Đề ôn tập ĐGTD ĐHBK HN năm 2025 - Mã đề 15 — Tư duy khoa học

Đánh giá Tư duy (TSA)39 câuChuẩn GDPT mới

Tư duy khoa học

Câu 1

Thí nghiệm giao thoa 2 nguồn sáng kết hợp được bố trí như sau:

(Xem hình 1 bên dưới)

Trên màn quan sát sẽ quan sát được một hệ vân sáng tối xen kẽ nhau.

(Xem hình 2 bên dưới)

Những vạch sáng là chỗ ánh sáng tăng cường lẫn nhau.

Thí nghiệm trên là thí nghiệm giao thoa ánh sáng của Young, sơ đồ rút gọn được thể hiện như sau:

(Xem hình 3 bên dưới)

là khoảng cách giữa hai khe, là khoảng cách giữa mặt phẳng chứa hai khe đến màn quan sát. Khi đó khoảng vân – khoảng cách giữa hai vân sáng (hoặc tối) liên tiếp được xác định bằng: , trong đó là bước sóng của ánh sáng truyền đi.

Hình ngữ liệu

Một trong hai khe hẹp được làm mờ sao cho nó chỉ truyền ánh sáng được bằng cường độ sáng của khe còn lại. Kết quả xảy ra là:

A

Vân giao thoa biến mất.

B

Vân giao thoa tối dĩ.

C

Vạch sáng trở nên sáng hơn và vạch tối thì tối hơn.

D

Vạch tối sáng hơn và vạch sáng tối hơn.

Câu 2

Thí nghiệm giao thoa 2 nguồn sáng kết hợp được bố trí như sau:

(Xem hình 1 bên dưới)

Trên màn quan sát sẽ quan sát được một hệ vân sáng tối xen kẽ nhau.

(Xem hình 2 bên dưới)

Những vạch sáng là chỗ ánh sáng tăng cường lẫn nhau.

Thí nghiệm trên là thí nghiệm giao thoa ánh sáng của Young, sơ đồ rút gọn được thể hiện như sau:

(Xem hình 3 bên dưới)

là khoảng cách giữa hai khe, là khoảng cách giữa mặt phẳng chứa hai khe đến màn quan sát. Khi đó khoảng vân – khoảng cách giữa hai vân sáng (hoặc tối) liên tiếp được xác định bằng: , trong đó là bước sóng của ánh sáng truyền đi.

Hình ngữ liệu

Trong thí nghiệm Young về giao thoa ánh sáng, khi ta thay nguồn sáng đơn sắc có bước sóng bằng ánh sáng đơn sắc có bước sóng là . Nếu khoảng cách từ mặt phẳng chứa hai khe đến màn quan sát giữ cố định, ta phải thay đổi khoảng cách giữa hai khe như thế nào để khoảng vân lại có độ lớn như ban đầu?

A

tăng 1,2 lần.

B

giảm 1,2 lần.

C

tăng 2 lần.

D

giảm 2 lần.

Câu 3

Thí nghiệm giao thoa 2 nguồn sáng kết hợp được bố trí như sau:

(Xem hình 1 bên dưới)

Trên màn quan sát sẽ quan sát được một hệ vân sáng tối xen kẽ nhau.

(Xem hình 2 bên dưới)

Những vạch sáng là chỗ ánh sáng tăng cường lẫn nhau.

Thí nghiệm trên là thí nghiệm giao thoa ánh sáng của Young, sơ đồ rút gọn được thể hiện như sau:

(Xem hình 3 bên dưới)

là khoảng cách giữa hai khe, là khoảng cách giữa mặt phẳng chứa hai khe đến màn quan sát. Khi đó khoảng vân – khoảng cách giữa hai vân sáng (hoặc tối) liên tiếp được xác định bằng: , trong đó là bước sóng của ánh sáng truyền đi.

Hình ngữ liệu

Giả sử tại điểm M trên màn quan sát là vân sáng bậc 3. Khi đó, vị trí của M được xác định bằng biểu thức nào sau đây?

A

B

C

D

Câu 4

Thí nghiệm giao thoa 2 nguồn sáng kết hợp được bố trí như sau:

(Xem hình 1 bên dưới)

Trên màn quan sát sẽ quan sát được một hệ vân sáng tối xen kẽ nhau.

(Xem hình 2 bên dưới)

Những vạch sáng là chỗ ánh sáng tăng cường lẫn nhau.

