Chủ đề 1 – Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể (NST)
Khái niệm:
Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể là những biến đổi trong cấu trúc nhiễm sắc thể. Các dạng đột biến này thực chất là sự sắp xếp lại những vùng gen trên và giữa các nhiễm sắc thể, do vậy có thể làm thay đổi hình dạng và cấu trúc của nhiễm sắc thể.
Các dạng đột biến:
Mất đoạn:
Là dạng đột biến làm mất đi một đoạn nào đó của nhiễm sắc thể.
Mất đoạn làm giảm số lượng gen trên NST, làm mất cân bằng gen nên thường gây chết hoặc giảm sức sống của thể đột biến.
Lặp đoạn:
Là dạng đột biến làm cho một đoạn nào đó của NST được lặp lại một hay nhiều lần.
Lặp đoạn dẫn đến làm tăng số lượng gen trên NST, thường gây rối loạn trao đổi chất và biểu hiện thành các thể đột biến.
Đảo đoạn:
Là dạng đột biến làm cho một đoạn NST tách ra, đảo ngược 180° rồi nối lại.
Hệ quả của đột biến đảo đoạn là làm thay đổi trình tự phân bố các gen trên NST, gây ảnh hưởng đến sự điều hoà hoạt động của gen do vị trí mới của gen.
Chuyển đoạn:
Là dạng đột biến làm cho đoạn của một NST đứt ra rồi gắn vào NST khác (không tương đồng).
Tăng cường khả năng chuyển đoạn có thể làm thay đổi số gen trên NST và dẫn đến thay đổi nhóm gen liên kết.
Các thể đột biến chuyển đoạn thường giảm khả năng sinh sản.
(Trích nguồn: Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập – Đặng Hữu Lanh – Mai Sỹ Tuấn (2016). Sinh học 12. NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 24–25.)
Những dạng đột biến nào sau đây làm thay đổi số lượng gen của nhóm gen liên kết?
Đột biến lặp đoạn
Đột biến đảo đoạn
Đột biến chuyển đoạn trong một nhiễm sắc thể
Đột biến tam nhiễm
Chủ đề 1 – Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể (NST)
Khái niệm:
Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể là những biến đổi trong cấu trúc nhiễm sắc thể. Các dạng đột biến này thực chất là sự sắp xếp lại những vùng gen trên và giữa các nhiễm sắc thể, do vậy có thể làm thay đổi hình dạng và cấu trúc của nhiễm sắc thể.
Các dạng đột biến:
Mất đoạn:
Là dạng đột biến làm mất đi một đoạn nào đó của nhiễm sắc thể.
Mất đoạn làm giảm số lượng gen trên NST, làm mất cân bằng gen nên thường gây chết hoặc giảm sức sống của thể đột biến.
Lặp đoạn:
Là dạng đột biến làm cho một đoạn nào đó của NST được lặp lại một hay nhiều lần.
Lặp đoạn dẫn đến làm tăng số lượng gen trên NST, thường gây rối loạn trao đổi chất và biểu hiện thành các thể đột biến.
Đảo đoạn:
Là dạng đột biến làm cho một đoạn NST tách ra, đảo ngược 180° rồi nối lại.
Hệ quả của đột biến đảo đoạn là làm thay đổi trình tự phân bố các gen trên NST, gây ảnh hưởng đến sự điều hoà hoạt động của gen do vị trí mới của gen.
Chuyển đoạn:
Là dạng đột biến làm cho đoạn của một NST đứt ra rồi gắn vào NST khác (không tương đồng).
Tăng cường khả năng chuyển đoạn có thể làm thay đổi số gen trên NST và dẫn đến thay đổi nhóm gen liên kết.
Các thể đột biến chuyển đoạn thường giảm khả năng sinh sản.
(Trích nguồn: Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập – Đặng Hữu Lanh – Mai Sỹ Tuấn (2016). Sinh học 12. NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 24–25.)
Khi nói về đột biến lặp đoạn, những phát biểu nào sau đây đúng?
Làm mất cân bằng hệ gen nhưng tổng lượng vật chất di truyền trong tế bào không đổi nên không gây hại cho thể đột biến.
Làm thay đổi khả năng hoạt động của gen, gen có thể hoạt động tăng lên hoặc giảm đi.
Làm phát sinh alen mới do gen, do đó làm cho phổ biến di truyền của một tính trạng nào đó trở nên phong phú.
