(Lược truyện: Câu chuyện tái hiện tuổi thơ của nhân vật “tôi” sống cùng mẹ ở một vùng đồng hoang vắng mang tên “đồng Chó Ngáp”. Qua những đối thoại giản dị giữa hai mẹ con và cảm nhận của đứa trẻ trước không gian mênh mông, truyện dần hé mở nỗi bất an, mất mát và khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống quạnh hiu).
Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa. Vài cánh hoa bị gió cuốn, giần giật bay về phía bờ ao xanh những nhánh rau nhúc bập bềnh. Phía xa là cánh đồng lầy đầy cỏ, cây tạp và những dề lục bình tím ngắt như một điểm nhấn u buồn trên bức tranh màu lạnh.
Mẹ tôi đang ngồi vo gạo bên lu nước mưa hứng từ tháng tám chợt ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng. Hình như mẹ muốn nói điều gì? Tôi lên tiếng trước: “Sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”. Lúc đó tôi chỉ là một đứa bé mới bảy tá tuổi với rất nhiều thắc mắc về cánh đồng hoang dại nầy. Ở đây chỉ lác đác mươi ngôi nhà tre mái lá cách xa nhau chừng một tiếng hú. Chủ nhân của những ngôi nhà xiêu vẹo ấy là dân tứ xứ trôi dạt về đây sống hẩm hút bên mép bờ dãi đất cao lúp xúp những cây trâm bầu, sua đũa chùm lé gai.
Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó. Mẹ hiểu ý nên thường ôm choàng lấy tôi và nói thì thầm: “Đừng sợ, có mẹ đây. Đó chỉ là tiếng gió thế thôi”.
“Mẹ ơi, sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”, tôi lập lại câu hỏi. Mẹ tôi nhìn tôi ngập ngừng một lát rồi lại nhìn ra cánh đồng mông quạnh, nén một tiếng thở: “Người ta nói cánh đồng nầy rộng lắm, một con chó săn giỏi lắm chỉ chạy chưa đến nửa cánh đồng là đã thè lưỡi ngáp dài rồi. Nói thế để thấy rằng cánh đồng này xa lắm, xa đến tận chân trời...”.
Tôi tự nghĩ trong lòng: sẽ có hôm tôi đi phiêu lưu mạo hiểm qua ngang cánh đồng bao la bát ngát nầy xem thử coi nó rộng đến đâu. Nó không thể nào cứ xa mãi, xa mãi được. Phải có một chỗ nào đó nó dừng lại, chỗ có xóm làng, nhà cửa và người ta. Lẽ nào cánh đồng lầy nầy sẽ đi vào nơi vô tận cho dù người ta có đi hàng tháng hàng năm trời vẫn còn thấy cái mênh mông còn mãi mênh mông trước mặt? Lẽ nào? Tôi nói với mẹ tôi khi hai mẹ con ngồi bên bếp lửa chiều: “Sẽ có một ngày con đi băng ngang qua cánh đồng nầy, chắc chắn ở cuối đường chân trời ấy phải có một thành phố nào đó đông vui”, Mẹ tôi ngưng tay đẩy mấy thanh củi vào cái bếp lò đang cháy mắt trợn lên kinh hãi: “Con nói gì, con sẽ đi qua cánh đồng Chó Ngáp à? Trời ạ, đừng đừng, chỗ ấy có đi mà không có về đâu con trai của mẹ”. [...]
(Trương Đạm Thuỷ, trích Cánh diều mùa xuân trên đồng chó ngáp, vanchuongviet.org)
Đoạn trích trên thể hiện rõ nhất đặc trưng nào của truyện ngắn?
Tổ chức không gian kể chuyện làm nền cho diễn biến tâm trạng
Thiết lập bối cảnh và nhân vật nhằm hình thành tình huống truyện
Khắc họa đời sống sinh hoạt để tạo cảm giác hiện thực
Miêu tả cảnh sắc thiên nhiên gắn với cảm xúc chủ quan
(Lược truyện: Câu chuyện tái hiện tuổi thơ của nhân vật “tôi” sống cùng mẹ ở một vùng đồng hoang vắng mang tên “đồng Chó Ngáp”. Qua những đối thoại giản dị giữa hai mẹ con và cảm nhận của đứa trẻ trước không gian mênh mông, truyện dần hé mở nỗi bất an, mất mát và khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống quạnh hiu).
Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa. Vài cánh hoa bị gió cuốn, giần giật bay về phía bờ ao xanh những nhánh rau nhúc bập bềnh. Phía xa là cánh đồng lầy đầy cỏ, cây tạp và những dề lục bình tím ngắt như một điểm nhấn u buồn trên bức tranh màu lạnh.