Thí nghiệm trên là thí nghiệm giao thoa ánh sáng của Young, sơ đồ rút gọn được thể hiện như sau:

(Xem hình 3 bên dưới)

là khoảng cách giữa hai khe, là khoảng cách giữa mặt phẳng chứa hai khe đến màn quan sát. Khi đó khoảng vân – khoảng cách giữa hai vân sáng (hoặc tối) liên tiếp được xác định bằng: , trong đó là bước sóng của ánh sáng truyền đi.

Hình ngữ liệu

Trong thí nghiệm giao thoa, khoảng cách hai khe hẹp là 1 mm, khoảng cách là 2 m. Tại điểm trên màn quan sát cách vân trung tâm 3 mm có một vân sáng bậc 4. Bước sóng của ánh sáng trên là:

A

274 nm

B

357 nm

C

375 nm

D

435 nm

Câu 5

Thí nghiệm giao thoa 2 nguồn sáng kết hợp được bố trí như sau:

(Xem hình 1 bên dưới)

Trên màn quan sát sẽ quan sát được một hệ vân sáng tối xen kẽ nhau.

(Xem hình 2 bên dưới)

Những vạch sáng là chỗ ánh sáng tăng cường lẫn nhau.

Thí nghiệm trên là thí nghiệm giao thoa ánh sáng của Young, sơ đồ rút gọn được thể hiện như sau:

(Xem hình 3 bên dưới)

là khoảng cách giữa hai khe, là khoảng cách giữa mặt phẳng chứa hai khe đến màn quan sát. Khi đó khoảng vân – khoảng cách giữa hai vân sáng (hoặc tối) liên tiếp được xác định bằng: , trong đó là bước sóng của ánh sáng truyền đi.

Hình ngữ liệu

Giao thoa ánh sáng là thí nghiệm chứng minh ánh sáng có tính chất  .

Câu 6

Thí nghiệm giao thoa 2 nguồn sáng kết hợp được bố trí như sau:

(Xem hình 1 bên dưới)

Trên màn quan sát sẽ quan sát được một hệ vân sáng tối xen kẽ nhau.

(Xem hình 2 bên dưới)

Những vạch sáng là chỗ ánh sáng tăng cường lẫn nhau.

Thí nghiệm trên là thí nghiệm giao thoa ánh sáng của Young, sơ đồ rút gọn được thể hiện như sau:

(Xem hình 3 bên dưới)

là khoảng cách giữa hai khe, là khoảng cách giữa mặt phẳng chứa hai khe đến màn quan sát. Khi đó khoảng vân – khoảng cách giữa hai vân sáng (hoặc tối) liên tiếp được xác định bằng: , trong đó là bước sóng của ánh sáng truyền đi.

Hình ngữ liệu

Trong thí nghiệm về giao thoa ánh sáng với ánh sáng đơn sắc. Biết khoảng cách giữa hai khe hẹp là 1,2 mm và khoảng cách từ mặt phẳng chứa hai khe hẹp đến màn quan sát là 0,9 m. Quan sát được hệ vân giao thoa trên màn với khoảng cách giữa 9 vân sáng liên tiếp là 3,6 mm. Bước sóng của ánh sáng dùng trong thí nghiệm là

A

m

B

m

C

m

D

m

Câu 7

Hai học sinh giải thích tại sao trong hồ nước thì nước lại bị đóng băng từ bề mặt hồ trở xuống. Họ cũng thảo luận về hiện tượng băng tan dưới lưỡi dao ở rãnh giữa của đáy giày trượt của vận động viên trượt băng.

Học sinh 1
Nước bắt đầu đóng băng từ trên bề mặt hồ vì điểm đóng băng của nước giảm khi áp suất tăng. Dưới bề mặt hồ, áp suất thủy tĩnh của nước làm cho điểm đóng băng của nước thấp hơn một chút so với trên bề mặt. Do đó, khi nhiệt độ không khí giảm xuống, nước trên bề mặt hồ đạt đến điểm đóng băng trước so với nước bên dưới bề mặt hồ. Khi nhiệt độ trở nên lạnh hơn thì lớp băng trên bề mặt trở nên dày hơn.
Áp suất được định nghĩa là lực tác dụng lên một đơn vị diện tích có phương vuông góc với bề mặt của vật thể nhất định. Một vận động viên trượt băng tác dụng toàn bộ trọng lực cơ thể của mình lên diện tích bề mặt nhỏ xíu của hai lưỡi dao. Điều này dẫn đến một áp suất rất lớn, nhanh chóng làm tan chảy một lượng băng nhỏ ngay dưới các lưỡi dao giày trượt.