Làm giảm số lượng gen trên NST dẫn đến sự biểu hiện của một tính trạng nào đó có thể được tăng cường hoặc giảm đi.
Chủ đề 1 – Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể (NST)
Khái niệm:
Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể là những biến đổi trong cấu trúc nhiễm sắc thể. Các dạng đột biến này thực chất là sự sắp xếp lại những vùng gen trên và giữa các nhiễm sắc thể, do vậy có thể làm thay đổi hình dạng và cấu trúc của nhiễm sắc thể.
Các dạng đột biến:
Mất đoạn:
Là dạng đột biến làm mất đi một đoạn nào đó của nhiễm sắc thể.
Mất đoạn làm giảm số lượng gen trên NST, làm mất cân bằng gen nên thường gây chết hoặc giảm sức sống của thể đột biến.
Lặp đoạn:
Là dạng đột biến làm cho một đoạn nào đó của NST được lặp lại một hay nhiều lần.
Lặp đoạn dẫn đến làm tăng số lượng gen trên NST, thường gây rối loạn trao đổi chất và biểu hiện thành các thể đột biến.
Đảo đoạn:
Là dạng đột biến làm cho một đoạn NST tách ra, đảo ngược 180° rồi nối lại.
Hệ quả của đột biến đảo đoạn là làm thay đổi trình tự phân bố các gen trên NST, gây ảnh hưởng đến sự điều hoà hoạt động của gen do vị trí mới của gen.
Chuyển đoạn:
Là dạng đột biến làm cho đoạn của một NST đứt ra rồi gắn vào NST khác (không tương đồng).
Tăng cường khả năng chuyển đoạn có thể làm thay đổi số gen trên NST và dẫn đến thay đổi nhóm gen liên kết.
Các thể đột biến chuyển đoạn thường giảm khả năng sinh sản.
(Trích nguồn: Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập – Đặng Hữu Lanh – Mai Sỹ Tuấn (2016). Sinh học 12. NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 24–25.)
Sơ đồ "A B C D E F G H → A B C C F D G H" sau mô tả dạng đột biến nào sau đây?
Chuyển đoạn trong một NST
Đảo đoạn NST
Lặp đoạn NST
Mất đoạn NST
Chủ đề 1 – Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể (NST)
Khái niệm:
Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể là những biến đổi trong cấu trúc nhiễm sắc thể. Các dạng đột biến này thực chất là sự sắp xếp lại những vùng gen trên và giữa các nhiễm sắc thể, do vậy có thể làm thay đổi hình dạng và cấu trúc của nhiễm sắc thể.
Các dạng đột biến:
Mất đoạn:
Là dạng đột biến làm mất đi một đoạn nào đó của nhiễm sắc thể.
Mất đoạn làm giảm số lượng gen trên NST, làm mất cân bằng gen nên thường gây chết hoặc giảm sức sống của thể đột biến.
Lặp đoạn:
Là dạng đột biến làm cho một đoạn nào đó của NST được lặp lại một hay nhiều lần.
Lặp đoạn dẫn đến làm tăng số lượng gen trên NST, thường gây rối loạn trao đổi chất và biểu hiện thành các thể đột biến.
Đảo đoạn:
Là dạng đột biến làm cho một đoạn NST tách ra, đảo ngược 180° rồi nối lại.
Hệ quả của đột biến đảo đoạn là làm thay đổi trình tự phân bố các gen trên NST, gây ảnh hưởng đến sự điều hoà hoạt động của gen do vị trí mới của gen.
Chuyển đoạn:
Là dạng đột biến làm cho đoạn của một NST đứt ra rồi gắn vào NST khác (không tương đồng).
Tăng cường khả năng chuyển đoạn có thể làm thay đổi số gen trên NST và dẫn đến thay đổi nhóm gen liên kết.
Các thể đột biến chuyển đoạn thường giảm khả năng sinh sản.
(Trích nguồn: Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập – Đặng Hữu Lanh – Mai Sỹ Tuấn (2016). Sinh học 12. NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 24–25.)
