩa hẹp, sự thích nghi được hiểu là những đặc điểm cụ thể về hình thái, sinh lý đặc biệt có khả năng duy trì sự sống sót và sinh sản của cơ thể trong những môi trường cụ thể. Các đặc điểm kiểu hình là kết quả tương tác giữa kiểu gen với môi trường. Thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau không phải là những đặc tính đã hình thành sẵn mà truyền lại cho thế hệ sau kiểu gen quy định khả năng phản ứng thành những kiểu hình thích hợp với môi trường cụ thể.
Hình 1 dưới đây thể hiện 3 loại đường cong sống sót của sinh vật

Hình 1
Điểm khác biệt căn bản giữa quan niệm của Đacuyn và quan niệm của Lamac về sự thích nghi của sinh vật là gì?
CHỦ ĐỀ 3. Quan điểm khác nhau về thích nghi của sinh vật
Lamac (1809) cho rằng, mọi sinh vật vốn có khả năng phản ứng phù hợp với ngoại cảnh thay đổi. Ngoại cảnh thay đổi một cách chậm chạp nên sinh vật có khả năng thích ứng kịp.
Đacuyn (1859) đã giải thích sự thích nghi bằng tác dụng của chọn lọc tự nhiên. Các cá thể trong loài thường xuyên phát sinh các biến dị cá thể. Sinh vật tồn tại luôn luôn phụ thuộc vào nhiều yếu tố phức tạp của môi trường sống thường xuyên biến đổi, vì vậy chúng chịu một sự chọn lọc tự phát. Tác nhân gây ra sự chọn lọc này có thể là các yếu tố bất lợi của khí hậu, đất đai, kẻ thù tiêu diệt, đối thủ cạnh tranh về thức ăn, chỗ ở, sinh sản,... Trước cùng một điều kiện sống, những cá thể nào mang các biến dị có lợi hơn có thể giúp chúng có ưu thế hơn về sự sống sót và sinh sản, nhờ đó mà con cháu của chúng ngày càng đông đúc. Trong khi đó, những cá thể nào mang các biến dị ít có lợi hoặc có hại sẽ cạnh tranh kém trong cuộc đấu tranh sinh tồn, ít có khả năng tồn tại và phát triển, con cháu hiếm dần. Như vậy, sự thích nghi theo Đacuyn là một quá trình lịch sử, vừa là kết quả của quá trình đó. Mọi đặc điểm thích nghi chỉ hợp lý tương đối.
Thuyết tiến hoá hiện đại trên cơ sở của di truyền học hiện đại và di truyền học quần thể đã củng cố và phát triển quan niệm của Đacuyn về sự thích nghi và quá trình hình thành các đặc điểm thích nghi sinh vật. Theo nghĩa rộng, sự thích nghi được hiểu như là sự hài hoà giữa cơ thể với môi trường sống. Theo nghĩa hẹp, sự thích nghi được hiểu là những đặc điểm cụ thể về hình thái, sinh lý đặc biệt có khả năng duy trì sự sống sót và sinh sản của cơ thể trong những môi trường cụ thể. Các đặc điểm kiểu hình là kết quả tương tác giữa kiểu gen với môi trường. Thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau không phải là những đặc tính đã hình thành sẵn mà truyền lại cho thế hệ sau kiểu gen quy định khả năng phản ứng thành những kiểu hình thích hợp với môi trường cụ thể.
Hình 1 dưới đây thể hiện 3 loại đường cong sống sót của sinh vật

