Đề ôn tập ĐGNL ĐHQG TP.HCM năm 2025 - Mã đề 23 — Tiếng Việt

Đánh giá Năng lực V-ACTMôn Ngữ văn30 câuChuẩn GDPT mới

Ngôn ngữ - Tiếng Việt

Câu 1

Việt Nam đang sở hữu những bảo vật mà có lẽ nhiều người chưa nhận ra: là những cây chè rừng nguyên sinh, những cây chè shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Từ 5 tuổi, tôi đã theo bố mẹ học và tiếp cận với cây trà, với nghề làm trà. Nhà chúng tôi có 4 ha trồng trà công nghiệp để sản xuất Đông Phương Mỹ Nhân ở Miêu Lật, Đài Loan.

Tôi năm nay 70 tuổi và có cuộc sống đầy đủ tiện nghi ở quê mình. Nhưng từ năm 2011, khi chạm vào cây trà cổ thụ đầu tiên ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, tôi đã chọn gắn bó phần đời còn lại với mảnh đất này, kết hợp bà con dân bản tìm hiểu những loại trà, giống trà, vùng trà, thu hái về sản xuất thử nghiệm tại xưởng. Hễ nghe ai nói ở đâu có cây trà cổ thụ là tôi lại băng rừng vượt núi đi xem. Mỗi lần gặp những cây trà thân to hai - ba người ôm, áng chừng phải ngàn năm tuổi, tôi lại thêm một lần ngỡ ngàng với cây trà Việt.

Tôi rất muốn tâm sự điều này với người yêu trà Việt Nam, từ kinh nghiệm 15 năm nghiên cứu trà ở đây, và từ truyền thống làm trà qua sáu thế hệ gia đình chúng tôi: trà cổ thụ xứng đáng là bảo vật vô giá của đất nước Việt Nam.

Mỗi cây trà cổ thụ, trà rừng nguyên sinh đều gắn với hệ sinh thái riêng, nơi đó có rêu, địa y, phong lan và vô số thảm thực vật trên đó. Chỉ phun một chút thuốc thôi cũng không bao giờ có được sinh thái hoàn hảo như vậy. Trà phẩm vì thế trước hết tuyệt đối tinh khiết. Quan trọng hơn, trà được chế biến từ cây cổ thụ có hàm lượng nội chất vượt trội so với trà trồng công nghiệp, theo mọi nghiên cứu khoa học. Trong lịch sử 3.000 năm trước, lá trà được coi là thuốc trước khi là thức uống. Trà cổ thụ với nội chất của mình có tác dụng tuyệt vời đối với huyết áp, mỡ máu, tiêu hóa, béo phì, tim mạch và phòng chống ung thư.

Tỉnh Vân Nam Trung Quốc và tỉnh Tuyên Quang (bao gồm Hà Giang cũ) Việt Nam là hai vùng trà cổ thụ lớn. Tôi đã nhiều lần qua lại giữa hai vùng này và muốn nói, xét về độ nguyên sinh và giá trị sinh học, vùng trà cổ thụ ở Hoàng Su Phì không hề kém cạnh so với những vùng trà nổi tiếng ở Vân Nam. Vậy mà trà của Việt Nam đang chỉ được bán với giábằng một phần chục, thậm chí một phần trăm so với họ.

Nhưng lãng phí lớn nhất là một bộ phận người dân chưa biết hết tới giá trị và chưa có ý thức bảo vệ cây trà. Tháng 10 năm 2025, người dân chặt mất hai cây chè rừng nguyên sinh ngàn năm tuổi ở Hoàng Su Phì. Tháng 12, hai cây chè shan tuyết cổ thụ trên năm trăm năm cũng bị chặt để lấy “củi”.

Đau xót quá!

Nếu cứ chặt thế này, 5 năm nữa, Việt Nam không còn măng trà để uống. Loại măng này chỉ mọc ở cây trà rừng nguyên sinh và là loại trà đứng thượng hạng theo ghi chép của Lục Vũ trong sách Trà Kinh.

Trung Quốc quản lý và bảo vệ cây trà cổ thụ bằng cả bốn trụ cột: pháp luật, cộng đồng, khoa học và thị trường. Về pháp luật, cây trà cổ thụ được coi là tài nguyên nông nghiệp đặc hữu, một số khu vực được quản lý như di sản quốc gia nên cấm tuyệt đối việc chặt cây, phun thuốc, cải tạo. Tại các vùng trọng điểm ở Vân Nam, từng cây được đánh số, định vị GPS, trên ba trăm tuổi đã xếp vào hạng phải bảo tồn cao cấp, trên tám trăm tuổi là di sản sống.

Đối với cây trà cổ thụ, Nhà nước cũng không trực tiếp thu hái mà giao quyền cho người dân bản địa. Mỗi gia đình có quyền khai thác truyền đời, miễn không chặt phá cây. Một nhà làm hỏng cây là mất quyền thu hái và cả bàn làng đều bị phạt. Nếu chặt cây sẽ bị xử lý hình sự. Giá thị trường của trà cổ thụ thường cao gấp mười tới một trăm lần trà được trồng công nghiệp, nên cũng là động lực lớn để người dân bằng mọi cách giữ cây trà.

Việt Nam hiện nay có nhiều vùng trà cổ thụ, trà rừng. Chỉ có bà con người dân tộc mới biết từng cây ở đâu trong rừng. Có những vùng cao quá còn chưa ai leo tới để thu hái. Có những cây còn chưa được tìm thấy. Tôi trao đổi với một vài người bạn hiểu trà và thống nhất gợi ý Việt Nam phải bảo vệ bằng mọi cách bảo vật trà cổ thụ của mình. Nhà nước, chính quyền địa phương có thể tổ chức và khuyến khích, để bà con dân tộc tìm kiếm, định vị và đánh số từng cây. Người tìm thấy là người được quyền khai thác và có nghĩa vụ bảo vệ. Giao quyền rõ ràng mới tránh tình trạng "cha chung không ai khóc", chặt phá như đã và đang xảy ra.

Tôi rất muốn nhà nước thực sự coi cây trà rừng là di sản sống, di sản Quốc gia, chứ không chỉ là cây nguyên liệu để khai thác. Chúng ta có thể trồng mới 1.000 cây chè công nghiệp ngay lập tức, nhưng không thể trồng được dù chỉ một cây trà cổ thụ vài trăm năm tuổi. Cấm tuyệt đối chặt phá, định danh từng cây di sản, giao cho hộ dân quản lý và quy định về tiêu chuẩn thu hoạch là các giải pháp bảo vệ tài sản quý này.

Tôi được nghe bà con chặt cây trà rừng để lấy củi, đun nấu. Làm như thế, có khác nào chúng ta tự “đốt thành tro” phân khúc trà đặc sản, trà thượng hảo hạng. Đây chính là phân khúc mang lại lợi ích kinh tế tốt cho ngành trà và đất nước.

(Từ Quốc An, Bảo vật của Việt Nam, Báo Điện tử VnExpress, số ra ngày 19/01/2026)

Phát biểu nào thể hiện luận đề khẳng định xuyên suốt văn bản?

A

Trà cổ thụ xứng đáng là bảo vật vô giá của Việt Nam

B

Việt Nam có nhiều vùng trà cổ thụ và trà rừng nguyên sinh

C

Trà cổ thụ gắn với hệ sinh thái đặc thù và điều kiện tự nhiên

D

Trà Việt Nam đang bị bán với giá thấp hơn so với nơi khác

Câu 2

Việt Nam đang sở hữu những bảo vật mà có lẽ nhiều người chưa nhận ra: là những cây chè rừng nguyên sinh, những cây chè shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Từ 5 tuổi, tôi đã theo bố mẹ học và tiếp cận với cây trà, với nghề làm trà. Nhà chúng tôi có 4 ha trồng trà công nghiệp để sản xuất Đông Phương Mỹ Nhân ở Miêu Lật, Đài Loan.

Tôi năm nay 70 tuổi và có cuộc sống đầy đủ tiện nghi ở quê mình. Nhưng từ năm 2011, khi chạm vào cây trà cổ thụ đầu tiên ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, tôi đã chọn gắn bó phần đời còn lại với mảnh đất này, kết hợp bà con dân bản tìm hiểu những loại trà, giống trà, vùng trà, thu hái về sản xuất thử nghiệm tại xưởng. Hễ nghe ai nói ở đâu có cây trà cổ thụ là tôi lại băng rừng vượt núi đi xem. Mỗi lần gặp những cây trà thân to hai - ba người ôm, áng chừng phải ngàn năm tuổi, tôi lại thêm một lần ngỡ ngàng với cây trà Việt.