Sơ đồ (1) và (2) minh hoạ cho các dạng đột biến cấu trúc NST nào sau đây? (1) ABCD*EFGH → ABGF*EDCH (2) ABCD*EFGH → AD*EFGBCH Chú thích: \* là tâm động
(1) đảo đoạn chứa tâm động; (2) đảo đoạn không chứa tâm động
(1) chuyển đoạn chứa tâm động; (2) đảo đoạn chứa tâm động
(1) đảo đoạn chứa tâm động; (2) chuyển đoạn trong một NST
(1) chuyển đoạn không chứa tâm động; (2) chuyển đoạn trong một NST
Chủ đề 1 – Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể (NST)
Khái niệm:
Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể là những biến đổi trong cấu trúc nhiễm sắc thể. Các dạng đột biến này thực chất là sự sắp xếp lại những vùng gen trên và giữa các nhiễm sắc thể, do vậy có thể làm thay đổi hình dạng và cấu trúc của nhiễm sắc thể.
Các dạng đột biến:
Mất đoạn:
Là dạng đột biến làm mất đi một đoạn nào đó của nhiễm sắc thể.
Mất đoạn làm giảm số lượng gen trên NST, làm mất cân bằng gen nên thường gây chết hoặc giảm sức sống của thể đột biến.
Lặp đoạn:
Là dạng đột biến làm cho một đoạn nào đó của NST được lặp lại một hay nhiều lần.
Lặp đoạn dẫn đến làm tăng số lượng gen trên NST, thường gây rối loạn trao đổi chất và biểu hiện thành các thể đột biến.
Đảo đoạn:
Là dạng đột biến làm cho một đoạn NST tách ra, đảo ngược 180° rồi nối lại.
Hệ quả của đột biến đảo đoạn là làm thay đổi trình tự phân bố các gen trên NST, gây ảnh hưởng đến sự điều hoà hoạt động của gen do vị trí mới của gen.
Chuyển đoạn:
Là dạng đột biến làm cho đoạn của một NST đứt ra rồi gắn vào NST khác (không tương đồng).
Tăng cường khả năng chuyển đoạn có thể làm thay đổi số gen trên NST và dẫn đến thay đổi nhóm gen liên kết.
Các thể đột biến chuyển đoạn thường giảm khả năng sinh sản.
(Trích nguồn: Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập – Đặng Hữu Lanh – Mai Sỹ Tuấn (2016). Sinh học 12. NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 24–25.)
Một NST có trình tự các gen như sau ABCDEFG*HI. Do rối loạn trong giảm phân đã tạo ra một giao tử có NST trên với trình tự các gen là ABCDEH*GFI. Trong giảm phân đã xảy ra dạng đột biến nào sau đây?
Đảo đoạn và không làm thay đổi hình dạng nhiễm sắc thể.
Chuyển đoạn và làm thay đổi hình dạng NST.
Chuyển đoạn trong một NST và làm thay đổi hình dạng nhiễm sắc thể.
Đảo đoạn chứa tâm động và làm thay đổi hình dạng nhiễm sắc thể.
Chủ đề 1 – Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể (NST)
Khái niệm:
Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể là những biến đổi trong cấu trúc nhiễm sắc thể. Các dạng đột biến này thực chất là sự sắp xếp lại những vùng gen trên và giữa các nhiễm sắc thể, do vậy có thể làm thay đổi hình dạng và cấu trúc của nhiễm sắc thể.
Các dạng đột biến:
Mất đoạn:
Là dạng đột biến làm mất đi một đoạn nào đó của nhiễm sắc thể.
Mất đoạn làm giảm số lượng gen trên NST, làm mất cân bằng gen nên thường gây chết hoặc giảm sức sống của thể đột biến.
Lặp đoạn:
Là dạng đột biến làm cho một đoạn nào đó của NST được lặp lại một hay nhiều lần.
Lặp đoạn dẫn đến làm tăng số lượng gen trên NST, thường gây rối loạn trao đổi chất và biểu hiện thành các thể đột biến.
Đảo đoạn:
Là dạng đột biến làm cho một đoạn NST tách ra, đảo ngược 180° rồi nối lại.
Hệ quả của đột biến đảo đoạn là làm thay đổi trình tự phân bố các gen trên NST, gây ảnh hưởng đến sự điều hoà hoạt động của gen do vị trí mới của gen.
Chuyển đoạn:
Là dạng đột biến làm cho đoạn của một NST đứt ra rồi gắn vào NST khác (không tương đồng).
Tăng cường khả năng chuyển đoạn có thể làm thay đổi số gen trên NST và dẫn đến thay đổi nhóm gen liên kết.