Hình 1
Trong quan niệm của Đacuyn, những cá thể mang biến dị có hại hoặc ít có lợi trong quần thể sẽ có xu hướng như thế nào qua các thế hệ?
CHỦ ĐỀ 3. Quan điểm khác nhau về thích nghi của sinh vật
Lamac (1809) cho rằng, mọi sinh vật vốn có khả năng phản ứng phù hợp với ngoại cảnh thay đổi. Ngoại cảnh thay đổi một cách chậm chạp nên sinh vật có khả năng thích ứng kịp.
Đacuyn (1859) đã giải thích sự thích nghi bằng tác dụng của chọn lọc tự nhiên. Các cá thể trong loài thường xuyên phát sinh các biến dị cá thể. Sinh vật tồn tại luôn luôn phụ thuộc vào nhiều yếu tố phức tạp của môi trường sống thường xuyên biến đổi, vì vậy chúng chịu một sự chọn lọc tự phát. Tác nhân gây ra sự chọn lọc này có thể là các yếu tố bất lợi của khí hậu, đất đai, kẻ thù tiêu diệt, đối thủ cạnh tranh về thức ăn, chỗ ở, sinh sản,... Trước cùng một điều kiện sống, những cá thể nào mang các biến dị có lợi hơn có thể giúp chúng có ưu thế hơn về sự sống sót và sinh sản, nhờ đó mà con cháu của chúng ngày càng đông đúc. Trong khi đó, những cá thể nào mang các biến dị ít có lợi hoặc có hại sẽ cạnh tranh kém trong cuộc đấu tranh sinh tồn, ít có khả năng tồn tại và phát triển, con cháu hiếm dần. Như vậy, sự thích nghi theo Đacuyn là một quá trình lịch sử, vừa là kết quả của quá trình đó. Mọi đặc điểm thích nghi chỉ hợp lý tương đối.
Thuyết tiến hoá hiện đại trên cơ sở của di truyền học hiện đại và di truyền học quần thể đã củng cố và phát triển quan niệm của Đacuyn về sự thích nghi và quá trình hình thành các đặc điểm thích nghi sinh vật. Theo nghĩa rộng, sự thích nghi được hiểu như là sự hài hoà giữa cơ thể với môi trường sống. Theo nghĩa hẹp, sự thích nghi được hiểu là những đặc điểm cụ thể về hình thái, sinh lý đặc biệt có khả năng duy trì sự sống sót và sinh sản của cơ thể trong những môi trường cụ thể. Các đặc điểm kiểu hình là kết quả tương tác giữa kiểu gen với môi trường. Thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau không phải là những đặc tính đã hình thành sẵn mà truyền lại cho thế hệ sau kiểu gen quy định khả năng phản ứng thành những kiểu hình thích hợp với môi trường cụ thể.
Hình 1 dưới đây thể hiện 3 loại đường cong sống sót của sinh vật

Hình 1
Theo thuyết tiến hoá hiện đại về đặc điểm thích nghi của sinh vật, các phát biểu sau đúng hay sai?
CHỦ ĐỀ 3. Quan điểm khác nhau về thích nghi của sinh vật
Lamac (1809) cho rằng, mọi sinh vật vốn có khả năng phản ứng phù hợp với ngoại cảnh thay đổi. Ngoại cảnh thay đổi một cách chậm chạp nên sinh vật có khả năng thích ứng kịp.
Đacuyn (1859) đã giải thích sự thích nghi bằng tác dụng của chọn lọc tự nhiên. Các cá thể trong loài thường xuyên phát sinh các biến dị cá thể. Sinh vật tồn tại luôn luôn phụ thuộc vào nhiều yếu tố phức tạp của môi trường sống thường xuyên biến đổi, vì vậy chúng chịu một sự chọn lọc tự phát. Tác nhân gây ra sự chọn lọc này có thể là các yếu tố bất lợi của khí hậu, đất đai, kẻ thù tiêu diệt, đối thủ cạnh tranh về thức ăn, chỗ ở, sinh sản,... Trước cùng một điều kiện sống, những cá thể nào mang các biến dị có lợi hơn có thể giúp chúng có ưu thế hơn về sự sống sót và sinh sản, nhờ đó mà con cháu của chúng ngày càng đông đúc. Trong khi đó, những cá thể nào mang các biến dị ít có lợi hoặc có hại sẽ cạnh tranh kém trong cuộc đấu tranh sinh tồn, ít có khả năng tồn tại và phát triển, con cháu hiếm dần. Như vậy, sự thích nghi theo Đacuyn là một quá trình lịch sử, vừa là kết quả của quá trình đó. Mọi đặc điểm thích nghi chỉ hợp lý tương đối.
Thuyết tiến hoá hiện đại trên cơ sở của di truyền học hiện đại và di truyền học quần thể đã củng cố và phát triển quan niệm của Đacuyn về sự thích nghi và quá trình hình thành các đặc điểm thích nghi sinh vật. Theo nghĩa rộng, sự thích nghi được hiểu như là sự hài hoà giữa cơ thể với môi trường sống. Theo nghĩa hẹp, sự thích nghi được hiểu là những đặc điểm cụ thể về hình thái, sinh lý đặc biệt có khả năng duy trì sự sống sót và sinh sản của cơ thể trong những môi trường cụ thể. Các đặc điểm kiểu hình là kết quả tương tác giữa kiểu gen với môi trường. Thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau không phải là những đặc tính đã hình thành sẵn mà truyền lại cho thế hệ sau kiểu gen quy định khả năng phản ứng thành những kiểu hình thích hợp với môi trường cụ thể.
Hình 1 dưới đây thể hiện 3 loại đường cong sống sót của sinh vật

