[Dữ liệu 3]
Nâng cao sinh tổng hợp enzyme từ Aspergillus niger A45.1
Một nghiên cứu được tiến hành để gây đột biến ngẫu nhiên chủng nấm sợi Aspergillus niger A45.1 bằng cách kết hợp giữa tia UV và hóa chất NTG (N-methyl-N′-nitro-N-nitrosoguanidine), sau đó tối ưu điều kiện lên men để chọn ra dòng đột biến và điều kiện lên men tối ưu nhằm nâng cao sinh tổng hợp đa enzyme (cellulase, α-amylase, glucoamylase), phục vụ cho sản xuất chế phẩm enzyme ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như công nghệ thực phẩm, dệt may, giấy, dược phẩm, chăn nuôi,...
Bào tử của chủng nấm sợi A. niger A45.1 được nuôi cấy trong môi trường có bổ sung NTG và chiếu tia UV trong thời gian 180 phút. Kết quả (Hình 1) cho thấy tia UV và NTG có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sống sót của các bào tử nấm.
Hình 1. Mối quan hệ giữa tỷ lệ (%) bào tử nấm A.niger A45.1 còn sống sót và
thời gian chiếu tia UV
Sau khi gây đột biến trên chủng A45.1, nhóm nghiên cứu đã thu được dòng đột biến GA15 có khả năng sản sinh các enzyme α-amylase, glucoamylase và cellulase cao nhất.
Để tối ưu điều kiện lên men cho sản xuất đa enzyme (glucoamylase, α-amylase và
cellulase) bởi chủng đột biến Aspergillus sp. GA15, các thí nghiệm được tiến hành khảo sát các yếu tố của quá trình lên men, bao gồm các loại cơ chất (hình 2), độ ẩm (hình3), nhiệt độ (hình 4) và độ pH (hình 5).

Hình 2. Ảnh hưởng của loại cơ chất đến khả năng sản xuất enzyme của chủng
đột biến Aspergillus sp. GA15

(Nguồn: Dương Thu Hương, Phạm Kim Đăng , Vũ Văn Hạnh (2019). Nghiên cứu nâng cao sinh tổng hợp đa enzyme (cellulase, α-amylase và glucoamylase) từ chủng
Aspergillus niger A45.1 bằng kỹ thuật đột biến và tối ưu điều kiện lên men xốp. Tạp
chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2019, 17(8): 666-678)
Dựa vào hình 1, phát biểu nào sau đây chính xác
[Dữ liệu 3]
Nâng cao sinh tổng hợp enzyme từ Aspergillus niger A45.1
Một nghiên cứu được tiến hành để gây đột biến ngẫu nhiên chủng nấm sợi Aspergillus niger A45.1 bằng cách kết hợp giữa tia UV và hóa chất NTG (N-methyl-N′-nitro-N-nitrosoguanidine), sau đó tối ưu điều kiện lên men để chọn ra dòng đột biến và điều kiện lên men tối ưu nhằm nâng cao sinh tổng hợp đa enzyme (cellulase, α-amylase, glucoamylase), phục vụ cho sản xuất chế phẩm enzyme ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như công nghệ thực phẩm, dệt may, giấy, dược phẩm, chăn nuôi,...
Bào tử của chủng nấm sợi A. niger A45.1 được nuôi cấy trong môi trường có bổ sung NTG và chiếu tia UV trong thời gian 180 phút. Kết quả (Hình 1) cho thấy tia UV và NTG có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sống sót của các bào tử nấm.
Hình 1. Mối quan hệ giữa tỷ lệ (%) bào tử nấm A.niger A45.1 còn sống sót và
thời gian chiếu tia UV
Sau khi gây đột biến trên chủng A45.1, nhóm nghiên cứu đã thu được dòng đột biến GA15 có khả năng sản sinh các enzyme α-amylase, glucoamylase và cellulase cao nhất.
Để tối ưu điều kiện lên men cho sản xuất đa enzyme (glucoamylase, α-amylase và
cellulase) bởi chủng đột biến Aspergillus sp. GA15, các thí nghiệm được tiến hành khảo sát các yếu tố của quá trình lên men, bao gồm các loại cơ chất (hình 2), độ ẩm (hình3), nhiệt độ (hình 4) và độ pH (hình 5).