Các thể đột biến chuyển đoạn thường giảm khả năng sinh sản.
(Trích nguồn: Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập – Đặng Hữu Lanh – Mai Sỹ Tuấn (2016). Sinh học 12. NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 24–25.)
Khi nói về các dạng đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể, các nhận định sau đây đúng hay sai?
Đột biến mất đoạn làm thay đổi vị trí của gen trên NST.
Đột biến lặp đoạn làm gia tăng số lượng gen, gây mất cân bằng hệ gen.
Đột biến đảo đoạn làm thay đổi nhóm gen liên kết.
Đột biến chuyển đoạn không ảnh hưởng đến số lượng gen trên mỗi NST.
Các kim loại kiềm thuộc nhóm IA trong bảng tuần hoàn, gồm các nguyên tố: liti (Li); natri (Na); kali (K); rubidi (Rb); xesi (Cs) và franxi (Fr).
Cấu hình electron ở lớp ngoài cùng có dạng: ns¹.
Cấu hình electron tổng quát của các kim loại kiềm: [KH]ns¹
(Trong đó KH là khí hiếm gần nhất với nguyên tố)
Cấu hình electron của các kim loại kiềm:
Li (Z = 3): [He]2s¹
Na (Z = 11): [Ne]3s¹
K (Z = 19): [Ar]4s¹
Rb (Z = 37): [Kr]5s¹
Cs (Z = 55): [Xe]6s¹

Dựa theo cấu hình electron của kim loại kiềm, số e lớp ngoài cùng của nhóm nguyên tố này là ?
Các kim loại kiềm thuộc nhóm IA trong bảng tuần hoàn, gồm các nguyên tố: liti (Li); natri (Na); kali (K); rubidi (Rb); xesi (Cs) và franxi (Fr).
Cấu hình electron ở lớp ngoài cùng có dạng: ns¹.
Cấu hình electron tổng quát của các kim loại kiềm: [KH]ns¹
(Trong đó KH là khí hiếm gần nhất với nguyên tố)
Cấu hình electron của các kim loại kiềm:
Li (Z = 3): [He]2s¹
Na (Z = 11): [Ne]3s¹
K (Z = 19): [Ar]4s¹
Rb (Z = 37): [Kr]5s¹
Cs (Z = 55): [Xe]6s¹

Đi từ trên xuống dưới trong cùng 1 nhóm A, nhiệt độ sôi và nhiệt độ nóng chảy của kim loại kiềm tăng dần ?
Đúng
Sai
Các kim loại kiềm thuộc nhóm IA trong bảng tuần hoàn, gồm các nguyên tố: liti (Li); natri (Na); kali (K); rubidi (Rb); xesi (Cs) và franxi (Fr).
Cấu hình electron ở lớp ngoài cùng có dạng: ns¹.
Cấu hình electron tổng quát của các kim loại kiềm: [KH]ns¹
(Trong đó KH là khí hiếm gần nhất với nguyên tố)
Cấu hình electron của các kim loại kiềm:
Li (Z = 3): [He]2s¹
Na (Z = 11): [Ne]3s¹
K (Z = 19): [Ar]4s¹
Rb (Z = 37): [Kr]5s¹
Cs (Z = 55): [Xe]6s¹

Nguyên tố nào có khối lượng riêng nằm ngoài chu kì biến đổi của nhóm ?
Các kim loại kiềm thuộc nhóm IA trong bảng tuần hoàn, gồm các nguyên tố: liti (Li); natri (Na); kali (K); rubidi (Rb); xesi (Cs) và franxi (Fr).
Cấu hình electron ở lớp ngoài cùng có dạng: ns¹.
Cấu hình electron tổng quát của các kim loại kiềm: [KH]ns¹
(Trong đó KH là khí hiếm gần nhất với nguyên tố)
Cấu hình electron của các kim loại kiềm:
Li (Z = 3): [He]2s¹
Na (Z = 11): [Ne]3s¹
K (Z = 19): [Ar]4s¹
Rb (Z = 37): [Kr]5s¹
Cs (Z = 55): [Xe]6s¹

Dựa theo cấu hình electron của nguyên tử kim loại kiềm, số oxi hoá khi kim loại kiềm tồn tại trong hợp chất là:
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 40 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.
Đăng nhập để làm bài