Momen là xu hướng của một lực làm quay một vật quanh một trụ. Lượng momen xoắn tác dụng lên một vật phụ thuộc vào cả lực tác dụng (F) và chiều dài của cánh tay đòn (d), là khoảng cách giữa lực tác dụng và điểm xoay.
Giả sử lực vuông góc với cánh tay đòn, phương trình mô-men xoắn như sau:
Trọng lượng là một lực thường tạo ra một mô-men xoắn. Trọng lượng của một vật thể được xác định bởi khối lượng của nó (m) và bởi gia tốc do trọng trường (g), trên Trái Đất bằng . Vì trọng lượng là một loại lực nên nó được đo bằng Newton (N).
Một học sinh thực hiện hai thí nghiệm khảo sát momen lực và trọng lượng.
Thí nghiệm 1:
Thiết kế một hệ thống đòn bẩy như sơ đồ 1 dưới đây. Quả nặng 30 N được treo ở phía bên trái, ở mốc 0,35 m. Sau đó, học sinh treo quả nặng M vào phía còn lại và xác định vị trí của quả nặng đó sao cho thước đo thăng bằng. Kết quả của các lần thực hiện được ghi lại trong bảng 1.
(Xem bảng 1)
Thí nghiệm 2:
Học sinh dùng 4 khối A, B, C, Đầu tiên, treo khối A ở vạch O của thước đo trên đòn bẩy và vật B ở vị trí 1m. Sau đó di chuyển thước đo sao cho đến vị trí hệ cân bằng. Hệ thống được biểu diễn trong Sơ đồ 2. Kết quả vị trí cân bằng của đòn bẩy qua các lần thí nghiệm được ghi lại trong bảng 2.
(Xem bảng 2)

Trong thí nghiệm 1, khi khối lượng quả nặng tăng lên thì vị trí cân bằng của nó dịch chuyển [1].
Momen là xu hướng của một lực làm quay một vật quanh một trụ. Lượng momen xoắn tác dụng lên một vật phụ thuộc vào cả lực tác dụng (F) và chiều dài của cánh tay đòn (d), là khoảng cách giữa lực tác dụng và điểm xoay.
Giả sử lực vuông góc với cánh tay đòn, phương trình mô-men xoắn như sau:
Trọng lượng là một lực thường tạo ra một mô-men xoắn. Trọng lượng của một vật thể được xác định bởi khối lượng của nó (m) và bởi gia tốc do trọng trường (g), trên Trái Đất bằng . Vì trọng lượng là một loại lực nên nó được đo bằng Newton (N).
Một học sinh thực hiện hai thí nghiệm khảo sát momen lực và trọng lượng.
Thí nghiệm 1:
Thiết kế một hệ thống đòn bẩy như sơ đồ 1 dưới đây. Quả nặng 30 N được treo ở phía bên trái, ở mốc 0,35 m. Sau đó, học sinh treo quả nặng M vào phía còn lại và xác định vị trí của quả nặng đó sao cho thước đo thăng bằng. Kết quả của các lần thực hiện được ghi lại trong bảng 1.
(Xem bảng 1)
Thí nghiệm 2:
Học sinh dùng 4 khối A, B, C, Đầu tiên, treo khối A ở vạch O của thước đo trên đòn bẩy và vật B ở vị trí 1m. Sau đó di chuyển thước đo sao cho đến vị trí hệ cân bằng. Hệ thống được biểu diễn trong Sơ đồ 2. Kết quả vị trí cân bằng của đòn bẩy qua các lần thí nghiệm được ghi lại trong bảng 2.
(Xem bảng 2)