Tôi rất muốn tâm sự điều này với người yêu trà Việt Nam, từ kinh nghiệm 15 năm nghiên cứu trà ở đây, và từ truyền thống làm trà qua sáu thế hệ gia đình chúng tôi: trà cổ thụ xứng đáng là bảo vật vô giá của đất nước Việt Nam.

Mỗi cây trà cổ thụ, trà rừng nguyên sinh đều gắn với hệ sinh thái riêng, nơi đó có rêu, địa y, phong lan và vô số thảm thực vật trên đó. Chỉ phun một chút thuốc thôi cũng không bao giờ có được sinh thái hoàn hảo như vậy. Trà phẩm vì thế trước hết tuyệt đối tinh khiết. Quan trọng hơn, trà được chế biến từ cây cổ thụ có hàm lượng nội chất vượt trội so với trà trồng công nghiệp, theo mọi nghiên cứu khoa học. Trong lịch sử 3.000 năm trước, lá trà được coi là thuốc trước khi là thức uống. Trà cổ thụ với nội chất của mình có tác dụng tuyệt vời đối với huyết áp, mỡ máu, tiêu hóa, béo phì, tim mạch và phòng chống ung thư.

Tỉnh Vân Nam Trung Quốc và tỉnh Tuyên Quang (bao gồm Hà Giang cũ) Việt Nam là hai vùng trà cổ thụ lớn. Tôi đã nhiều lần qua lại giữa hai vùng này và muốn nói, xét về độ nguyên sinh và giá trị sinh học, vùng trà cổ thụ ở Hoàng Su Phì không hề kém cạnh so với những vùng trà nổi tiếng ở Vân Nam. Vậy mà trà của Việt Nam đang chỉ được bán với giábằng một phần chục, thậm chí một phần trăm so với họ.

Nhưng lãng phí lớn nhất là một bộ phận người dân chưa biết hết tới giá trị và chưa có ý thức bảo vệ cây trà. Tháng 10 năm 2025, người dân chặt mất hai cây chè rừng nguyên sinh ngàn năm tuổi ở Hoàng Su Phì. Tháng 12, hai cây chè shan tuyết cổ thụ trên năm trăm năm cũng bị chặt để lấy “củi”.

Đau xót quá!

Nếu cứ chặt thế này, 5 năm nữa, Việt Nam không còn măng trà để uống. Loại măng này chỉ mọc ở cây trà rừng nguyên sinh và là loại trà đứng thượng hạng theo ghi chép của Lục Vũ trong sách Trà Kinh.

Trung Quốc quản lý và bảo vệ cây trà cổ thụ bằng cả bốn trụ cột: pháp luật, cộng đồng, khoa học và thị trường. Về pháp luật, cây trà cổ thụ được coi là tài nguyên nông nghiệp đặc hữu, một số khu vực được quản lý như di sản quốc gia nên cấm tuyệt đối việc chặt cây, phun thuốc, cải tạo. Tại các vùng trọng điểm ở Vân Nam, từng cây được đánh số, định vị GPS, trên ba trăm tuổi đã xếp vào hạng phải bảo tồn cao cấp, trên tám trăm tuổi là di sản sống.

Đối với cây trà cổ thụ, Nhà nước cũng không trực tiếp thu hái mà giao quyền cho người dân bản địa. Mỗi gia đình có quyền khai thác truyền đời, miễn không chặt phá cây. Một nhà làm hỏng cây là mất quyền thu hái và cả bàn làng đều bị phạt. Nếu chặt cây sẽ bị xử lý hình sự. Giá thị trường của trà cổ thụ thường cao gấp mười tới một trăm lần trà được trồng công nghiệp, nên cũng là động lực lớn để người dân bằng mọi cách giữ cây trà.

Việt Nam hiện nay có nhiều vùng trà cổ thụ, trà rừng. Chỉ có bà con người dân tộc mới biết từng cây ở đâu trong rừng. Có những vùng cao quá còn chưa ai leo tới để thu hái. Có những cây còn chưa được tìm thấy. Tôi trao đổi với một vài người bạn hiểu trà và thống nhất gợi ý Việt Nam phải bảo vệ bằng mọi cách bảo vật trà cổ thụ của mình. Nhà nước, chính quyền địa phương có thể tổ chức và khuyến khích, để bà con dân tộc tìm kiếm, định vị và đánh số từng cây. Người tìm thấy là người được quyền khai thác và có nghĩa vụ bảo vệ. Giao quyền rõ ràng mới tránh tình trạng "cha chung không ai khóc", chặt phá như đã và đang xảy ra.

Tôi rất muốn nhà nước thực sự coi cây trà rừng là di sản sống, di sản Quốc gia, chứ không chỉ là cây nguyên liệu để khai thác. Chúng ta có thể trồng mới 1.000 cây chè công nghiệp ngay lập tức, nhưng không thể trồng được dù chỉ một cây trà cổ thụ vài trăm năm tuổi. Cấm tuyệt đối chặt phá, định danh từng cây di sản, giao cho hộ dân quản lý và quy định về tiêu chuẩn thu hoạch là các giải pháp bảo vệ tài sản quý này.

Tôi được nghe bà con chặt cây trà rừng để lấy củi, đun nấu. Làm như thế, có khác nào chúng ta tự “đốt thành tro” phân khúc trà đặc sản, trà thượng hảo hạng. Đây chính là phân khúc mang lại lợi ích kinh tế tốt cho ngành trà và đất nước.

(Từ Quốc An, Bảo vật của Việt Nam, Báo Điện tử VnExpress, số ra ngày 19/01/2026)

Nội dung nào thể hiện trực tiếp thái độ của người viết?

A

Trà cổ thụ Việt Nam không kém cạnh Vân Nam về giá trị sinh học

B

Một bộ phận người dân chưa có ý thức bảo vệ cây trà cổ thụ

C

Độ nhạy của thị trường ảnh hưởng mạnh đến giá trị trà

D

Nhiều vùng cao còn chưa ai leo tới để thu hái

Câu 3

Việt Nam đang sở hữu những bảo vật mà có lẽ nhiều người chưa nhận ra: là những cây chè rừng nguyên sinh, những cây chè shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Từ 5 tuổi, tôi đã theo bố mẹ học và tiếp cận với cây trà, với nghề làm trà. Nhà chúng tôi có 4 ha trồng trà công nghiệp để sản xuất Đông Phương Mỹ Nhân ở Miêu Lật, Đài Loan.

Tôi năm nay 70 tuổi và có cuộc sống đầy đủ tiện nghi ở quê mình. Nhưng từ năm 2011, khi chạm vào cây trà cổ thụ đầu tiên ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, tôi đã chọn gắn bó phần đời còn lại với mảnh đất này, kết hợp bà con dân bản tìm hiểu những loại trà, giống trà, vùng trà, thu hái về sản xuất thử nghiệm tại xưởng. Hễ nghe ai nói ở đâu có cây trà cổ thụ là tôi lại băng rừng vượt núi đi xem. Mỗi lần gặp những cây trà thân to hai - ba người ôm, áng chừng phải ngàn năm tuổi, tôi lại thêm một lần ngỡ ngàng với cây trà Việt.

Tôi rất muốn tâm sự điều này với người yêu trà Việt Nam, từ kinh nghiệm 15 năm nghiên cứu trà ở đây, và từ truyền thống làm trà qua sáu thế hệ gia đình chúng tôi: trà cổ thụ xứng đáng là bảo vật vô giá của đất nước Việt Nam.

Mỗi cây trà cổ thụ, trà rừng nguyên sinh đều gắn với hệ sinh thái riêng, nơi đó có rêu, địa y, phong lan và vô số thảm thực vật trên đó. Chỉ phun một chút thuốc thôi cũng không bao giờ có được sinh thái hoàn hảo như vậy. Trà phẩm vì thế trước hết tuyệt đối tinh khiết. Quan trọng hơn, trà được chế biến từ cây cổ thụ có hàm lượng nội chất vượt trội so với trà trồng công nghiệp, theo mọi nghiên cứu khoa học. Trong lịch sử 3.000 năm trước, lá trà được coi là thuốc trước khi là thức uống. Trà cổ thụ với nội chất của mình có tác dụng tuyệt vời đối với huyết áp, mỡ máu, tiêu hóa, béo phì, tim mạch và phòng chống ung thư.

Tỉnh Vân Nam Trung Quốc và tỉnh Tuyên Quang (bao gồm Hà Giang cũ) Việt Nam là hai vùng trà cổ thụ lớn. Tôi đã nhiều lần qua lại giữa hai vùng này và muốn nói, xét về độ nguyên sinh và giá trị sinh học, vùng trà cổ thụ ở Hoàng Su Phì không hề kém cạnh so với những vùng trà nổi tiếng ở Vân Nam. Vậy mà trà của Việt Nam đang chỉ được bán với giábằng một phần chục, thậm chí một phần trăm so với họ.