Hình 1
Cá hồi cái đẻ hàng nghìn trứng trong một lần sinh sản, nhưng phần lớn trứng và cá con mới nở bị các loài ăn thịt tiêu diệt hoặc không thích nghi được với điều kiện dòng nước. Chỉ một tỉ lệ rất nhỏ cá con vượt qua được giai đoạn đầu đời để trưởng thành; những cá thể này sau đó có khả năng sống sót tương đối cao và tồn tại qua được thời gian dài hơn.
Đường cong sống sót phù hợp với đặc điểm của loài cá hồi là đường cong loại [______]. (Điền số La Mã thích hợp)
CHỦ ĐỀ 3. Quan điểm khác nhau về thích nghi của sinh vật
Lamac (1809) cho rằng, mọi sinh vật vốn có khả năng phản ứng phù hợp với ngoại cảnh thay đổi. Ngoại cảnh thay đổi một cách chậm chạp nên sinh vật có khả năng thích ứng kịp.
Đacuyn (1859) đã giải thích sự thích nghi bằng tác dụng của chọn lọc tự nhiên. Các cá thể trong loài thường xuyên phát sinh các biến dị cá thể. Sinh vật tồn tại luôn luôn phụ thuộc vào nhiều yếu tố phức tạp của môi trường sống thường xuyên biến đổi, vì vậy chúng chịu một sự chọn lọc tự phát. Tác nhân gây ra sự chọn lọc này có thể là các yếu tố bất lợi của khí hậu, đất đai, kẻ thù tiêu diệt, đối thủ cạnh tranh về thức ăn, chỗ ở, sinh sản,... Trước cùng một điều kiện sống, những cá thể nào mang các biến dị có lợi hơn có thể giúp chúng có ưu thế hơn về sự sống sót và sinh sản, nhờ đó mà con cháu của chúng ngày càng đông đúc. Trong khi đó, những cá thể nào mang các biến dị ít có lợi hoặc có hại sẽ cạnh tranh kém trong cuộc đấu tranh sinh tồn, ít có khả năng tồn tại và phát triển, con cháu hiếm dần. Như vậy, sự thích nghi theo Đacuyn là một quá trình lịch sử, vừa là kết quả của quá trình đó. Mọi đặc điểm thích nghi chỉ hợp lý tương đối.
Thuyết tiến hoá hiện đại trên cơ sở của di truyền học hiện đại và di truyền học quần thể đã củng cố và phát triển quan niệm của Đacuyn về sự thích nghi và quá trình hình thành các đặc điểm thích nghi sinh vật. Theo nghĩa rộng, sự thích nghi được hiểu như là sự hài hoà giữa cơ thể với môi trường sống. Theo nghĩa hẹp, sự thích nghi được hiểu là những đặc điểm cụ thể về hình thái, sinh lý đặc biệt có khả năng duy trì sự sống sót và sinh sản của cơ thể trong những môi trường cụ thể. Các đặc điểm kiểu hình là kết quả tương tác giữa kiểu gen với môi trường. Thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau không phải là những đặc tính đã hình thành sẵn mà truyền lại cho thế hệ sau kiểu gen quy định khả năng phản ứng thành những kiểu hình thích hợp với môi trường cụ thể.
Hình 1 dưới đây thể hiện 3 loại đường cong sống sót của sinh vật