Mẹ tôi đang ngồi vo gạo bên lu nước mưa hứng từ tháng tám chợt ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng. Hình như mẹ muốn nói điều gì? Tôi lên tiếng trước: “Sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”. Lúc đó tôi chỉ là một đứa bé mới bảy tá tuổi với rất nhiều thắc mắc về cánh đồng hoang dại nầy. Ở đây chỉ lác đác mươi ngôi nhà tre mái lá cách xa nhau chừng một tiếng hú. Chủ nhân của những ngôi nhà xiêu vẹo ấy là dân tứ xứ trôi dạt về đây sống hẩm hút bên mép bờ dãi đất cao lúp xúp những cây trâm bầu, sua đũa chùm lé gai.
Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó. Mẹ hiểu ý nên thường ôm choàng lấy tôi và nói thì thầm: “Đừng sợ, có mẹ đây. Đó chỉ là tiếng gió thế thôi”.
“Mẹ ơi, sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”, tôi lập lại câu hỏi. Mẹ tôi nhìn tôi ngập ngừng một lát rồi lại nhìn ra cánh đồng mông quạnh, nén một tiếng thở: “Người ta nói cánh đồng nầy rộng lắm, một con chó săn giỏi lắm chỉ chạy chưa đến nửa cánh đồng là đã thè lưỡi ngáp dài rồi. Nói thế để thấy rằng cánh đồng này xa lắm, xa đến tận chân trời...”.
Tôi tự nghĩ trong lòng: sẽ có hôm tôi đi phiêu lưu mạo hiểm qua ngang cánh đồng bao la bát ngát nầy xem thử coi nó rộng đến đâu. Nó không thể nào cứ xa mãi, xa mãi được. Phải có một chỗ nào đó nó dừng lại, chỗ có xóm làng, nhà cửa và người ta. Lẽ nào cánh đồng lầy nầy sẽ đi vào nơi vô tận cho dù người ta có đi hàng tháng hàng năm trời vẫn còn thấy cái mênh mông còn mãi mênh mông trước mặt? Lẽ nào? Tôi nói với mẹ tôi khi hai mẹ con ngồi bên bếp lửa chiều: “Sẽ có một ngày con đi băng ngang qua cánh đồng nầy, chắc chắn ở cuối đường chân trời ấy phải có một thành phố nào đó đông vui”, Mẹ tôi ngưng tay đẩy mấy thanh củi vào cái bếp lò đang cháy mắt trợn lên kinh hãi: “Con nói gì, con sẽ đi qua cánh đồng Chó Ngáp à? Trời ạ, đừng đừng, chỗ ấy có đi mà không có về đâu con trai của mẹ”. [...]
(Trương Đạm Thuỷ, trích Cánh diều mùa xuân trên đồng chó ngáp, vanchuongviet.org)
Tình huống truyện trong đoạn trích được hình thành chủ yếu từ yếu tố nào?
Cảm giác hoang vắng nảy sinh từ không gian rộng lớn
Nỗi sợ mơ hồ của đứa trẻ trước tiếng gió hú ban đêm
Câu hỏi lặp của đứa trẻ và sự do dự của người mẹ
Hoàn cảnh sống bấp bênh của những gia đình nghèo
(Lược truyện: Câu chuyện tái hiện tuổi thơ của nhân vật “tôi” sống cùng mẹ ở một vùng đồng hoang vắng mang tên “đồng Chó Ngáp”. Qua những đối thoại giản dị giữa hai mẹ con và cảm nhận của đứa trẻ trước không gian mênh mông, truyện dần hé mở nỗi bất an, mất mát và khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống quạnh hiu).
Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa. Vài cánh hoa bị gió cuốn, giần giật bay về phía bờ ao xanh những nhánh rau nhúc bập bềnh. Phía xa là cánh đồng lầy đầy cỏ, cây tạp và những dề lục bình tím ngắt như một điểm nhấn u buồn trên bức tranh màu lạnh.
Mẹ tôi đang ngồi vo gạo bên lu nước mưa hứng từ tháng tám chợt ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng. Hình như mẹ muốn nói điều gì? Tôi lên tiếng trước: “Sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”. Lúc đó tôi chỉ là một đứa bé mới bảy tá tuổi với rất nhiều thắc mắc về cánh đồng hoang dại nầy. Ở đây chỉ lác đác mươi ngôi nhà tre mái lá cách xa nhau chừng một tiếng hú. Chủ nhân của những ngôi nhà xiêu vẹo ấy là dân tứ xứ trôi dạt về đây sống hẩm hút bên mép bờ dãi đất cao lúp xúp những cây trâm bầu, sua đũa chùm lé gai.
Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó. Mẹ hiểu ý nên thường ôm choàng lấy tôi và nói thì thầm: “Đừng sợ, có mẹ đây. Đó chỉ là tiếng gió thế thôi”.