Nhưng lãng phí lớn nhất là một bộ phận người dân chưa biết hết tới giá trị và chưa có ý thức bảo vệ cây trà. Tháng 10 năm 2025, người dân chặt mất hai cây chè rừng nguyên sinh ngàn năm tuổi ở Hoàng Su Phì. Tháng 12, hai cây chè shan tuyết cổ thụ trên năm trăm năm cũng bị chặt để lấy “củi”.

Đau xót quá!

Nếu cứ chặt thế này, 5 năm nữa, Việt Nam không còn măng trà để uống. Loại măng này chỉ mọc ở cây trà rừng nguyên sinh và là loại trà đứng thượng hạng theo ghi chép của Lục Vũ trong sách Trà Kinh.

Trung Quốc quản lý và bảo vệ cây trà cổ thụ bằng cả bốn trụ cột: pháp luật, cộng đồng, khoa học và thị trường. Về pháp luật, cây trà cổ thụ được coi là tài nguyên nông nghiệp đặc hữu, một số khu vực được quản lý như di sản quốc gia nên cấm tuyệt đối việc chặt cây, phun thuốc, cải tạo. Tại các vùng trọng điểm ở Vân Nam, từng cây được đánh số, định vị GPS, trên ba trăm tuổi đã xếp vào hạng phải bảo tồn cao cấp, trên tám trăm tuổi là di sản sống.

Đối với cây trà cổ thụ, Nhà nước cũng không trực tiếp thu hái mà giao quyền cho người dân bản địa. Mỗi gia đình có quyền khai thác truyền đời, miễn không chặt phá cây. Một nhà làm hỏng cây là mất quyền thu hái và cả bàn làng đều bị phạt. Nếu chặt cây sẽ bị xử lý hình sự. Giá thị trường của trà cổ thụ thường cao gấp mười tới một trăm lần trà được trồng công nghiệp, nên cũng là động lực lớn để người dân bằng mọi cách giữ cây trà.

Việt Nam hiện nay có nhiều vùng trà cổ thụ, trà rừng. Chỉ có bà con người dân tộc mới biết từng cây ở đâu trong rừng. Có những vùng cao quá còn chưa ai leo tới để thu hái. Có những cây còn chưa được tìm thấy. Tôi trao đổi với một vài người bạn hiểu trà và thống nhất gợi ý Việt Nam phải bảo vệ bằng mọi cách bảo vật trà cổ thụ của mình. Nhà nước, chính quyền địa phương có thể tổ chức và khuyến khích, để bà con dân tộc tìm kiếm, định vị và đánh số từng cây. Người tìm thấy là người được quyền khai thác và có nghĩa vụ bảo vệ. Giao quyền rõ ràng mới tránh tình trạng "cha chung không ai khóc", chặt phá như đã và đang xảy ra.

Tôi rất muốn nhà nước thực sự coi cây trà rừng là di sản sống, di sản Quốc gia, chứ không chỉ là cây nguyên liệu để khai thác. Chúng ta có thể trồng mới 1.000 cây chè công nghiệp ngay lập tức, nhưng không thể trồng được dù chỉ một cây trà cổ thụ vài trăm năm tuổi. Cấm tuyệt đối chặt phá, định danh từng cây di sản, giao cho hộ dân quản lý và quy định về tiêu chuẩn thu hoạch là các giải pháp bảo vệ tài sản quý này.

Tôi được nghe bà con chặt cây trà rừng để lấy củi, đun nấu. Làm như thế, có khác nào chúng ta tự “đốt thành tro” phân khúc trà đặc sản, trà thượng hảo hạng. Đây chính là phân khúc mang lại lợi ích kinh tế tốt cho ngành trà và đất nước.

(Từ Quốc An, Bảo vật của Việt Nam, Báo Điện tử VnExpress, số ra ngày 19/01/2026)

Chuỗi luận cứ được triển khai theo trật tự gần nhất là:

A

Định nghĩa khái niệm → phân tích nguyên nhân → chứng minh số liệu → kết luận

B

Kể sự việc cụ thể → mở rộng liên tưởng → miêu tả hệ sinh thái → rút bài học đạo đức

C

Trải nghiệm cá nhân → khẳng định giá trị → dẫn chứng thực trạng → đề xuất giải pháp

D

Nêu vấn đề thị trường → đối chiếu giá cả → bình luận cảm xúc → kết thúc bằng câu hỏi

Câu 4

Việt Nam đang sở hữu những bảo vật mà có lẽ nhiều người chưa nhận ra: là những cây chè rừng nguyên sinh, những cây chè shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Từ 5 tuổi, tôi đã theo bố mẹ học và tiếp cận với cây trà, với nghề làm trà. Nhà chúng tôi có 4 ha trồng trà công nghiệp để sản xuất Đông Phương Mỹ Nhân ở Miêu Lật, Đài Loan.

Tôi năm nay 70 tuổi và có cuộc sống đầy đủ tiện nghi ở quê mình. Nhưng từ năm 2011, khi chạm vào cây trà cổ thụ đầu tiên ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, tôi đã chọn gắn bó phần đời còn lại với mảnh đất này, kết hợp bà con dân bản tìm hiểu những loại trà, giống trà, vùng trà, thu hái về sản xuất thử nghiệm tại xưởng. Hễ nghe ai nói ở đâu có cây trà cổ thụ là tôi lại băng rừng vượt núi đi xem. Mỗi lần gặp những cây trà thân to hai - ba người ôm, áng chừng phải ngàn năm tuổi, tôi lại thêm một lần ngỡ ngàng với cây trà Việt.

Tôi rất muốn tâm sự điều này với người yêu trà Việt Nam, từ kinh nghiệm 15 năm nghiên cứu trà ở đây, và từ truyền thống làm trà qua sáu thế hệ gia đình chúng tôi: trà cổ thụ xứng đáng là bảo vật vô giá của đất nước Việt Nam.

Mỗi cây trà cổ thụ, trà rừng nguyên sinh đều gắn với hệ sinh thái riêng, nơi đó có rêu, địa y, phong lan và vô số thảm thực vật trên đó. Chỉ phun một chút thuốc thôi cũng không bao giờ có được sinh thái hoàn hảo như vậy. Trà phẩm vì thế trước hết tuyệt đối tinh khiết. Quan trọng hơn, trà được chế biến từ cây cổ thụ có hàm lượng nội chất vượt trội so với trà trồng công nghiệp, theo mọi nghiên cứu khoa học. Trong lịch sử 3.000 năm trước, lá trà được coi là thuốc trước khi là thức uống. Trà cổ thụ với nội chất của mình có tác dụng tuyệt vời đối với huyết áp, mỡ máu, tiêu hóa, béo phì, tim mạch và phòng chống ung thư.

Tỉnh Vân Nam Trung Quốc và tỉnh Tuyên Quang (bao gồm Hà Giang cũ) Việt Nam là hai vùng trà cổ thụ lớn. Tôi đã nhiều lần qua lại giữa hai vùng này và muốn nói, xét về độ nguyên sinh và giá trị sinh học, vùng trà cổ thụ ở Hoàng Su Phì không hề kém cạnh so với những vùng trà nổi tiếng ở Vân Nam. Vậy mà trà của Việt Nam đang chỉ được bán với giábằng một phần chục, thậm chí một phần trăm so với họ.

Nhưng lãng phí lớn nhất là một bộ phận người dân chưa biết hết tới giá trị và chưa có ý thức bảo vệ cây trà. Tháng 10 năm 2025, người dân chặt mất hai cây chè rừng nguyên sinh ngàn năm tuổi ở Hoàng Su Phì. Tháng 12, hai cây chè shan tuyết cổ thụ trên năm trăm năm cũng bị chặt để lấy “củi”.

Đau xót quá!

Nếu cứ chặt thế này, 5 năm nữa, Việt Nam không còn măng trà để uống. Loại măng này chỉ mọc ở cây trà rừng nguyên sinh và là loại trà đứng thượng hạng theo ghi chép của Lục Vũ trong sách Trà Kinh.

Trung Quốc quản lý và bảo vệ cây trà cổ thụ bằng cả bốn trụ cột: pháp luật, cộng đồng, khoa học và thị trường. Về pháp luật, cây trà cổ thụ được coi là tài nguyên nông nghiệp đặc hữu, một số khu vực được quản lý như di sản quốc gia nên cấm tuyệt đối việc chặt cây, phun thuốc, cải tạo. Tại các vùng trọng điểm ở Vân Nam, từng cây được đánh số, định vị GPS, trên ba trăm tuổi đã xếp vào hạng phải bảo tồn cao cấp, trên tám trăm tuổi là di sản sống.