Câu nào sau đây so sánh Thí nghiệm 1 với Thí nghiệm 2 là SAI?
Thí nghiệm 1 đã sử dụng các khối đã biết trọng lượng; Thí nghiệm 2 đã sử dụng khối chưa biết trọng lượng.
Thí nghiệm 1 liên quan đến một vị trí điểm tựa cố định; Thí nghiệm 2 liên quan đến một điểm tựa có thể di chuyển.
Thí nghiệm 1 và 2 liên quan đến các ngẫu lực không bằng nhau ở cả hai phía của điểm tựa.
Thí nghiệm 1 và 2 liên quan đến các trọng lượng tạo ra moment xoắn bằng nhau ở cả hai bên của điểm tựa.
Momen là xu hướng của một lực làm quay một vật quanh một trụ. Lượng momen xoắn tác dụng lên một vật phụ thuộc vào cả lực tác dụng (F) và chiều dài của cánh tay đòn (d), là khoảng cách giữa lực tác dụng và điểm xoay.
Giả sử lực vuông góc với cánh tay đòn, phương trình mô-men xoắn như sau:
Trọng lượng là một lực thường tạo ra một mô-men xoắn. Trọng lượng của một vật thể được xác định bởi khối lượng của nó (m) và bởi gia tốc do trọng trường (g), trên Trái Đất bằng . Vì trọng lượng là một loại lực nên nó được đo bằng Newton (N).
Một học sinh thực hiện hai thí nghiệm khảo sát momen lực và trọng lượng.
Thí nghiệm 1:
Thiết kế một hệ thống đòn bẩy như sơ đồ 1 dưới đây. Quả nặng 30 N được treo ở phía bên trái, ở mốc 0,35 m. Sau đó, học sinh treo quả nặng M vào phía còn lại và xác định vị trí của quả nặng đó sao cho thước đo thăng bằng. Kết quả của các lần thực hiện được ghi lại trong bảng 1.
(Xem bảng 1)
Thí nghiệm 2:
Học sinh dùng 4 khối A, B, C, Đầu tiên, treo khối A ở vạch O của thước đo trên đòn bẩy và vật B ở vị trí 1m. Sau đó di chuyển thước đo sao cho đến vị trí hệ cân bằng. Hệ thống được biểu diễn trong Sơ đồ 2. Kết quả vị trí cân bằng của đòn bẩy qua các lần thí nghiệm được ghi lại trong bảng 2.
(Xem bảng 2)

Giả sử nếu học sinh thực hiện Thí nghiệm 2 trên Sao Hỏa, ở đó gia tốc do trọng trường bằng . Kết quả của thí nghiệm sẽ:
Có thay đổi, vì trọng lượng của các khối sẽ thay đổi.
Có thay đổi, bởi vì mối quan hệ giữa trọng số của các khối sẽ thay đổi.
Không thay đổi, vì trọng lượng của các khối sẽ không thay đổi.
Không thay đổi, bởi vì mối quan hệ giữa trọng lượng của các khối sẽ không thay đổi.
Momen là xu hướng của một lực làm quay một vật quanh một trụ. Lượng momen xoắn tác dụng lên một vật phụ thuộc vào cả lực tác dụng (F) và chiều dài của cánh tay đòn (d), là khoảng cách giữa lực tác dụng và điểm xoay.
Giả sử lực vuông góc với cánh tay đòn, phương trình mô-men xoắn như sau:
Trọng lượng là một lực thường tạo ra một mô-men xoắn. Trọng lượng của một vật thể được xác định bởi khối lượng của nó (m) và bởi gia tốc do trọng trường (g), trên Trái Đất bằng . Vì trọng lượng là một loại lực nên nó được đo bằng Newton (N).
Một học sinh thực hiện hai thí nghiệm khảo sát momen lực và trọng lượng.
Thí nghiệm 1:
Thiết kế một hệ thống đòn bẩy như sơ đồ 1 dưới đây. Quả nặng 30 N được treo ở phía bên trái, ở mốc 0,35 m. Sau đó, học sinh treo quả nặng M vào phía còn lại và xác định vị trí của quả nặng đó sao cho thước đo thăng bằng. Kết quả của các lần thực hiện được ghi lại trong bảng 1.
(Xem bảng 1)
Thí nghiệm 2:
Học sinh dùng 4 khối A, B, C, Đầu tiên, treo khối A ở vạch O của thước đo trên đòn bẩy và vật B ở vị trí 1m. Sau đó di chuyển thước đo sao cho đến vị trí hệ cân bằng. Hệ thống được biểu diễn trong Sơ đồ 2. Kết quả vị trí cân bằng của đòn bẩy qua các lần thí nghiệm được ghi lại trong bảng 2.
(Xem bảng 2)