“Mẹ ơi, sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”, tôi lập lại câu hỏi. Mẹ tôi nhìn tôi ngập ngừng một lát rồi lại nhìn ra cánh đồng mông quạnh, nén một tiếng thở: “Người ta nói cánh đồng nầy rộng lắm, một con chó săn giỏi lắm chỉ chạy chưa đến nửa cánh đồng là đã thè lưỡi ngáp dài rồi. Nói thế để thấy rằng cánh đồng này xa lắm, xa đến tận chân trời...”.
Tôi tự nghĩ trong lòng: sẽ có hôm tôi đi phiêu lưu mạo hiểm qua ngang cánh đồng bao la bát ngát nầy xem thử coi nó rộng đến đâu. Nó không thể nào cứ xa mãi, xa mãi được. Phải có một chỗ nào đó nó dừng lại, chỗ có xóm làng, nhà cửa và người ta. Lẽ nào cánh đồng lầy nầy sẽ đi vào nơi vô tận cho dù người ta có đi hàng tháng hàng năm trời vẫn còn thấy cái mênh mông còn mãi mênh mông trước mặt? Lẽ nào? Tôi nói với mẹ tôi khi hai mẹ con ngồi bên bếp lửa chiều: “Sẽ có một ngày con đi băng ngang qua cánh đồng nầy, chắc chắn ở cuối đường chân trời ấy phải có một thành phố nào đó đông vui”, Mẹ tôi ngưng tay đẩy mấy thanh củi vào cái bếp lò đang cháy mắt trợn lên kinh hãi: “Con nói gì, con sẽ đi qua cánh đồng Chó Ngáp à? Trời ạ, đừng đừng, chỗ ấy có đi mà không có về đâu con trai của mẹ”. [...]
(Trương Đạm Thuỷ, trích Cánh diều mùa xuân trên đồng chó ngáp, vanchuongviet.org)
Chi tiết “mẹ ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng” có ý nghĩa gì?
Làm chậm nhịp kể để tăng độ lắng cho đoạn văn
Biểu hiện một trạng thái tâm lí bị kìm nén, chưa thể nói ra
Gợi mối liên hệ giữa không gian cánh đồng và đời sống gia đình
Tạo điểm chuyển từ miêu tả cảnh sang đối thoại nhân vật
(Lược truyện: Câu chuyện tái hiện tuổi thơ của nhân vật “tôi” sống cùng mẹ ở một vùng đồng hoang vắng mang tên “đồng Chó Ngáp”. Qua những đối thoại giản dị giữa hai mẹ con và cảm nhận của đứa trẻ trước không gian mênh mông, truyện dần hé mở nỗi bất an, mất mát và khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống quạnh hiu).
Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa. Vài cánh hoa bị gió cuốn, giần giật bay về phía bờ ao xanh những nhánh rau nhúc bập bềnh. Phía xa là cánh đồng lầy đầy cỏ, cây tạp và những dề lục bình tím ngắt như một điểm nhấn u buồn trên bức tranh màu lạnh.
Mẹ tôi đang ngồi vo gạo bên lu nước mưa hứng từ tháng tám chợt ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng. Hình như mẹ muốn nói điều gì? Tôi lên tiếng trước: “Sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”. Lúc đó tôi chỉ là một đứa bé mới bảy tá tuổi với rất nhiều thắc mắc về cánh đồng hoang dại nầy. Ở đây chỉ lác đác mươi ngôi nhà tre mái lá cách xa nhau chừng một tiếng hú. Chủ nhân của những ngôi nhà xiêu vẹo ấy là dân tứ xứ trôi dạt về đây sống hẩm hút bên mép bờ dãi đất cao lúp xúp những cây trâm bầu, sua đũa chùm lé gai.
Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó. Mẹ hiểu ý nên thường ôm choàng lấy tôi và nói thì thầm: “Đừng sợ, có mẹ đây. Đó chỉ là tiếng gió thế thôi”.
“Mẹ ơi, sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”, tôi lập lại câu hỏi. Mẹ tôi nhìn tôi ngập ngừng một lát rồi lại nhìn ra cánh đồng mông quạnh, nén một tiếng thở: “Người ta nói cánh đồng nầy rộng lắm, một con chó săn giỏi lắm chỉ chạy chưa đến nửa cánh đồng là đã thè lưỡi ngáp dài rồi. Nói thế để thấy rằng cánh đồng này xa lắm, xa đến tận chân trời...”.