Đối với cây trà cổ thụ, Nhà nước cũng không trực tiếp thu hái mà giao quyền cho người dân bản địa. Mỗi gia đình có quyền khai thác truyền đời, miễn không chặt phá cây. Một nhà làm hỏng cây là mất quyền thu hái và cả bàn làng đều bị phạt. Nếu chặt cây sẽ bị xử lý hình sự. Giá thị trường của trà cổ thụ thường cao gấp mười tới một trăm lần trà được trồng công nghiệp, nên cũng là động lực lớn để người dân bằng mọi cách giữ cây trà.

Việt Nam hiện nay có nhiều vùng trà cổ thụ, trà rừng. Chỉ có bà con người dân tộc mới biết từng cây ở đâu trong rừng. Có những vùng cao quá còn chưa ai leo tới để thu hái. Có những cây còn chưa được tìm thấy. Tôi trao đổi với một vài người bạn hiểu trà và thống nhất gợi ý Việt Nam phải bảo vệ bằng mọi cách bảo vật trà cổ thụ của mình. Nhà nước, chính quyền địa phương có thể tổ chức và khuyến khích, để bà con dân tộc tìm kiếm, định vị và đánh số từng cây. Người tìm thấy là người được quyền khai thác và có nghĩa vụ bảo vệ. Giao quyền rõ ràng mới tránh tình trạng "cha chung không ai khóc", chặt phá như đã và đang xảy ra.

Tôi rất muốn nhà nước thực sự coi cây trà rừng là di sản sống, di sản Quốc gia, chứ không chỉ là cây nguyên liệu để khai thác. Chúng ta có thể trồng mới 1.000 cây chè công nghiệp ngay lập tức, nhưng không thể trồng được dù chỉ một cây trà cổ thụ vài trăm năm tuổi. Cấm tuyệt đối chặt phá, định danh từng cây di sản, giao cho hộ dân quản lý và quy định về tiêu chuẩn thu hoạch là các giải pháp bảo vệ tài sản quý này.

Tôi được nghe bà con chặt cây trà rừng để lấy củi, đun nấu. Làm như thế, có khác nào chúng ta tự “đốt thành tro” phân khúc trà đặc sản, trà thượng hảo hạng. Đây chính là phân khúc mang lại lợi ích kinh tế tốt cho ngành trà và đất nước.

(Từ Quốc An, Bảo vật của Việt Nam, Báo Điện tử VnExpress, số ra ngày 19/01/2026)

Đoạn nói về “Trung Quốc bảo vệ bằng bốn trụ cột…”, rồi đề xuất Việt Nam “định vị GPS, đánh số…” chủ yếu sử dụng thao tác:

A

So sánh, đối chiếu để làm nổi bật chênh lệch cách quản lý và gợi hướng giải quyết

B

Giải thích để làm rõ khái niệm “di sản sống”, qua đó định hướng quản lý nghề trà

C

Chứng minh để khẳng định trà cổ thụ có tác dụng đối với sức khỏe con người

D

Bình luận để bộc lộ cảm xúc cá nhân cũng như trải nghiệm về nghề trà

Câu 5

Việt Nam đang sở hữu những bảo vật mà có lẽ nhiều người chưa nhận ra: là những cây chè rừng nguyên sinh, những cây chè shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Từ 5 tuổi, tôi đã theo bố mẹ học và tiếp cận với cây trà, với nghề làm trà. Nhà chúng tôi có 4 ha trồng trà công nghiệp để sản xuất Đông Phương Mỹ Nhân ở Miêu Lật, Đài Loan.

Tôi năm nay 70 tuổi và có cuộc sống đầy đủ tiện nghi ở quê mình. Nhưng từ năm 2011, khi chạm vào cây trà cổ thụ đầu tiên ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, tôi đã chọn gắn bó phần đời còn lại với mảnh đất này, kết hợp bà con dân bản tìm hiểu những loại trà, giống trà, vùng trà, thu hái về sản xuất thử nghiệm tại xưởng. Hễ nghe ai nói ở đâu có cây trà cổ thụ là tôi lại băng rừng vượt núi đi xem. Mỗi lần gặp những cây trà thân to hai - ba người ôm, áng chừng phải ngàn năm tuổi, tôi lại thêm một lần ngỡ ngàng với cây trà Việt.

Tôi rất muốn tâm sự điều này với người yêu trà Việt Nam, từ kinh nghiệm 15 năm nghiên cứu trà ở đây, và từ truyền thống làm trà qua sáu thế hệ gia đình chúng tôi: trà cổ thụ xứng đáng là bảo vật vô giá của đất nước Việt Nam.

Mỗi cây trà cổ thụ, trà rừng nguyên sinh đều gắn với hệ sinh thái riêng, nơi đó có rêu, địa y, phong lan và vô số thảm thực vật trên đó. Chỉ phun một chút thuốc thôi cũng không bao giờ có được sinh thái hoàn hảo như vậy. Trà phẩm vì thế trước hết tuyệt đối tinh khiết. Quan trọng hơn, trà được chế biến từ cây cổ thụ có hàm lượng nội chất vượt trội so với trà trồng công nghiệp, theo mọi nghiên cứu khoa học. Trong lịch sử 3.000 năm trước, lá trà được coi là thuốc trước khi là thức uống. Trà cổ thụ với nội chất của mình có tác dụng tuyệt vời đối với huyết áp, mỡ máu, tiêu hóa, béo phì, tim mạch và phòng chống ung thư.

Tỉnh Vân Nam Trung Quốc và tỉnh Tuyên Quang (bao gồm Hà Giang cũ) Việt Nam là hai vùng trà cổ thụ lớn. Tôi đã nhiều lần qua lại giữa hai vùng này và muốn nói, xét về độ nguyên sinh và giá trị sinh học, vùng trà cổ thụ ở Hoàng Su Phì không hề kém cạnh so với những vùng trà nổi tiếng ở Vân Nam. Vậy mà trà của Việt Nam đang chỉ được bán với giábằng một phần chục, thậm chí một phần trăm so với họ.

Nhưng lãng phí lớn nhất là một bộ phận người dân chưa biết hết tới giá trị và chưa có ý thức bảo vệ cây trà. Tháng 10 năm 2025, người dân chặt mất hai cây chè rừng nguyên sinh ngàn năm tuổi ở Hoàng Su Phì. Tháng 12, hai cây chè shan tuyết cổ thụ trên năm trăm năm cũng bị chặt để lấy “củi”.

Đau xót quá!

Nếu cứ chặt thế này, 5 năm nữa, Việt Nam không còn măng trà để uống. Loại măng này chỉ mọc ở cây trà rừng nguyên sinh và là loại trà đứng thượng hạng theo ghi chép của Lục Vũ trong sách Trà Kinh.

Trung Quốc quản lý và bảo vệ cây trà cổ thụ bằng cả bốn trụ cột: pháp luật, cộng đồng, khoa học và thị trường. Về pháp luật, cây trà cổ thụ được coi là tài nguyên nông nghiệp đặc hữu, một số khu vực được quản lý như di sản quốc gia nên cấm tuyệt đối việc chặt cây, phun thuốc, cải tạo. Tại các vùng trọng điểm ở Vân Nam, từng cây được đánh số, định vị GPS, trên ba trăm tuổi đã xếp vào hạng phải bảo tồn cao cấp, trên tám trăm tuổi là di sản sống.

Đối với cây trà cổ thụ, Nhà nước cũng không trực tiếp thu hái mà giao quyền cho người dân bản địa. Mỗi gia đình có quyền khai thác truyền đời, miễn không chặt phá cây. Một nhà làm hỏng cây là mất quyền thu hái và cả bàn làng đều bị phạt. Nếu chặt cây sẽ bị xử lý hình sự. Giá thị trường của trà cổ thụ thường cao gấp mười tới một trăm lần trà được trồng công nghiệp, nên cũng là động lực lớn để người dân bằng mọi cách giữ cây trà.

Việt Nam hiện nay có nhiều vùng trà cổ thụ, trà rừng. Chỉ có bà con người dân tộc mới biết từng cây ở đâu trong rừng. Có những vùng cao quá còn chưa ai leo tới để thu hái. Có những cây còn chưa được tìm thấy. Tôi trao đổi với một vài người bạn hiểu trà và thống nhất gợi ý Việt Nam phải bảo vệ bằng mọi cách bảo vật trà cổ thụ của mình. Nhà nước, chính quyền địa phương có thể tổ chức và khuyến khích, để bà con dân tộc tìm kiếm, định vị và đánh số từng cây. Người tìm thấy là người được quyền khai thác và có nghĩa vụ bảo vệ. Giao quyền rõ ràng mới tránh tình trạng "cha chung không ai khóc", chặt phá như đã và đang xảy ra.