Học sinh 2
Nước bắt đầu đóng băng từ trên bề mặt hồ vì mật độ khối lượng băng nhỏ hơn mật độ khối lượng nước ở trạng thái lỏng. Không giống như hầu hết các chất lỏng, mật độ khối lượng của nước giảm khi đóng băng. Kết quả là đối với bất kỳ khối băng nào, lực nổi của nước tác dụng hướng lên lớn hơn trọng lực tác dụng hướng xuống nên tất cả các hạt băng nổi lên bề mặt khi đóng băng.
Băng tan dưới lưỡi dao ở rãnh giữa của đáy giày trượt của vận động viên trượt băng do ma sát. Năng lượng do lực ma sát cung cấp được chuyển thành nhiệt làm tan băng dưới lưỡi dao ở đáy giày trượt. Trọng lượng cơ thể của vận động viên trượt băng càng lớn thì lực ma sát càng lớn và băng tan càng nhanh.

Theo quan điểm của học sinh 1, vận động viên tác dụng toàn bộ trọng lực cơ thể của mình lên diện tích bề mặt nhỏ xíu của hai lưỡi dao gây ra:

A

áp suất nhỏ.

B

áp suất lớn.

C

áp lực nhỏ.

D

áp lực lớn.

Câu 8

Hai học sinh giải thích tại sao trong hồ nước thì nước lại bị đóng băng từ bề mặt hồ trở xuống. Họ cũng thảo luận về hiện tượng băng tan dưới lưỡi dao ở rãnh giữa của đáy giày trượt của vận động viên trượt băng.

Học sinh 1
Nước bắt đầu đóng băng từ trên bề mặt hồ vì điểm đóng băng của nước giảm khi áp suất tăng. Dưới bề mặt hồ, áp suất thủy tĩnh của nước làm cho điểm đóng băng của nước thấp hơn một chút so với trên bề mặt. Do đó, khi nhiệt độ không khí giảm xuống, nước trên bề mặt hồ đạt đến điểm đóng băng trước so với nước bên dưới bề mặt hồ. Khi nhiệt độ trở nên lạnh hơn thì lớp băng trên bề mặt trở nên dày hơn.
Áp suất được định nghĩa là lực tác dụng lên một đơn vị diện tích có phương vuông góc với bề mặt của vật thể nhất định. Một vận động viên trượt băng tác dụng toàn bộ trọng lực cơ thể của mình lên diện tích bề mặt nhỏ xíu của hai lưỡi dao. Điều này dẫn đến một áp suất rất lớn, nhanh chóng làm tan chảy một lượng băng nhỏ ngay dưới các lưỡi dao giày trượt.

Học sinh 2
Nước bắt đầu đóng băng từ trên bề mặt hồ vì mật độ khối lượng băng nhỏ hơn mật độ khối lượng nước ở trạng thái lỏng. Không giống như hầu hết các chất lỏng, mật độ khối lượng của nước giảm khi đóng băng. Kết quả là đối với bất kỳ khối băng nào, lực nổi của nước tác dụng hướng lên lớn hơn trọng lực tác dụng hướng xuống nên tất cả các hạt băng nổi lên bề mặt khi đóng băng.
Băng tan dưới lưỡi dao ở rãnh giữa của đáy giày trượt của vận động viên trượt băng do ma sát. Năng lượng do lực ma sát cung cấp được chuyển thành nhiệt làm tan băng dưới lưỡi dao ở đáy giày trượt. Trọng lượng cơ thể của vận động viên trượt băng càng lớn thì lực ma sát càng lớn và băng tan càng nhanh.

Theo quan điểm của học sinh 2, nước đóng băng bắt đầu đóng băng từ bề mặt hồ do mật độ khối lượng bằng (1)   mật độ khối lượng của nước ở trạng thái lỏng.

Câu 9

Hai học sinh giải thích tại sao trong hồ nước thì nước lại bị đóng băng từ bề mặt hồ trở xuống. Họ cũng thảo luận về hiện tượng băng tan dưới lưỡi dao ở rãnh giữa của đáy giày trượt của vận động viên trượt băng.

Học sinh 1
Nước bắt đầu đóng băng từ trên bề mặt hồ vì điểm đóng băng của nước giảm khi áp suất tăng. Dưới bề mặt hồ, áp suất thủy tĩnh của nước làm cho điểm đóng băng của nước thấp hơn một chút so với trên bề mặt. Do đó, khi nhiệt độ không khí giảm xuống, nước trên bề mặt hồ đạt đến điểm đóng băng trước so với nước bên dưới bề mặt hồ. Khi nhiệt độ trở nên lạnh hơn thì lớp băng trên bề mặt trở nên dày hơn.
Áp suất được định nghĩa là lực tác dụng lên một đơn vị diện tích có phương vuông góc với bề mặt của vật thể nhất định. Một vận động viên trượt băng tác dụng toàn bộ trọng lực cơ thể của mình lên diện tích bề mặt nhỏ xíu của hai lưỡi dao. Điều này dẫn đến một áp suất rất lớn, nhanh chóng làm tan chảy một lượng băng nhỏ ngay dưới các lưỡi dao giày trượt.