Giả sử rằng học sinh đã sử dụng một khối khác trong Thí nghiệm 1 và vị trí của khối đó là . Trọng lượng của khối rất có thể là:
.
.
.
.
Momen là xu hướng của một lực làm quay một vật quanh một trụ. Lượng momen xoắn tác dụng lên một vật phụ thuộc vào cả lực tác dụng (F) và chiều dài của cánh tay đòn (d), là khoảng cách giữa lực tác dụng và điểm xoay.
Giả sử lực vuông góc với cánh tay đòn, phương trình mô-men xoắn như sau:
Trọng lượng là một lực thường tạo ra một mô-men xoắn. Trọng lượng của một vật thể được xác định bởi khối lượng của nó (m) và bởi gia tốc do trọng trường (g), trên Trái Đất bằng . Vì trọng lượng là một loại lực nên nó được đo bằng Newton (N).
Một học sinh thực hiện hai thí nghiệm khảo sát momen lực và trọng lượng.
Thí nghiệm 1:
Thiết kế một hệ thống đòn bẩy như sơ đồ 1 dưới đây. Quả nặng 30 N được treo ở phía bên trái, ở mốc 0,35 m. Sau đó, học sinh treo quả nặng M vào phía còn lại và xác định vị trí của quả nặng đó sao cho thước đo thăng bằng. Kết quả của các lần thực hiện được ghi lại trong bảng 1.
(Xem bảng 1)
Thí nghiệm 2:
Học sinh dùng 4 khối A, B, C, Đầu tiên, treo khối A ở vạch O của thước đo trên đòn bẩy và vật B ở vị trí 1m. Sau đó di chuyển thước đo sao cho đến vị trí hệ cân bằng. Hệ thống được biểu diễn trong Sơ đồ 2. Kết quả vị trí cân bằng của đòn bẩy qua các lần thí nghiệm được ghi lại trong bảng 2.
(Xem bảng 2)

Dựa vào kết quả của thí nghiệm 2, hãy cho biết thứ tự đúng của 4 khối từ khối lượng lớn nhất đến khối lượng nhỏ nhất là bao nhiêu?
A, B, C, D.
B, C, A, D.
D, C, A, B.
D, A, C, B.
Momen là xu hướng của một lực làm quay một vật quanh một trụ. Lượng momen xoắn tác dụng lên một vật phụ thuộc vào cả lực tác dụng (F) và chiều dài của cánh tay đòn (d), là khoảng cách giữa lực tác dụng và điểm xoay.
Giả sử lực vuông góc với cánh tay đòn, phương trình mô-men xoắn như sau:
Trọng lượng là một lực thường tạo ra một mô-men xoắn. Trọng lượng của một vật thể được xác định bởi khối lượng của nó (m) và bởi gia tốc do trọng trường (g), trên Trái Đất bằng . Vì trọng lượng là một loại lực nên nó được đo bằng Newton (N).
Một học sinh thực hiện hai thí nghiệm khảo sát momen lực và trọng lượng.
Thí nghiệm 1:
Thiết kế một hệ thống đòn bẩy như sơ đồ 1 dưới đây. Quả nặng 30 N được treo ở phía bên trái, ở mốc 0,35 m. Sau đó, học sinh treo quả nặng M vào phía còn lại và xác định vị trí của quả nặng đó sao cho thước đo thăng bằng. Kết quả của các lần thực hiện được ghi lại trong bảng 1.
(Xem bảng 1)
Thí nghiệm 2:
Học sinh dùng 4 khối A, B, C, Đầu tiên, treo khối A ở vạch O của thước đo trên đòn bẩy và vật B ở vị trí 1m. Sau đó di chuyển thước đo sao cho đến vị trí hệ cân bằng. Hệ thống được biểu diễn trong Sơ đồ 2. Kết quả vị trí cân bằng của đòn bẩy qua các lần thí nghiệm được ghi lại trong bảng 2.
(Xem bảng 2)

Đơn vị nào sau đây viết đúng đơn vị của moment lực trong những thí nghiệm này?
.
.
.
.
Momen là xu hướng của một lực làm quay một vật quanh một trụ. Lượng momen xoắn tác dụng lên một vật phụ thuộc vào cả lực tác dụng (F) và chiều dài của cánh tay đòn (d), là khoảng cách giữa lực tác dụng và điểm xoay.
Giả sử lực vuông góc với cánh tay đòn, phương trình mô-men xoắn như sau:
Trọng lượng là một lực thường tạo ra một mô-men xoắn. Trọng lượng của một vật thể được xác định bởi khối lượng của nó (m) và bởi gia tốc do trọng trường (g), trên Trái Đất bằng . Vì trọng lượng là một loại lực nên nó được đo bằng Newton (N).
Một học sinh thực hiện hai thí nghiệm khảo sát momen lực và trọng lượng.
Thí nghiệm 1:
Thiết kế một hệ thống đòn bẩy như sơ đồ 1 dưới đây. Quả nặng 30 N được treo ở phía bên trái, ở mốc 0,35 m. Sau đó, học sinh treo quả nặng M vào phía còn lại và xác định vị trí của quả nặng đó sao cho thước đo thăng bằng. Kết quả của các lần thực hiện được ghi lại trong bảng 1.
(Xem bảng 1)
Thí nghiệm 2:
Học sinh dùng 4 khối A, B, C, Đầu tiên, treo khối A ở vạch O của thước đo trên đòn bẩy và vật B ở vị trí 1m. Sau đó di chuyển thước đo sao cho đến vị trí hệ cân bằng. Hệ thống được biểu diễn trong Sơ đồ 2. Kết quả vị trí cân bằng của đòn bẩy qua các lần thí nghiệm được ghi lại trong bảng 2.
(Xem bảng 2)