Tôi rất muốn nhà nước thực sự coi cây trà rừng là di sản sống, di sản Quốc gia, chứ không chỉ là cây nguyên liệu để khai thác. Chúng ta có thể trồng mới 1.000 cây chè công nghiệp ngay lập tức, nhưng không thể trồng được dù chỉ một cây trà cổ thụ vài trăm năm tuổi. Cấm tuyệt đối chặt phá, định danh từng cây di sản, giao cho hộ dân quản lý và quy định về tiêu chuẩn thu hoạch là các giải pháp bảo vệ tài sản quý này.

Tôi được nghe bà con chặt cây trà rừng để lấy củi, đun nấu. Làm như thế, có khác nào chúng ta tự “đốt thành tro” phân khúc trà đặc sản, trà thượng hảo hạng. Đây chính là phân khúc mang lại lợi ích kinh tế tốt cho ngành trà và đất nước.

(Từ Quốc An, Bảo vật của Việt Nam, Báo Điện tử VnExpress, số ra ngày 19/01/2026)

Câu cảm thán “Đau xót quá!” có tác dụng nghị luận chủ yếu là:

A

Thay thế lí lẽ khoa học bằng cảm xúc chủ quan

B

Tăng sức nhấn, bộc lộ thái độ, tạo áp lực cho lời kêu gọi

C

Làm gián đoạn mạch lập luận, chuyển hẳn sang tự sự

D

Làm giảm tính tranh luận, tạo giọng văn trung tính

Câu 6

Việt Nam đang sở hữu những bảo vật mà có lẽ nhiều người chưa nhận ra: là những cây chè rừng nguyên sinh, những cây chè shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Từ 5 tuổi, tôi đã theo bố mẹ học và tiếp cận với cây trà, với nghề làm trà. Nhà chúng tôi có 4 ha trồng trà công nghiệp để sản xuất Đông Phương Mỹ Nhân ở Miêu Lật, Đài Loan.

Tôi năm nay 70 tuổi và có cuộc sống đầy đủ tiện nghi ở quê mình. Nhưng từ năm 2011, khi chạm vào cây trà cổ thụ đầu tiên ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, tôi đã chọn gắn bó phần đời còn lại với mảnh đất này, kết hợp bà con dân bản tìm hiểu những loại trà, giống trà, vùng trà, thu hái về sản xuất thử nghiệm tại xưởng. Hễ nghe ai nói ở đâu có cây trà cổ thụ là tôi lại băng rừng vượt núi đi xem. Mỗi lần gặp những cây trà thân to hai - ba người ôm, áng chừng phải ngàn năm tuổi, tôi lại thêm một lần ngỡ ngàng với cây trà Việt.

Tôi rất muốn tâm sự điều này với người yêu trà Việt Nam, từ kinh nghiệm 15 năm nghiên cứu trà ở đây, và từ truyền thống làm trà qua sáu thế hệ gia đình chúng tôi: trà cổ thụ xứng đáng là bảo vật vô giá của đất nước Việt Nam.

Mỗi cây trà cổ thụ, trà rừng nguyên sinh đều gắn với hệ sinh thái riêng, nơi đó có rêu, địa y, phong lan và vô số thảm thực vật trên đó. Chỉ phun một chút thuốc thôi cũng không bao giờ có được sinh thái hoàn hảo như vậy. Trà phẩm vì thế trước hết tuyệt đối tinh khiết. Quan trọng hơn, trà được chế biến từ cây cổ thụ có hàm lượng nội chất vượt trội so với trà trồng công nghiệp, theo mọi nghiên cứu khoa học. Trong lịch sử 3.000 năm trước, lá trà được coi là thuốc trước khi là thức uống. Trà cổ thụ với nội chất của mình có tác dụng tuyệt vời đối với huyết áp, mỡ máu, tiêu hóa, béo phì, tim mạch và phòng chống ung thư.

Tỉnh Vân Nam Trung Quốc và tỉnh Tuyên Quang (bao gồm Hà Giang cũ) Việt Nam là hai vùng trà cổ thụ lớn. Tôi đã nhiều lần qua lại giữa hai vùng này và muốn nói, xét về độ nguyên sinh và giá trị sinh học, vùng trà cổ thụ ở Hoàng Su Phì không hề kém cạnh so với những vùng trà nổi tiếng ở Vân Nam. Vậy mà trà của Việt Nam đang chỉ được bán với giábằng một phần chục, thậm chí một phần trăm so với họ.

Nhưng lãng phí lớn nhất là một bộ phận người dân chưa biết hết tới giá trị và chưa có ý thức bảo vệ cây trà. Tháng 10 năm 2025, người dân chặt mất hai cây chè rừng nguyên sinh ngàn năm tuổi ở Hoàng Su Phì. Tháng 12, hai cây chè shan tuyết cổ thụ trên năm trăm năm cũng bị chặt để lấy “củi”.

Đau xót quá!

Nếu cứ chặt thế này, 5 năm nữa, Việt Nam không còn măng trà để uống. Loại măng này chỉ mọc ở cây trà rừng nguyên sinh và là loại trà đứng thượng hạng theo ghi chép của Lục Vũ trong sách Trà Kinh.

Trung Quốc quản lý và bảo vệ cây trà cổ thụ bằng cả bốn trụ cột: pháp luật, cộng đồng, khoa học và thị trường. Về pháp luật, cây trà cổ thụ được coi là tài nguyên nông nghiệp đặc hữu, một số khu vực được quản lý như di sản quốc gia nên cấm tuyệt đối việc chặt cây, phun thuốc, cải tạo. Tại các vùng trọng điểm ở Vân Nam, từng cây được đánh số, định vị GPS, trên ba trăm tuổi đã xếp vào hạng phải bảo tồn cao cấp, trên tám trăm tuổi là di sản sống.

Đối với cây trà cổ thụ, Nhà nước cũng không trực tiếp thu hái mà giao quyền cho người dân bản địa. Mỗi gia đình có quyền khai thác truyền đời, miễn không chặt phá cây. Một nhà làm hỏng cây là mất quyền thu hái và cả bàn làng đều bị phạt. Nếu chặt cây sẽ bị xử lý hình sự. Giá thị trường của trà cổ thụ thường cao gấp mười tới một trăm lần trà được trồng công nghiệp, nên cũng là động lực lớn để người dân bằng mọi cách giữ cây trà.

Việt Nam hiện nay có nhiều vùng trà cổ thụ, trà rừng. Chỉ có bà con người dân tộc mới biết từng cây ở đâu trong rừng. Có những vùng cao quá còn chưa ai leo tới để thu hái. Có những cây còn chưa được tìm thấy. Tôi trao đổi với một vài người bạn hiểu trà và thống nhất gợi ý Việt Nam phải bảo vệ bằng mọi cách bảo vật trà cổ thụ của mình. Nhà nước, chính quyền địa phương có thể tổ chức và khuyến khích, để bà con dân tộc tìm kiếm, định vị và đánh số từng cây. Người tìm thấy là người được quyền khai thác và có nghĩa vụ bảo vệ. Giao quyền rõ ràng mới tránh tình trạng "cha chung không ai khóc", chặt phá như đã và đang xảy ra.

Tôi rất muốn nhà nước thực sự coi cây trà rừng là di sản sống, di sản Quốc gia, chứ không chỉ là cây nguyên liệu để khai thác. Chúng ta có thể trồng mới 1.000 cây chè công nghiệp ngay lập tức, nhưng không thể trồng được dù chỉ một cây trà cổ thụ vài trăm năm tuổi. Cấm tuyệt đối chặt phá, định danh từng cây di sản, giao cho hộ dân quản lý và quy định về tiêu chuẩn thu hoạch là các giải pháp bảo vệ tài sản quý này.

Tôi được nghe bà con chặt cây trà rừng để lấy củi, đun nấu. Làm như thế, có khác nào chúng ta tự “đốt thành tro” phân khúc trà đặc sản, trà thượng hảo hạng. Đây chính là phân khúc mang lại lợi ích kinh tế tốt cho ngành trà và đất nước.

(Từ Quốc An, Bảo vật của Việt Nam, Báo Điện tử VnExpress, số ra ngày 19/01/2026)

Dòng nào tạo thế đối sánh khẳng định/ phủ định rõ nhất để làm giọng văn?

A

“có thể trồng mới 1.000 cây chè công nghiệp” và “không thể trồng được một cây trà cổ thụ vài trăm năm tuổi”

B

“tôi 70 tuổi” và “tôi gắn bó từ năm 2011”

C

“trà là thuốc trước khi là thức uống” và “trà có tác dụng đối với sức khỏe”

D

“Vân Nam” và “Tuyên Quang”

Câu 7

Việt Nam đang sở hữu những bảo vật mà có lẽ nhiều người chưa nhận ra: là những cây chè rừng nguyên sinh, những cây chè shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Từ 5 tuổi, tôi đã theo bố mẹ học và tiếp cận với cây trà, với nghề làm trà. Nhà chúng tôi có 4 ha trồng trà công nghiệp để sản xuất Đông Phương Mỹ Nhân ở Miêu Lật, Đài Loan.