Tôi tự nghĩ trong lòng: sẽ có hôm tôi đi phiêu lưu mạo hiểm qua ngang cánh đồng bao la bát ngát nầy xem thử coi nó rộng đến đâu. Nó không thể nào cứ xa mãi, xa mãi được. Phải có một chỗ nào đó nó dừng lại, chỗ có xóm làng, nhà cửa và người ta. Lẽ nào cánh đồng lầy nầy sẽ đi vào nơi vô tận cho dù người ta có đi hàng tháng hàng năm trời vẫn còn thấy cái mênh mông còn mãi mênh mông trước mặt? Lẽ nào? Tôi nói với mẹ tôi khi hai mẹ con ngồi bên bếp lửa chiều: “Sẽ có một ngày con đi băng ngang qua cánh đồng nầy, chắc chắn ở cuối đường chân trời ấy phải có một thành phố nào đó đông vui”, Mẹ tôi ngưng tay đẩy mấy thanh củi vào cái bếp lò đang cháy mắt trợn lên kinh hãi: “Con nói gì, con sẽ đi qua cánh đồng Chó Ngáp à? Trời ạ, đừng đừng, chỗ ấy có đi mà không có về đâu con trai của mẹ”. [...]
(Trương Đạm Thuỷ, trích Cánh diều mùa xuân trên đồng chó ngáp, vanchuongviet.org)
Việc lựa chọn ngôi kể thứ nhất trong đoạn trích chủ yếu nhằm:
Gắn cảm nhận không gian với trải nghiệm cá nhân của người kể
Tạo điểm nhìn trẻ thơ để tiếp nhận sự việc một cách trực tiếp
Cho phép người kể xen bình luận cảm xúc vào mạch tự sự
Hạn chế khoảng cách giữa người kể và thế giới được kể
(Lược truyện: Câu chuyện tái hiện tuổi thơ của nhân vật “tôi” sống cùng mẹ ở một vùng đồng hoang vắng mang tên “đồng Chó Ngáp”. Qua những đối thoại giản dị giữa hai mẹ con và cảm nhận của đứa trẻ trước không gian mênh mông, truyện dần hé mở nỗi bất an, mất mát và khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống quạnh hiu).
Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa. Vài cánh hoa bị gió cuốn, giần giật bay về phía bờ ao xanh những nhánh rau nhúc bập bềnh. Phía xa là cánh đồng lầy đầy cỏ, cây tạp và những dề lục bình tím ngắt như một điểm nhấn u buồn trên bức tranh màu lạnh.
Mẹ tôi đang ngồi vo gạo bên lu nước mưa hứng từ tháng tám chợt ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng. Hình như mẹ muốn nói điều gì? Tôi lên tiếng trước: “Sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”. Lúc đó tôi chỉ là một đứa bé mới bảy tá tuổi với rất nhiều thắc mắc về cánh đồng hoang dại nầy. Ở đây chỉ lác đác mươi ngôi nhà tre mái lá cách xa nhau chừng một tiếng hú. Chủ nhân của những ngôi nhà xiêu vẹo ấy là dân tứ xứ trôi dạt về đây sống hẩm hút bên mép bờ dãi đất cao lúp xúp những cây trâm bầu, sua đũa chùm lé gai.
Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó. Mẹ hiểu ý nên thường ôm choàng lấy tôi và nói thì thầm: “Đừng sợ, có mẹ đây. Đó chỉ là tiếng gió thế thôi”.
“Mẹ ơi, sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”, tôi lập lại câu hỏi. Mẹ tôi nhìn tôi ngập ngừng một lát rồi lại nhìn ra cánh đồng mông quạnh, nén một tiếng thở: “Người ta nói cánh đồng nầy rộng lắm, một con chó săn giỏi lắm chỉ chạy chưa đến nửa cánh đồng là đã thè lưỡi ngáp dài rồi. Nói thế để thấy rằng cánh đồng này xa lắm, xa đến tận chân trời...”.
Tôi tự nghĩ trong lòng: sẽ có hôm tôi đi phiêu lưu mạo hiểm qua ngang cánh đồng bao la bát ngát nầy xem thử coi nó rộng đến đâu. Nó không thể nào cứ xa mãi, xa mãi được. Phải có một chỗ nào đó nó dừng lại, chỗ có xóm làng, nhà cửa và người ta. Lẽ nào cánh đồng lầy nầy sẽ đi vào nơi vô tận cho dù người ta có đi hàng tháng hàng năm trời vẫn còn thấy cái mênh mông còn mãi mênh mông trước mặt? Lẽ nào? Tôi nói với mẹ tôi khi hai mẹ con ngồi bên bếp lửa chiều: “Sẽ có một ngày con đi băng ngang qua cánh đồng nầy, chắc chắn ở cuối đường chân trời ấy phải có một thành phố nào đó đông vui”, Mẹ tôi ngưng tay đẩy mấy thanh củi vào cái bếp lò đang cháy mắt trợn lên kinh hãi: “Con nói gì, con sẽ đi qua cánh đồng Chó Ngáp à? Trời ạ, đừng đừng, chỗ ấy có đi mà không có về đâu con trai của mẹ”. [...]