Giả sử rằng học sinh từ Thí nghiệm 1 tác dụng một lực nhỏ hướng lên trên thước đo ở phía bên trái của đòn bẩy. Điều này có ảnh hưởng gì, nếu có, đối với vị trí cân bằng của các quả nặng trong thí nghiệm này?
Tất cả các vị trí cân bằng sẽ chuyển dịch sang trái.
Tất cả các vị trí cân bằng sẽ chuyển dịch sang phải.
Một số vị trí cân bằng sẽ dịch chuyển sang trái, một số vị trí cân bằng khác dịch chuyển sang phải.
Mọi vị trí cân bằng sẽ không đổi.
Trong thông tin liên lạc, để thu được tín hiệu vô tuyến, ví dụ như từ các đài vô tuyến AM/FM, cần một anten vô tuyến.
Có loại anten để phát sóng cũng như có loại dùng để thu sóng.
Trên đường truyền, nếu sóng điện từ gặp anten thu thì nó tạo ra một dòng điện cảm ứng biến thiên cùng tần số với sóng điện từ đó.
Khi đó, một phần năng lượng của từ trường biến thiên nhanh đang lan rộng cùng điện trường xác nhận trong thu.
Anten thu thường là loại cảm ứng từ vì mạnh với thành phần riêng điện của sóng điện từ.
Cũng có loại cảm ứng từ mạnh với thành phần từ trường của sóng điện từ như anten ferit.
Để truyền được các thông tin như âm thanh, hình ảnh… đến những nơi xa, người ta đều áp dụng một quy trình là:
Biến các âm thanh (hình ảnh…) muốn truyền đi thành các dao động điện gọi là tín hiệu âm tần (thị tần).
Dùng sóng điện từ tần số cao (cao tần), gọi là sóng mang, để truyền tín hiệu âm tần đi xa qua anten phát.
Dùng máy thu với anten thu để chọn và thu lấy sóng điện từ cao tần.
Tách tín hiệu ra khỏi sóng cao tần rồi dùng loa để nghe âm thanh đã truyền tới (hoặc dùng màn hình để xem hình ảnh).
Sơ đồ được thể hiện trong hình 1:
(Xem hình 1 bên dưới)
a. Hệ thống phát thanh gồm:
Dao động cao tần tạo ra sóng mang.
Ống nói (micro): biến âm thanh thành dao động âm tần.
Mạch biến điệu: trộn dao động âm tần và dao động cao tần thành dao động cao tần biến điệu.
Mạch khuếch đại cao tần: khuếch đại dao động cao tần biến điệu để đưa ra anten phát.
Anten phát: phát xạ sóng cao tần biến điệu ra không gian.
b. Hệ thống thu thanh gồm:
Anten thu: cảm ứng với nhiều sóng điện từ.
Chọn sóng: chọn lọc sóng muốn thu nhờ mạch cộng hưởng.
Tách sóng: lấy ra dao động âm tần từ dao động cao tần biến điệu.
Mạch khuếch đại âm tần: là mạch dao động âm tần rồi đưa ra loa.