Tôi năm nay 70 tuổi và có cuộc sống đầy đủ tiện nghi ở quê mình. Nhưng từ năm 2011, khi chạm vào cây trà cổ thụ đầu tiên ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, tôi đã chọn gắn bó phần đời còn lại với mảnh đất này, kết hợp bà con dân bản tìm hiểu những loại trà, giống trà, vùng trà, thu hái về sản xuất thử nghiệm tại xưởng. Hễ nghe ai nói ở đâu có cây trà cổ thụ là tôi lại băng rừng vượt núi đi xem. Mỗi lần gặp những cây trà thân to hai - ba người ôm, áng chừng phải ngàn năm tuổi, tôi lại thêm một lần ngỡ ngàng với cây trà Việt.

Tôi rất muốn tâm sự điều này với người yêu trà Việt Nam, từ kinh nghiệm 15 năm nghiên cứu trà ở đây, và từ truyền thống làm trà qua sáu thế hệ gia đình chúng tôi: trà cổ thụ xứng đáng là bảo vật vô giá của đất nước Việt Nam.

Mỗi cây trà cổ thụ, trà rừng nguyên sinh đều gắn với hệ sinh thái riêng, nơi đó có rêu, địa y, phong lan và vô số thảm thực vật trên đó. Chỉ phun một chút thuốc thôi cũng không bao giờ có được sinh thái hoàn hảo như vậy. Trà phẩm vì thế trước hết tuyệt đối tinh khiết. Quan trọng hơn, trà được chế biến từ cây cổ thụ có hàm lượng nội chất vượt trội so với trà trồng công nghiệp, theo mọi nghiên cứu khoa học. Trong lịch sử 3.000 năm trước, lá trà được coi là thuốc trước khi là thức uống. Trà cổ thụ với nội chất của mình có tác dụng tuyệt vời đối với huyết áp, mỡ máu, tiêu hóa, béo phì, tim mạch và phòng chống ung thư.

Tỉnh Vân Nam Trung Quốc và tỉnh Tuyên Quang (bao gồm Hà Giang cũ) Việt Nam là hai vùng trà cổ thụ lớn. Tôi đã nhiều lần qua lại giữa hai vùng này và muốn nói, xét về độ nguyên sinh và giá trị sinh học, vùng trà cổ thụ ở Hoàng Su Phì không hề kém cạnh so với những vùng trà nổi tiếng ở Vân Nam. Vậy mà trà của Việt Nam đang chỉ được bán với giábằng một phần chục, thậm chí một phần trăm so với họ.

Nhưng lãng phí lớn nhất là một bộ phận người dân chưa biết hết tới giá trị và chưa có ý thức bảo vệ cây trà. Tháng 10 năm 2025, người dân chặt mất hai cây chè rừng nguyên sinh ngàn năm tuổi ở Hoàng Su Phì. Tháng 12, hai cây chè shan tuyết cổ thụ trên năm trăm năm cũng bị chặt để lấy “củi”.

Đau xót quá!

Nếu cứ chặt thế này, 5 năm nữa, Việt Nam không còn măng trà để uống. Loại măng này chỉ mọc ở cây trà rừng nguyên sinh và là loại trà đứng thượng hạng theo ghi chép của Lục Vũ trong sách Trà Kinh.

Trung Quốc quản lý và bảo vệ cây trà cổ thụ bằng cả bốn trụ cột: pháp luật, cộng đồng, khoa học và thị trường. Về pháp luật, cây trà cổ thụ được coi là tài nguyên nông nghiệp đặc hữu, một số khu vực được quản lý như di sản quốc gia nên cấm tuyệt đối việc chặt cây, phun thuốc, cải tạo. Tại các vùng trọng điểm ở Vân Nam, từng cây được đánh số, định vị GPS, trên ba trăm tuổi đã xếp vào hạng phải bảo tồn cao cấp, trên tám trăm tuổi là di sản sống.

Đối với cây trà cổ thụ, Nhà nước cũng không trực tiếp thu hái mà giao quyền cho người dân bản địa. Mỗi gia đình có quyền khai thác truyền đời, miễn không chặt phá cây. Một nhà làm hỏng cây là mất quyền thu hái và cả bàn làng đều bị phạt. Nếu chặt cây sẽ bị xử lý hình sự. Giá thị trường của trà cổ thụ thường cao gấp mười tới một trăm lần trà được trồng công nghiệp, nên cũng là động lực lớn để người dân bằng mọi cách giữ cây trà.

Việt Nam hiện nay có nhiều vùng trà cổ thụ, trà rừng. Chỉ có bà con người dân tộc mới biết từng cây ở đâu trong rừng. Có những vùng cao quá còn chưa ai leo tới để thu hái. Có những cây còn chưa được tìm thấy. Tôi trao đổi với một vài người bạn hiểu trà và thống nhất gợi ý Việt Nam phải bảo vệ bằng mọi cách bảo vật trà cổ thụ của mình. Nhà nước, chính quyền địa phương có thể tổ chức và khuyến khích, để bà con dân tộc tìm kiếm, định vị và đánh số từng cây. Người tìm thấy là người được quyền khai thác và có nghĩa vụ bảo vệ. Giao quyền rõ ràng mới tránh tình trạng "cha chung không ai khóc", chặt phá như đã và đang xảy ra.

Tôi rất muốn nhà nước thực sự coi cây trà rừng là di sản sống, di sản Quốc gia, chứ không chỉ là cây nguyên liệu để khai thác. Chúng ta có thể trồng mới 1.000 cây chè công nghiệp ngay lập tức, nhưng không thể trồng được dù chỉ một cây trà cổ thụ vài trăm năm tuổi. Cấm tuyệt đối chặt phá, định danh từng cây di sản, giao cho hộ dân quản lý và quy định về tiêu chuẩn thu hoạch là các giải pháp bảo vệ tài sản quý này.

Tôi được nghe bà con chặt cây trà rừng để lấy củi, đun nấu. Làm như thế, có khác nào chúng ta tự “đốt thành tro” phân khúc trà đặc sản, trà thượng hảo hạng. Đây chính là phân khúc mang lại lợi ích kinh tế tốt cho ngành trà và đất nước.

(Từ Quốc An, Bảo vật của Việt Nam, Báo Điện tử VnExpress, số ra ngày 19/01/2026)

Câu “Nếu cứ chặt thế này, 5 năm nữa…” chủ yếu là dạng luận cứ nào?

A

Luận cứ dự báo nhằm cảnh báo hậu quả và thúc đẩy hành động

B

Luận cứ số liệu nhằm chứng minh xu hướng suy giảm

C

Luận cứ định nghĩa nhằm xác lập phạm vi vấn đề

D

Luận cứ thẩm mĩ nhằm tạo hình ảnh ấn tượng

Câu 8

Việt Nam đang sở hữu những bảo vật mà có lẽ nhiều người chưa nhận ra: là những cây chè rừng nguyên sinh, những cây chè shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Từ 5 tuổi, tôi đã theo bố mẹ học và tiếp cận với cây trà, với nghề làm trà. Nhà chúng tôi có 4 ha trồng trà công nghiệp để sản xuất Đông Phương Mỹ Nhân ở Miêu Lật, Đài Loan.

Tôi năm nay 70 tuổi và có cuộc sống đầy đủ tiện nghi ở quê mình. Nhưng từ năm 2011, khi chạm vào cây trà cổ thụ đầu tiên ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, tôi đã chọn gắn bó phần đời còn lại với mảnh đất này, kết hợp bà con dân bản tìm hiểu những loại trà, giống trà, vùng trà, thu hái về sản xuất thử nghiệm tại xưởng. Hễ nghe ai nói ở đâu có cây trà cổ thụ là tôi lại băng rừng vượt núi đi xem. Mỗi lần gặp những cây trà thân to hai - ba người ôm, áng chừng phải ngàn năm tuổi, tôi lại thêm một lần ngỡ ngàng với cây trà Việt.

Tôi rất muốn tâm sự điều này với người yêu trà Việt Nam, từ kinh nghiệm 15 năm nghiên cứu trà ở đây, và từ truyền thống làm trà qua sáu thế hệ gia đình chúng tôi: trà cổ thụ xứng đáng là bảo vật vô giá của đất nước Việt Nam.