Học sinh 2
Nước bắt đầu đóng băng từ trên bề mặt hồ vì mật độ khối lượng băng nhỏ hơn mật độ khối lượng nước ở trạng thái lỏng. Không giống như hầu hết các chất lỏng, mật độ khối lượng của nước giảm khi đóng băng. Kết quả là đối với bất kỳ khối băng nào, lực nổi của nước tác dụng hướng lên lớn hơn trọng lực tác dụng hướng xuống nên tất cả các hạt băng nổi lên bề mặt khi đóng băng.
Băng tan dưới lưỡi dao ở rãnh giữa của đáy giày trượt của vận động viên trượt băng do ma sát. Năng lượng do lực ma sát cung cấp được chuyển thành nhiệt làm tan băng dưới lưỡi dao ở đáy giày trượt. Trọng lượng cơ thể của vận động viên trượt băng càng lớn thì lực ma sát càng lớn và băng tan càng nhanh.

Theo lập luận của học sinh 2, phương án nào sau đây là đúng?

A

Mật độ khối lượng băng bằng mật độ khối lượng nước ở trạng thái lỏng.

B

Mật độ khối lượng lớn hơn mật độ khối lượng nước ở trạng thái lỏng.

C

Lực ma sát càng lớn thì băng tan càng nhanh.

D

Lực ma sát càng nhỏ thì băng tan càng nhanh.

Câu 10

Hai học sinh giải thích tại sao trong hồ nước thì nước lại bị đóng băng từ bề mặt hồ trở xuống. Họ cũng thảo luận về hiện tượng băng tan dưới lưỡi dao ở rãnh giữa của đáy giày trượt của vận động viên trượt băng.

Học sinh 1
Nước bắt đầu đóng băng từ trên bề mặt hồ vì điểm đóng băng của nước giảm khi áp suất tăng. Dưới bề mặt hồ, áp suất thủy tĩnh của nước làm cho điểm đóng băng của nước thấp hơn một chút so với trên bề mặt. Do đó, khi nhiệt độ không khí giảm xuống, nước trên bề mặt hồ đạt đến điểm đóng băng trước so với nước bên dưới bề mặt hồ. Khi nhiệt độ trở nên lạnh hơn thì lớp băng trên bề mặt trở nên dày hơn.
Áp suất được định nghĩa là lực tác dụng lên một đơn vị diện tích có phương vuông góc với bề mặt của vật thể nhất định. Một vận động viên trượt băng tác dụng toàn bộ trọng lực cơ thể của mình lên diện tích bề mặt nhỏ xíu của hai lưỡi dao. Điều này dẫn đến một áp suất rất lớn, nhanh chóng làm tan chảy một lượng băng nhỏ ngay dưới các lưỡi dao giày trượt.

Học sinh 2
Nước bắt đầu đóng băng từ trên bề mặt hồ vì mật độ khối lượng băng nhỏ hơn mật độ khối lượng nước ở trạng thái lỏng. Không giống như hầu hết các chất lỏng, mật độ khối lượng của nước giảm khi đóng băng. Kết quả là đối với bất kỳ khối băng nào, lực nổi của nước tác dụng hướng lên lớn hơn trọng lực tác dụng hướng xuống nên tất cả các hạt băng nổi lên bề mặt khi đóng băng.
Băng tan dưới lưỡi dao ở rãnh giữa của đáy giày trượt của vận động viên trượt băng do ma sát. Năng lượng do lực ma sát cung cấp được chuyển thành nhiệt làm tan băng dưới lưỡi dao ở đáy giày trượt. Trọng lượng cơ thể của vận động viên trượt băng càng lớn thì lực ma sát càng lớn và băng tan càng nhanh.

Theo quan điểm của học sinh 1, đại lượng nào sau đây đối với các phần tử nước bên dưới mặt hồ lớn hơn đối với các phần tử nước trên bề mặt?

A

Nhiệt độ.

B

Áp suất thuỷ tĩnh.

C

Lực nổi.

D

Mật độ khối lượng.

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 39 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.

Đăng nhập để làm bài
Đề thi: Đề ôn tập ĐGTD ĐHBK HN năm 2025 - Mã đề 15 — Tư duy khoa học (Đánh giá Tư duy (TSA)) | 9Study - 9Study