(Trương Đạm Thuỷ, trích Cánh diều mùa xuân trên đồng chó ngáp, vanchuongviet.org)
Giọng điệu trần thuật của đoạn trích được hình thành chủ yếu qua:
Sự phối hợp miêu tả cảnh vật với cảm giác nội tâm của nhân vật
Sự đan xen đối thoại ngắn vào dòng miêu tả liên tục
Việc sử dụng hình ảnh thiên nhiên mang sắc thái lạnh và tĩnh
Việc duy trì nhịp kể chậm để kéo dài cảm giác hoang vắng
(Lược truyện: Câu chuyện tái hiện tuổi thơ của nhân vật “tôi” sống cùng mẹ ở một vùng đồng hoang vắng mang tên “đồng Chó Ngáp”. Qua những đối thoại giản dị giữa hai mẹ con và cảm nhận của đứa trẻ trước không gian mênh mông, truyện dần hé mở nỗi bất an, mất mát và khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống quạnh hiu).
Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa. Vài cánh hoa bị gió cuốn, giần giật bay về phía bờ ao xanh những nhánh rau nhúc bập bềnh. Phía xa là cánh đồng lầy đầy cỏ, cây tạp và những dề lục bình tím ngắt như một điểm nhấn u buồn trên bức tranh màu lạnh.
Mẹ tôi đang ngồi vo gạo bên lu nước mưa hứng từ tháng tám chợt ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng. Hình như mẹ muốn nói điều gì? Tôi lên tiếng trước: “Sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”. Lúc đó tôi chỉ là một đứa bé mới bảy tá tuổi với rất nhiều thắc mắc về cánh đồng hoang dại nầy. Ở đây chỉ lác đác mươi ngôi nhà tre mái lá cách xa nhau chừng một tiếng hú. Chủ nhân của những ngôi nhà xiêu vẹo ấy là dân tứ xứ trôi dạt về đây sống hẩm hút bên mép bờ dãi đất cao lúp xúp những cây trâm bầu, sua đũa chùm lé gai.
Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó. Mẹ hiểu ý nên thường ôm choàng lấy tôi và nói thì thầm: “Đừng sợ, có mẹ đây. Đó chỉ là tiếng gió thế thôi”.
“Mẹ ơi, sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”, tôi lập lại câu hỏi. Mẹ tôi nhìn tôi ngập ngừng một lát rồi lại nhìn ra cánh đồng mông quạnh, nén một tiếng thở: “Người ta nói cánh đồng nầy rộng lắm, một con chó săn giỏi lắm chỉ chạy chưa đến nửa cánh đồng là đã thè lưỡi ngáp dài rồi. Nói thế để thấy rằng cánh đồng này xa lắm, xa đến tận chân trời...”.
Tôi tự nghĩ trong lòng: sẽ có hôm tôi đi phiêu lưu mạo hiểm qua ngang cánh đồng bao la bát ngát nầy xem thử coi nó rộng đến đâu. Nó không thể nào cứ xa mãi, xa mãi được. Phải có một chỗ nào đó nó dừng lại, chỗ có xóm làng, nhà cửa và người ta. Lẽ nào cánh đồng lầy nầy sẽ đi vào nơi vô tận cho dù người ta có đi hàng tháng hàng năm trời vẫn còn thấy cái mênh mông còn mãi mênh mông trước mặt? Lẽ nào? Tôi nói với mẹ tôi khi hai mẹ con ngồi bên bếp lửa chiều: “Sẽ có một ngày con đi băng ngang qua cánh đồng nầy, chắc chắn ở cuối đường chân trời ấy phải có một thành phố nào đó đông vui”, Mẹ tôi ngưng tay đẩy mấy thanh củi vào cái bếp lò đang cháy mắt trợn lên kinh hãi: “Con nói gì, con sẽ đi qua cánh đồng Chó Ngáp à? Trời ạ, đừng đừng, chỗ ấy có đi mà không có về đâu con trai của mẹ”. [...]
(Trương Đạm Thuỷ, trích Cánh diều mùa xuân trên đồng chó ngáp, vanchuongviet.org)
Trong câu “Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa.”, từ “nghiêng nghiêng” chủ yếu gợi:
Hình ảnh chuyển động nhẹ, kéo dài và có tính gợi cảm
Hướng di chuyển không ổn định của luồng gió
Cường độ gió vừa phải tác động lên cảnh vật
Nhịp gió chậm tạo cảm giác lặng lẽ
(Lược truyện: Câu chuyện tái hiện tuổi thơ của nhân vật “tôi” sống cùng mẹ ở một vùng đồng hoang vắng mang tên “đồng Chó Ngáp”. Qua những đối thoại giản dị giữa hai mẹ con và cảm nhận của đứa trẻ trước không gian mênh mông, truyện dần hé mở nỗi bất an, mất mát và khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống quạnh hiu).
Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa. Vài cánh hoa bị gió cuốn, giần giật bay về phía bờ ao xanh những nhánh rau nhúc bập bềnh. Phía xa là cánh đồng lầy đầy cỏ, cây tạp và những dề lục bình tím ngắt như một điểm nhấn u buồn trên bức tranh màu lạnh.
Mẹ tôi đang ngồi vo gạo bên lu nước mưa hứng từ tháng tám chợt ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng. Hình như mẹ muốn nói điều gì? Tôi lên tiếng trước: “Sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”. Lúc đó tôi chỉ là một đứa bé mới bảy tá tuổi với rất nhiều thắc mắc về cánh đồng hoang dại nầy. Ở đây chỉ lác đác mươi ngôi nhà tre mái lá cách xa nhau chừng một tiếng hú. Chủ nhân của những ngôi nhà xiêu vẹo ấy là dân tứ xứ trôi dạt về đây sống hẩm hút bên mép bờ dãi đất cao lúp xúp những cây trâm bầu, sua đũa chùm lé gai.
Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó. Mẹ hiểu ý nên thường ôm choàng lấy tôi và nói thì thầm: “Đừng sợ, có mẹ đây. Đó chỉ là tiếng gió thế thôi”.
“Mẹ ơi, sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”, tôi lập lại câu hỏi. Mẹ tôi nhìn tôi ngập ngừng một lát rồi lại nhìn ra cánh đồng mông quạnh, nén một tiếng thở: “Người ta nói cánh đồng nầy rộng lắm, một con chó săn giỏi lắm chỉ chạy chưa đến nửa cánh đồng là đã thè lưỡi ngáp dài rồi. Nói thế để thấy rằng cánh đồng này xa lắm, xa đến tận chân trời...”.
Tôi tự nghĩ trong lòng: sẽ có hôm tôi đi phiêu lưu mạo hiểm qua ngang cánh đồng bao la bát ngát nầy xem thử coi nó rộng đến đâu. Nó không thể nào cứ xa mãi, xa mãi được. Phải có một chỗ nào đó nó dừng lại, chỗ có xóm làng, nhà cửa và người ta. Lẽ nào cánh đồng lầy nầy sẽ đi vào nơi vô tận cho dù người ta có đi hàng tháng hàng năm trời vẫn còn thấy cái mênh mông còn mãi mênh mông trước mặt? Lẽ nào? Tôi nói với mẹ tôi khi hai mẹ con ngồi bên bếp lửa chiều: “Sẽ có một ngày con đi băng ngang qua cánh đồng nầy, chắc chắn ở cuối đường chân trời ấy phải có một thành phố nào đó đông vui”, Mẹ tôi ngưng tay đẩy mấy thanh củi vào cái bếp lò đang cháy mắt trợn lên kinh hãi: “Con nói gì, con sẽ đi qua cánh đồng Chó Ngáp à? Trời ạ, đừng đừng, chỗ ấy có đi mà không có về đâu con trai của mẹ”. [...]
(Trương Đạm Thuỷ, trích Cánh diều mùa xuân trên đồng chó ngáp, vanchuongviet.org)
Trong câu “Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó.”, từ “chợt” có tác dụng:
Đánh dấu sự xuất hiện đột ngột của âm thanh trong điểm nhìn của nhân vật
Nhấn mạnh cảm giác lo âu, sợ hãi của nhân vật khi nghe âm thanh ấy
Gợi trạng thái lo âu thường trực của nhân vật trước không gian về đêm
Tạo một nhịp nghỉ để làm nổi bật cảm giác bất an của nhân vật
(Khái lược: Ma Phúc - một người M’nông dành nhiều tâm huyết sưu tầm, gìn giữ các hiện vật văn hóa truyền thống của buôn làng. Qua những câu chuyện cụ thể về đàn đá, trống da trâu và ché cổ, ông đã thể hiện ý thức bảo tồn văn hóa gắn với đời sống cộng đồng rất đáng để thế hệ hôm nay noi theo học tập.)
[…] Ma Phúc kể về cơ duyên với bộ đàn đá từ hơn 15 năm về trước. Khi ấy, tin tức về một người dân đi đào bắt dúi tại xã Krông Nô tình cờ đào được những thanh đá lạ dưới bụi cây le, lan truyền đi khắp vùng. Người ta kháo nhau về “những hòn đá biết hát”. Nghe tin, bằng trực giác nhạy bén của một người am hiểu văn hóa, Ma Phúc phải đi 40km đến tận nơi tìm hiểu. Ngay khi chạm tay vào những thanh đá mát lạnh, gõ thử lên nghe âm thanh trầm bổng, ông biết mình đã chạm vào báu vật. Không ngần ngại, Ma Phúc dốc hầu bao 64 triệu đồng để “rước” bộ đàn đá về.