Mỗi cây trà cổ thụ, trà rừng nguyên sinh đều gắn với hệ sinh thái riêng, nơi đó có rêu, địa y, phong lan và vô số thảm thực vật trên đó. Chỉ phun một chút thuốc thôi cũng không bao giờ có được sinh thái hoàn hảo như vậy. Trà phẩm vì thế trước hết tuyệt đối tinh khiết. Quan trọng hơn, trà được chế biến từ cây cổ thụ có hàm lượng nội chất vượt trội so với trà trồng công nghiệp, theo mọi nghiên cứu khoa học. Trong lịch sử 3.000 năm trước, lá trà được coi là thuốc trước khi là thức uống. Trà cổ thụ với nội chất của mình có tác dụng tuyệt vời đối với huyết áp, mỡ máu, tiêu hóa, béo phì, tim mạch và phòng chống ung thư.

Tỉnh Vân Nam Trung Quốc và tỉnh Tuyên Quang (bao gồm Hà Giang cũ) Việt Nam là hai vùng trà cổ thụ lớn. Tôi đã nhiều lần qua lại giữa hai vùng này và muốn nói, xét về độ nguyên sinh và giá trị sinh học, vùng trà cổ thụ ở Hoàng Su Phì không hề kém cạnh so với những vùng trà nổi tiếng ở Vân Nam. Vậy mà trà của Việt Nam đang chỉ được bán với giábằng một phần chục, thậm chí một phần trăm so với họ.

Nhưng lãng phí lớn nhất là một bộ phận người dân chưa biết hết tới giá trị và chưa có ý thức bảo vệ cây trà. Tháng 10 năm 2025, người dân chặt mất hai cây chè rừng nguyên sinh ngàn năm tuổi ở Hoàng Su Phì. Tháng 12, hai cây chè shan tuyết cổ thụ trên năm trăm năm cũng bị chặt để lấy “củi”.

Đau xót quá!

Nếu cứ chặt thế này, 5 năm nữa, Việt Nam không còn măng trà để uống. Loại măng này chỉ mọc ở cây trà rừng nguyên sinh và là loại trà đứng thượng hạng theo ghi chép của Lục Vũ trong sách Trà Kinh.

Trung Quốc quản lý và bảo vệ cây trà cổ thụ bằng cả bốn trụ cột: pháp luật, cộng đồng, khoa học và thị trường. Về pháp luật, cây trà cổ thụ được coi là tài nguyên nông nghiệp đặc hữu, một số khu vực được quản lý như di sản quốc gia nên cấm tuyệt đối việc chặt cây, phun thuốc, cải tạo. Tại các vùng trọng điểm ở Vân Nam, từng cây được đánh số, định vị GPS, trên ba trăm tuổi đã xếp vào hạng phải bảo tồn cao cấp, trên tám trăm tuổi là di sản sống.

Đối với cây trà cổ thụ, Nhà nước cũng không trực tiếp thu hái mà giao quyền cho người dân bản địa. Mỗi gia đình có quyền khai thác truyền đời, miễn không chặt phá cây. Một nhà làm hỏng cây là mất quyền thu hái và cả bàn làng đều bị phạt. Nếu chặt cây sẽ bị xử lý hình sự. Giá thị trường của trà cổ thụ thường cao gấp mười tới một trăm lần trà được trồng công nghiệp, nên cũng là động lực lớn để người dân bằng mọi cách giữ cây trà.

Việt Nam hiện nay có nhiều vùng trà cổ thụ, trà rừng. Chỉ có bà con người dân tộc mới biết từng cây ở đâu trong rừng. Có những vùng cao quá còn chưa ai leo tới để thu hái. Có những cây còn chưa được tìm thấy. Tôi trao đổi với một vài người bạn hiểu trà và thống nhất gợi ý Việt Nam phải bảo vệ bằng mọi cách bảo vật trà cổ thụ của mình. Nhà nước, chính quyền địa phương có thể tổ chức và khuyến khích, để bà con dân tộc tìm kiếm, định vị và đánh số từng cây. Người tìm thấy là người được quyền khai thác và có nghĩa vụ bảo vệ. Giao quyền rõ ràng mới tránh tình trạng "cha chung không ai khóc", chặt phá như đã và đang xảy ra.

Tôi rất muốn nhà nước thực sự coi cây trà rừng là di sản sống, di sản Quốc gia, chứ không chỉ là cây nguyên liệu để khai thác. Chúng ta có thể trồng mới 1.000 cây chè công nghiệp ngay lập tức, nhưng không thể trồng được dù chỉ một cây trà cổ thụ vài trăm năm tuổi. Cấm tuyệt đối chặt phá, định danh từng cây di sản, giao cho hộ dân quản lý và quy định về tiêu chuẩn thu hoạch là các giải pháp bảo vệ tài sản quý này.

Tôi được nghe bà con chặt cây trà rừng để lấy củi, đun nấu. Làm như thế, có khác nào chúng ta tự “đốt thành tro” phân khúc trà đặc sản, trà thượng hảo hạng. Đây chính là phân khúc mang lại lợi ích kinh tế tốt cho ngành trà và đất nước.

(Từ Quốc An, Bảo vật của Việt Nam, Báo Điện tử VnExpress, số ra ngày 19/01/2026)

Chi tiết “theo ghi chép của Lục Vũ trong sách Trà Kinh” cho thấy người viết:

A

Dùng điển tích để tạo màu sắc văn chương cho bài viết

B

Dùng trích dẫn để thay thế cho lập luận của bản thân

C

Dẫn nguồn để tăng độ tin cậy, thể hiện ý thức tôn trọng tri thức đã được ghi nhận

D

Dùng tài liệu cổ để phủ định các nghiên cứu khoa học hiện đại

Câu 9

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng cuộc sống được cải thiện, hệ thống y tế tốt hơn với nhiều công nghệ hiện đại đã góp phần kéo dài tuổi thọ của con người. Tỷ lệ sinh có xu hướng giảm trên thế giới đã làm cho số người cao tuổi ngày càng cao, dẫn đến hiện tượng già hóa dân số. Vấn đề già hóa dân số gây nhiều ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế trong dài hạn, làm giảm lực lượng và năng suất lao động, đòi hỏi đầu tư, chi tiêu xã hội nhiều hơn cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe, kết cấu hạ tầng và những vấn đề về xã hội cho người cao tuổi.

Dân số Việt Nam đã vượt 100 triệu người, đưa Việt Nam trở thành quốc gia thứ 15 trên thế giới và là quốc gia thứ ba ở Đông Nam Á có dân số trên 100 triệu người. Cột mốc này tạo ra nhiều cơ hội song cũng đặt ra không ít thách thức, trong đó có vấn đề đáng longại là tình trạng già hóa dân số đang gia tăng nhanh chóng.

Từ năm 2011, Việt Nam bắt đầu quá trình già hóa dân số và là một trong số các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Theo cơ sở dữ liệu dân cư do Bộ Công an cung cấp, đến ngày 9-2-2023, cả nước có 16.179.824 công dân từ 60 tuổi trở lên, chiếm gần 17% số dân, trong đó từ 60 đến dưới 70 tuổi là 9.417.924 người, từ 70 đến dưới 80 tuổi là 4.189.640 người, từ 80 đến dưới 90 tuổi là 1.907.991 người, từ 90 đến dưới 100 tuổi là 623.221 người, từ 100 tuổi trở lên là 41.048 người.

Giai đoạn 2009 - 2019, dân số tăng bình quân 1,14%/năm, trong khi dân số cao tuổi tăng bình quân 4,35%/năm, bình quân tăng 400.000 người cao tuổi/năm, nhưng các năm 2019 - 2021, bình quân tăng 600.000 người cao tuổi/năm. Chỉ số già hóa (số người cao tuổi trên 100 trẻ em dưới 15 tuổi) tăng nhanh từ 2009, xu hướng già hóa dân số ở Việt Nam đang diễn ra nhanh chóng.

Dự kiến, vào năm 2036, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số già, chuyển từ xã hội “già hóa” sang xã hội “già”. Đến năm 2038, nhóm dân số 60 tuổi trở lên ở Việt Nam chiếm 20% dân số; đến năm 2050, Việt Nam trở thành xã hội siêu già với tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm 25% dân số(1). Điểm cơ bản tạo ra các thách thức đối với Việt Nam là nước ta chỉ có trên 20 năm để chuyển từ xã hội già hóa dân số sang xã hội dân số già, trong khi Pháp là 115 năm, Thụy Điển 89 năm, Mỹ 69 năm... Như vậy, trong khi các nước có hàng trăm năm hoặc hơn nửa thế kỷ để từng bước thay đổi chính sách, ứng phó với sự già hóa dần, Việt Nam chỉ có khoảng 1/4 thế kỷ.