Hình 1
Bảng số liệu dưới đây thể hiện kết quả theo dõi số lượng cá thể còn sống sót theo từng năm tuổi trong một quần thể gồm 1000 cá thể thuộc loài Ovis dalli dalli:
| Tuổi (năm) | 0 | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 |
| Số cá thể sống sót | 1000 | 801 | 789 | 776 | 764 | 734 | 668 |
| Tuổi (năm) | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 |
| Số cá thể sống sót | 640 | 571 | 439 | 252 | 96 | 6 | 3 |
Dựa vào xu hướng biến động số cá thể sống sót qua các năm tuổi, đường cong sống sót đặc trưng cho loài này thuộc loại [______]. (Điền số La Mã thích hợp)
Trong các con đường sau, đâu là con đường xâm nhập phổ biến nhất của chì (Pb) vào cơ thể trẻ em?
Quá trình đông máu
Máu động vật có xương sống là một mô liên kết gồm các tế bào lơ lửng trong một khối dịch gọi là huyết tương. Hòa tan trong huyết tương là các ion và protein, chúng cùng với các tế bào máu, có chức năng trong điều hòa thẩm thấu, vận chuyển và bảo vệ. Tách các thành phần của máu bằng máy ly tâm cho thấy các thành phần tế bào chiếm khoảng 45% thể tích của máu, phần còn lại là huyết tương.
Lơ lửng trong huyết tương là hai loại tế bào: hồng cầu vận chuyển O₂ và bạch cầu có chức năng bảo vệ. Máu cũng có tiểu cầu, là các mảnh tế bào tham gia vào quá trình đông máu.z

Nguồn: Campbell, Neil A. (1990). Biology (2nd ed.).
Máu là một mô liên kết gồm: các thành phần tế bào chiếm 45% thể tích và huyết tương chiếm phần trăm thể tích còn lại của máu. Phát biểu nào sau đây điền đúng vào hai vị trí trên?
Quá trình đông máu
Máu động vật có xương sống là một mô liên kết gồm các tế bào lơ lửng trong một khối dịch gọi là huyết tương. Hòa tan trong huyết tương là các ion và protein, chúng cùng với các tế bào máu, có chức năng trong điều hòa thẩm thấu, vận chuyển và bảo vệ. Tách các thành phần của máu bằng máy ly tâm cho thấy các thành phần tế bào chiếm khoảng 45% thể tích của máu, phần còn lại là huyết tương.
Lơ lửng trong huyết tương là hai loại tế bào: hồng cầu vận chuyển O₂ và bạch cầu có chức năng bảo vệ. Máu cũng có tiểu cầu, là các mảnh tế bào tham gia vào quá trình đông máu.z

Nguồn: Campbell, Neil A. (1990). Biology (2nd ed.).
Cho các loại thành phần của máu: Hồng cầu, Bạch cầu, Tiểu cầu và các chức năng: Vận chuyển O₂, Bảo vệ cơ thể, Tham gia quá trình đông máu. Cách ghép nối nào sau đây là đúng?
Quá trình đông máu
Máu động vật có xương sống là một mô liên kết gồm các tế bào lơ lửng trong một khối dịch gọi là huyết tương. Hòa tan trong huyết tương là các ion và protein, chúng cùng với các tế bào máu, có chức năng trong điều hòa thẩm thấu, vận chuyển và bảo vệ. Tách các thành phần của máu bằng máy ly tâm cho thấy các thành phần tế bào chiếm khoảng 45% thể tích của máu, phần còn lại là huyết tương.
Lơ lửng trong huyết tương là hai loại tế bào: hồng cầu vận chuyển O₂ và bạch cầu có chức năng bảo vệ. Máu cũng có tiểu cầu, là các mảnh tế bào tham gia vào quá trình đông máu.z

Nguồn: Campbell, Neil A. (1990). Biology (2nd ed.).
Trong quá trình đông máu, prothrombin được chuyển hóa thành thrombin nhờ tác động của yếu tố nào sau đây?
Quá trình đông máu
Máu động vật có xương sống là một mô liên kết gồm các tế bào lơ lửng trong một khối dịch gọi là huyết tương. Hòa tan trong huyết tương là các ion và protein, chúng cùng với các tế bào máu, có chức năng trong điều hòa thẩm thấu, vận chuyển và bảo vệ. Tách các thành phần của máu bằng máy ly tâm cho thấy các thành phần tế bào chiếm khoảng 45% thể tích của máu, phần còn lại là huyết tương.
Lơ lửng trong huyết tương là hai loại tế bào: hồng cầu vận chuyển O₂ và bạch cầu có chức năng bảo vệ. Máu cũng có tiểu cầu, là các mảnh tế bào tham gia vào quá trình đông máu.z

Nguồn: Campbell, Neil A. (1990). Biology (2nd ed.).
Aspirin là một loại thuốc thường được dùng với liều thấp để phòng ngừa hình thành cục máu đông ở người có nguy cơ đau tim, đột quỵ. Cơ chế tác động chính của Aspirin trong việc hạn chế hình thành cục máu đông là gì?
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.
Đăng nhập để làm bài