Bộ đàn đá gồm 9 thanh, trong đó có một thanh bị gãy đôi do tác động của thời gian. Khi đưa về thẩm âm để phục dựng và đưa vào sử dụng, Ma Phúc phát hiện trong 9 thanh ấy có một bộ hoàn chỉnh gồm 6 thanh phát ra những nốt nhạc tương ứng với dây đàn guitar. Điều đáng chú ý hơn, thang âm này tương đồng tuyệt đối với bộ chiêng 6 chiếc truyền thống của người M’nông. Ba thanh còn lại, theo ông phỏng đoán, có thể thuộc về một bộ đàn khác đã thất lạc hoặc chưa tìm thấy đủ.
Không chỉ có đàn đá, Ma Phúc còn gìn giữ một chiếc trống da trâu đã hơn 40 năm tuổi. Chiếc trống khổng lồ, bạc màu thời gian được treo cao trong nhà, chỉ cất tiếng trong những dịp lễ trọng đại của buôn làng. Theo ông, mỗi khi tiếng trống vang lên, người M’nông dù đang ở nương rẫy hay bến nước cũng sẽ gác lại công việc để trở về, bởi đó là tín hiệu cho thấy buôn làng có việc lớn. Chiếc trống, vì thế, được xem như nhịp đập quy tụ cộng đồng.
Với Ma Phúc, việc sưu tầm các hiện vật văn hóa cổ xưa chỉ nhằm một mục đích duy nhất: giữ gìn để con cháu đời sau hiểu và trân trọng hồn cốt văn hóa dân tộc mình. Ông cho rằng, nếu không có người nâng niu, bảo vệ, những báu vật ấy sẽ bị thất lạc và bản sắc văn hóa M’nông sẽ dần phai nhạt theo thời gian. […]
(Trương Nhất Vương, trích Người giữ báu vật của buôn làng M’nông, Báo Quân đội Nhân dân, số ra ngày 11/01/2026)
Theo đoạn trích, thông tin nào dưới đây không phù hợp với vai trò của nhân vật Ma Phúc được trình bày trong văn bản?
Là người trực tiếp sưu tầm, gìn giữ các hiện vật văn hóa truyền thống
Là cầu nối đưa di sản M’nông vào đời sống sinh hoạt cộng đồng
Là người nghiên cứu chuyên sâu về khảo cổ học Tây Nguyên
Là cá nhân có ý thức bảo tồn di sản gắn với trách nhiệm thế hệ
(Khái lược: Ma Phúc - một người M’nông dành nhiều tâm huyết sưu tầm, gìn giữ các hiện vật văn hóa truyền thống của buôn làng. Qua những câu chuyện cụ thể về đàn đá, trống da trâu và ché cổ, ông đã thể hiện ý thức bảo tồn văn hóa gắn với đời sống cộng đồng rất đáng để thế hệ hôm nay noi theo học tập.)
[…] Ma Phúc kể về cơ duyên với bộ đàn đá từ hơn 15 năm về trước. Khi ấy, tin tức về một người dân đi đào bắt dúi tại xã Krông Nô tình cờ đào được những thanh đá lạ dưới bụi cây le, lan truyền đi khắp vùng. Người ta kháo nhau về “những hòn đá biết hát”. Nghe tin, bằng trực giác nhạy bén của một người am hiểu văn hóa, Ma Phúc phải đi 40km đến tận nơi tìm hiểu. Ngay khi chạm tay vào những thanh đá mát lạnh, gõ thử lên nghe âm thanh trầm bổng, ông biết mình đã chạm vào báu vật. Không ngần ngại, Ma Phúc dốc hầu bao 64 triệu đồng để “rước” bộ đàn đá về.
Bộ đàn đá gồm 9 thanh, trong đó có một thanh bị gãy đôi do tác động của thời gian. Khi đưa về thẩm âm để phục dựng và đưa vào sử dụng, Ma Phúc phát hiện trong 9 thanh ấy có một bộ hoàn chỉnh gồm 6 thanh phát ra những nốt nhạc tương ứng với dây đàn guitar. Điều đáng chú ý hơn, thang âm này tương đồng tuyệt đối với bộ chiêng 6 chiếc truyền thống của người M’nông. Ba thanh còn lại, theo ông phỏng đoán, có thể thuộc về một bộ đàn khác đã thất lạc hoặc chưa tìm thấy đủ.
Không chỉ có đàn đá, Ma Phúc còn gìn giữ một chiếc trống da trâu đã hơn 40 năm tuổi. Chiếc trống khổng lồ, bạc màu thời gian được treo cao trong nhà, chỉ cất tiếng trong những dịp lễ trọng đại của buôn làng. Theo ông, mỗi khi tiếng trống vang lên, người M’nông dù đang ở nương rẫy hay bến nước cũng sẽ gác lại công việc để trở về, bởi đó là tín hiệu cho thấy buôn làng có việc lớn. Chiếc trống, vì thế, được xem như nhịp đập quy tụ cộng đồng.