Tổng tỷ suất sinh của Việt Nam đạt mức 6 vào đầu thập niên 60 của thế kỷ XX. Số lần sinh con trong đời, từ 6 đến 7 con trước đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, đã giảm xuống còn 2,09 vào năm 2006. Khi tỷ lệ sinh giảm và tuổi thọ tăng lên, tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam trong độ tuổi 15 - 64 đạt mức cao nhất vào năm 2013. Việt Nam hiện có tỷ lệ dân số trẻ cao nhất trong lịch sử đất nước, 21,1% tổng dân số là thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 10 đến 24. Thời kỳ “dân số vàng” của Việt Nam sẽ còn tiếp diễn đến năm 2039 với sự hiện diện của các nhóm dân số trẻ có năng suất lao động cao(2). Theo Niên giám thống kê 2023, tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của người Việt đạt 74,5 tuổi, tăng gần 1 tuổi so với năm 2022. Liên tục từ năm 2019 đến 2022, tuổi thọ trung bình của người Việt dao động từ 73,6 - 73,7 tuổi. Thông tin về tình hình dân số, lao động việc làm quý IV-2023 và năm 2023 của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, tổng tỷ suất sinh năm 2023 của Việt Nam ước tính là 1,96 con/phụ nữ, cách xa mức 2,1 duy trì dân số thay thế. Tỷ trọng nhóm dân số trẻ từ 0 - 14 tuổi giảm từ 24,3% năm 2019 xuống khoảng 23,9% năm 2023; trong khi nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên tăng nhanh, từ 11,9% năm 2019 lên 13,9% vào năm 2023. Nhóm dân số trong độ tuổi 15 - 59 tuổi chiếm 63,8% năm 2019 giảm xuống còn 62,2% năm 2023. Sự thay đổi nhân khẩu học này mở ra những cơ hội nhưng cũng không ít thách thức đối với kinh tế - xã hội.

Già hóa dân số có tác động ngày càng mạnh đối với phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta cả trong cả ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, già hóa dân số ảnh hưởng đến cơ cấu lực lượng lao động, từ đó, ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trong dài hạn, già hóa dân số tạo ra các tác động đa chiều, nhiều lĩnh vực từ kinh tế đến an sinh xã hội và văn hóa.

(Nguyễn Thị Thu Thanh, trích Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam: Thách thức và giải pháp, Tạp chí Cộng sản, số ra ngày 27/11/2024)

Cách triển khai thông tin chủ yếu của văn bản là:

A

Nêu bối cảnh → mô tả thực trạng → dự báo xu hướng

B

Nêu bối cảnh → mô tả thực trạng → kể sự kiện

C

Nêu bối cảnh → so sánh quốc tế → nêu hệ quả

D

Nêu bối cảnh → bộc lộ cảm xúc → rút kết luận

Câu 10

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng cuộc sống được cải thiện, hệ thống y tế tốt hơn với nhiều công nghệ hiện đại đã góp phần kéo dài tuổi thọ của con người. Tỷ lệ sinh có xu hướng giảm trên thế giới đã làm cho số người cao tuổi ngày càng cao, dẫn đến hiện tượng già hóa dân số. Vấn đề già hóa dân số gây nhiều ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế trong dài hạn, làm giảm lực lượng và năng suất lao động, đòi hỏi đầu tư, chi tiêu xã hội nhiều hơn cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe, kết cấu hạ tầng và những vấn đề về xã hội cho người cao tuổi.

Dân số Việt Nam đã vượt 100 triệu người, đưa Việt Nam trở thành quốc gia thứ 15 trên thế giới và là quốc gia thứ ba ở Đông Nam Á có dân số trên 100 triệu người. Cột mốc này tạo ra nhiều cơ hội song cũng đặt ra không ít thách thức, trong đó có vấn đề đáng longại là tình trạng già hóa dân số đang gia tăng nhanh chóng.

Từ năm 2011, Việt Nam bắt đầu quá trình già hóa dân số và là một trong số các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Theo cơ sở dữ liệu dân cư do Bộ Công an cung cấp, đến ngày 9-2-2023, cả nước có 16.179.824 công dân từ 60 tuổi trở lên, chiếm gần 17% số dân, trong đó từ 60 đến dưới 70 tuổi là 9.417.924 người, từ 70 đến dưới 80 tuổi là 4.189.640 người, từ 80 đến dưới 90 tuổi là 1.907.991 người, từ 90 đến dưới 100 tuổi là 623.221 người, từ 100 tuổi trở lên là 41.048 người.

Giai đoạn 2009 - 2019, dân số tăng bình quân 1,14%/năm, trong khi dân số cao tuổi tăng bình quân 4,35%/năm, bình quân tăng 400.000 người cao tuổi/năm, nhưng các năm 2019 - 2021, bình quân tăng 600.000 người cao tuổi/năm. Chỉ số già hóa (số người cao tuổi trên 100 trẻ em dưới 15 tuổi) tăng nhanh từ 2009, xu hướng già hóa dân số ở Việt Nam đang diễn ra nhanh chóng.

Dự kiến, vào năm 2036, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số già, chuyển từ xã hội “già hóa” sang xã hội “già”. Đến năm 2038, nhóm dân số 60 tuổi trở lên ở Việt Nam chiếm 20% dân số; đến năm 2050, Việt Nam trở thành xã hội siêu già với tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm 25% dân số(1). Điểm cơ bản tạo ra các thách thức đối với Việt Nam là nước ta chỉ có trên 20 năm để chuyển từ xã hội già hóa dân số sang xã hội dân số già, trong khi Pháp là 115 năm, Thụy Điển 89 năm, Mỹ 69 năm... Như vậy, trong khi các nước có hàng trăm năm hoặc hơn nửa thế kỷ để từng bước thay đổi chính sách, ứng phó với sự già hóa dần, Việt Nam chỉ có khoảng 1/4 thế kỷ.

Tổng tỷ suất sinh của Việt Nam đạt mức 6 vào đầu thập niên 60 của thế kỷ XX. Số lần sinh con trong đời, từ 6 đến 7 con trước đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, đã giảm xuống còn 2,09 vào năm 2006. Khi tỷ lệ sinh giảm và tuổi thọ tăng lên, tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam trong độ tuổi 15 - 64 đạt mức cao nhất vào năm 2013. Việt Nam hiện có tỷ lệ dân số trẻ cao nhất trong lịch sử đất nước, 21,1% tổng dân số là thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 10 đến 24. Thời kỳ “dân số vàng” của Việt Nam sẽ còn tiếp diễn đến năm 2039 với sự hiện diện của các nhóm dân số trẻ có năng suất lao động cao(2). Theo Niên giám thống kê 2023, tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của người Việt đạt 74,5 tuổi, tăng gần 1 tuổi so với năm 2022. Liên tục từ năm 2019 đến 2022, tuổi thọ trung bình của người Việt dao động từ 73,6 - 73,7 tuổi. Thông tin về tình hình dân số, lao động việc làm quý IV-2023 và năm 2023 của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, tổng tỷ suất sinh năm 2023 của Việt Nam ước tính là 1,96 con/phụ nữ, cách xa mức 2,1 duy trì dân số thay thế. Tỷ trọng nhóm dân số trẻ từ 0 - 14 tuổi giảm từ 24,3% năm 2019 xuống khoảng 23,9% năm 2023; trong khi nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên tăng nhanh, từ 11,9% năm 2019 lên 13,9% vào năm 2023. Nhóm dân số trong độ tuổi 15 - 59 tuổi chiếm 63,8% năm 2019 giảm xuống còn 62,2% năm 2023. Sự thay đổi nhân khẩu học này mở ra những cơ hội nhưng cũng không ít thách thức đối với kinh tế - xã hội.

Già hóa dân số có tác động ngày càng mạnh đối với phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta cả trong cả ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, già hóa dân số ảnh hưởng đến cơ cấu lực lượng lao động, từ đó, ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trong dài hạn, già hóa dân số tạo ra các tác động đa chiều, nhiều lĩnh vực từ kinh tế đến an sinh xã hội và văn hóa.

(Nguyễn Thị Thu Thanh, trích Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam: Thách thức và giải pháp, Tạp chí Cộng sản, số ra ngày 27/11/2024)

Tính mạch lạc của văn bản thể hiện rõ nhất ở việc:

A

Các đoạn thông tin cùng tập trung vào một vấn đề chung

B

Các đoạn thông tin có độ dài tương đối tương đương

C

Các đoạn thông tin lặp lại một số thuật ngữ quan trọng

D

Các đoạn thông tin sử dụng chủ yếu câu trần thuật

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 30 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.

Đăng nhập để làm bài
Đề thi: Đề ôn tập ĐGNL ĐHQG TP.HCM năm 2025 - Mã đề 23 — Tiếng Việt môn Ngữ văn (Đánh giá Năng lực V-ACT) | 9Study - 9Study