Khi sóng điện từ gặp anten [1] thì nó sẽ tạo ra dòng điện cảm ứng biến thiên với cùng [2] với sóng.
Trong thông tin liên lạc, để thu được tín hiệu vô tuyến, ví dụ như từ các đài vô tuyến AM/FM, cần một anten vô tuyến.
Có loại anten để phát sóng cũng như có loại dùng để thu sóng.
Trên đường truyền, nếu sóng điện từ gặp anten thu thì nó tạo ra một dòng điện cảm ứng biến thiên cùng tần số với sóng điện từ đó.
Khi đó, một phần năng lượng của từ trường biến thiên nhanh đang lan rộng cùng điện trường xác nhận trong thu.
Anten thu thường là loại cảm ứng từ vì mạnh với thành phần riêng điện của sóng điện từ.
Cũng có loại cảm ứng từ mạnh với thành phần từ trường của sóng điện từ như anten ferit.
Để truyền được các thông tin như âm thanh, hình ảnh… đến những nơi xa, người ta đều áp dụng một quy trình là:
Biến các âm thanh (hình ảnh…) muốn truyền đi thành các dao động điện gọi là tín hiệu âm tần (thị tần).
Dùng sóng điện từ tần số cao (cao tần), gọi là sóng mang, để truyền tín hiệu âm tần đi xa qua anten phát.
Dùng máy thu với anten thu để chọn và thu lấy sóng điện từ cao tần.
Tách tín hiệu ra khỏi sóng cao tần rồi dùng loa để nghe âm thanh đã truyền tới (hoặc dùng màn hình để xem hình ảnh).
Sơ đồ được thể hiện trong hình 1:
(Xem hình 1 bên dưới)
a. Hệ thống phát thanh gồm:
Dao động cao tần tạo ra sóng mang.
Ống nói (micro): biến âm thanh thành dao động âm tần.
Mạch biến điệu: trộn dao động âm tần và dao động cao tần thành dao động cao tần biến điệu.
Mạch khuếch đại cao tần: khuếch đại dao động cao tần biến điệu để đưa ra anten phát.
Anten phát: phát xạ sóng cao tần biến điệu ra không gian.
b. Hệ thống thu thanh gồm:
Anten thu: cảm ứng với nhiều sóng điện từ.
Chọn sóng: chọn lọc sóng muốn thu nhờ mạch cộng hưởng.
Tách sóng: lấy ra dao động âm tần từ dao động cao tần biến điệu.
Mạch khuếch đại âm tần: là mạch dao động âm tần rồi đưa ra loa.

Dao động điện từ trong mạch chọn sóng của máy thu bắt sóng là:
Dao động tự do với tần số bằng tần số riêng của mạch.
Dao động cưỡng bức có tần số bằng tần số riêng của mạch.
Dao động tắt dần có tần số bằng tần số riêng của mạch.
Cả 3 câu trên đều sai.
Trong thông tin liên lạc, để thu được tín hiệu vô tuyến, ví dụ như từ các đài vô tuyến AM/FM, cần một anten vô tuyến.
Có loại anten để phát sóng cũng như có loại dùng để thu sóng.
Trên đường truyền, nếu sóng điện từ gặp anten thu thì nó tạo ra một dòng điện cảm ứng biến thiên cùng tần số với sóng điện từ đó.
Khi đó, một phần năng lượng của từ trường biến thiên nhanh đang lan rộng cùng điện trường xác nhận trong thu.
Anten thu thường là loại cảm ứng từ vì mạnh với thành phần riêng điện của sóng điện từ.
Cũng có loại cảm ứng từ mạnh với thành phần từ trường của sóng điện từ như anten ferit.
Để truyền được các thông tin như âm thanh, hình ảnh… đến những nơi xa, người ta đều áp dụng một quy trình là:
Biến các âm thanh (hình ảnh…) muốn truyền đi thành các dao động điện gọi là tín hiệu âm tần (thị tần).
Dùng sóng điện từ tần số cao (cao tần), gọi là sóng mang, để truyền tín hiệu âm tần đi xa qua anten phát.
Dùng máy thu với anten thu để chọn và thu lấy sóng điện từ cao tần.
Tách tín hiệu ra khỏi sóng cao tần rồi dùng loa để nghe âm thanh đã truyền tới (hoặc dùng màn hình để xem hình ảnh).
Sơ đồ được thể hiện trong hình 1:
(Xem hình 1 bên dưới)
a. Hệ thống phát thanh gồm:
Dao động cao tần tạo ra sóng mang.
Ống nói (micro): biến âm thanh thành dao động âm tần.
Mạch biến điệu: trộn dao động âm tần và dao động cao tần thành dao động cao tần biến điệu.
Mạch khuếch đại cao tần: khuếch đại dao động cao tần biến điệu để đưa ra anten phát.
Anten phát: phát xạ sóng cao tần biến điệu ra không gian.
b. Hệ thống thu thanh gồm:
Anten thu: cảm ứng với nhiều sóng điện từ.
Chọn sóng: chọn lọc sóng muốn thu nhờ mạch cộng hưởng.
Tách sóng: lấy ra dao động âm tần từ dao động cao tần biến điệu.
Mạch khuếch đại âm tần: là mạch dao động âm tần rồi đưa ra loa.

Chọn các nhận xét đúng khi nói về nguyên tắc phát và thu sóng điện từ.
Không thể có một thiết bị vừa thu vừa phát sóng điện từ.
Để thu sóng điện từ cần dùng một ăng ten.
Nhờ có ăng ten mà ta có thể chọn lọc được sóng cần thu.
Để phát sóng điện từ phải mắc phối hợp một máy dao động điều hoà với một ăng ten.
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 39 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.
Đăng nhập để làm bài