Với Ma Phúc, việc sưu tầm các hiện vật văn hóa cổ xưa chỉ nhằm một mục đích duy nhất: giữ gìn để con cháu đời sau hiểu và trân trọng hồn cốt văn hóa dân tộc mình. Ông cho rằng, nếu không có người nâng niu, bảo vệ, những báu vật ấy sẽ bị thất lạc và bản sắc văn hóa M’nông sẽ dần phai nhạt theo thời gian. […]
(Trương Nhất Vương, trích Người giữ báu vật của buôn làng M’nông, Báo Quân đội Nhân dân, số ra ngày 11/01/2026)
Căn cứ nào đã giúp Ma Phúc xác lập giá trị đặc biệt của bộ đàn đá?
Sự tương đồng về thang âm với hệ chiêng truyền thống M’nông
Nguồn gốc phát hiện tình cờ của bộ đàn đá trong tự nhiên
Giá trị kinh tế lớn của bộ đàn đá tại thời điểm mua lại
Mức độ quan tâm của người dân và du khách đối với hiện vật
(Khái lược: Ma Phúc - một người M’nông dành nhiều tâm huyết sưu tầm, gìn giữ các hiện vật văn hóa truyền thống của buôn làng. Qua những câu chuyện cụ thể về đàn đá, trống da trâu và ché cổ, ông đã thể hiện ý thức bảo tồn văn hóa gắn với đời sống cộng đồng rất đáng để thế hệ hôm nay noi theo học tập.)
[…] Ma Phúc kể về cơ duyên với bộ đàn đá từ hơn 15 năm về trước. Khi ấy, tin tức về một người dân đi đào bắt dúi tại xã Krông Nô tình cờ đào được những thanh đá lạ dưới bụi cây le, lan truyền đi khắp vùng. Người ta kháo nhau về “những hòn đá biết hát”. Nghe tin, bằng trực giác nhạy bén của một người am hiểu văn hóa, Ma Phúc phải đi 40km đến tận nơi tìm hiểu. Ngay khi chạm tay vào những thanh đá mát lạnh, gõ thử lên nghe âm thanh trầm bổng, ông biết mình đã chạm vào báu vật. Không ngần ngại, Ma Phúc dốc hầu bao 64 triệu đồng để “rước” bộ đàn đá về.
Bộ đàn đá gồm 9 thanh, trong đó có một thanh bị gãy đôi do tác động của thời gian. Khi đưa về thẩm âm để phục dựng và đưa vào sử dụng, Ma Phúc phát hiện trong 9 thanh ấy có một bộ hoàn chỉnh gồm 6 thanh phát ra những nốt nhạc tương ứng với dây đàn guitar. Điều đáng chú ý hơn, thang âm này tương đồng tuyệt đối với bộ chiêng 6 chiếc truyền thống của người M’nông. Ba thanh còn lại, theo ông phỏng đoán, có thể thuộc về một bộ đàn khác đã thất lạc hoặc chưa tìm thấy đủ.
Không chỉ có đàn đá, Ma Phúc còn gìn giữ một chiếc trống da trâu đã hơn 40 năm tuổi. Chiếc trống khổng lồ, bạc màu thời gian được treo cao trong nhà, chỉ cất tiếng trong những dịp lễ trọng đại của buôn làng. Theo ông, mỗi khi tiếng trống vang lên, người M’nông dù đang ở nương rẫy hay bến nước cũng sẽ gác lại công việc để trở về, bởi đó là tín hiệu cho thấy buôn làng có việc lớn. Chiếc trống, vì thế, được xem như nhịp đập quy tụ cộng đồng.
Với Ma Phúc, việc sưu tầm các hiện vật văn hóa cổ xưa chỉ nhằm một mục đích duy nhất: giữ gìn để con cháu đời sau hiểu và trân trọng hồn cốt văn hóa dân tộc mình. Ông cho rằng, nếu không có người nâng niu, bảo vệ, những báu vật ấy sẽ bị thất lạc và bản sắc văn hóa M’nông sẽ dần phai nhạt theo thời gian. […]
(Trương Nhất Vương, trích Người giữ báu vật của buôn làng M’nông, Báo Quân đội Nhân dân, số ra ngày 11/01/2026)
Việc đưa vào các dữ kiện (40 km, 64 triệu đồng, 9 thanh, 6 thanh) nhằm:
Tăng độ xác thực và độ tin cậy cho thông tin được cung cấp
Nhấn mạnh quy mô đầu tư tài chính cho hoạt động sưu tầm
Làm nổi bật sự hiếm có của hiện vật trong đời sống hiện đại
Tạo ấn tượng về mức độ công phu trong việc phục dựng hiện vật
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 120 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.
Đăng nhập để làm bài