Hình 2. Ảnh hưởng của loại cơ chất đến khả năng sản xuất enzyme của chủng
đột biến Aspergillus sp. GA15

(Nguồn: Dương Thu Hương, Phạm Kim Đăng , Vũ Văn Hạnh (2019). Nghiên cứu nâng cao sinh tổng hợp đa enzyme (cellulase, α-amylase và glucoamylase) từ chủng
Aspergillus niger A45.1 bằng kỹ thuật đột biến và tối ưu điều kiện lên men xốp. Tạp
chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2019, 17(8): 666-678)
Các phát biểu sau đây đúng hay sai
[Dữ liệu 3]
Nâng cao sinh tổng hợp enzyme từ Aspergillus niger A45.1
Một nghiên cứu được tiến hành để gây đột biến ngẫu nhiên chủng nấm sợi Aspergillus niger A45.1 bằng cách kết hợp giữa tia UV và hóa chất NTG (N-methyl-N′-nitro-N-nitrosoguanidine), sau đó tối ưu điều kiện lên men để chọn ra dòng đột biến và điều kiện lên men tối ưu nhằm nâng cao sinh tổng hợp đa enzyme (cellulase, α-amylase, glucoamylase), phục vụ cho sản xuất chế phẩm enzyme ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như công nghệ thực phẩm, dệt may, giấy, dược phẩm, chăn nuôi,...
Bào tử của chủng nấm sợi A. niger A45.1 được nuôi cấy trong môi trường có bổ sung NTG và chiếu tia UV trong thời gian 180 phút. Kết quả (Hình 1) cho thấy tia UV và NTG có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sống sót của các bào tử nấm.
Hình 1. Mối quan hệ giữa tỷ lệ (%) bào tử nấm A.niger A45.1 còn sống sót và
thời gian chiếu tia UV
Sau khi gây đột biến trên chủng A45.1, nhóm nghiên cứu đã thu được dòng đột biến GA15 có khả năng sản sinh các enzyme α-amylase, glucoamylase và cellulase cao nhất.
Để tối ưu điều kiện lên men cho sản xuất đa enzyme (glucoamylase, α-amylase và
cellulase) bởi chủng đột biến Aspergillus sp. GA15, các thí nghiệm được tiến hành khảo sát các yếu tố của quá trình lên men, bao gồm các loại cơ chất (hình 2), độ ẩm (hình3), nhiệt độ (hình 4) và độ pH (hình 5).

Hình 2. Ảnh hưởng của loại cơ chất đến khả năng sản xuất enzyme của chủng
đột biến Aspergillus sp. GA15

(Nguồn: Dương Thu Hương, Phạm Kim Đăng , Vũ Văn Hạnh (2019). Nghiên cứu nâng cao sinh tổng hợp đa enzyme (cellulase, α-amylase và glucoamylase) từ chủng
Aspergillus niger A45.1 bằng kỹ thuật đột biến và tối ưu điều kiện lên men xốp. Tạp
chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2019, 17(8): 666-678)
Các phát biểu sau đây đúng hay sai
[Dữ liệu 3]
Nâng cao sinh tổng hợp enzyme từ Aspergillus niger A45.1
Một nghiên cứu được tiến hành để gây đột biến ngẫu nhiên chủng nấm sợi Aspergillus niger A45.1 bằng cách kết hợp giữa tia UV và hóa chất NTG (N-methyl-N′-nitro-N-nitrosoguanidine), sau đó tối ưu điều kiện lên men để chọn ra dòng đột biến và điều kiện lên men tối ưu nhằm nâng cao sinh tổng hợp đa enzyme (cellulase, α-amylase, glucoamylase), phục vụ cho sản xuất chế phẩm enzyme ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như công nghệ thực phẩm, dệt may, giấy, dược phẩm, chăn nuôi,...
Bào tử của chủng nấm sợi A. niger A45.1 được nuôi cấy trong môi trường có bổ sung NTG và chiếu tia UV trong thời gian 180 phút. Kết quả (Hình 1) cho thấy tia UV và NTG có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sống sót của các bào tử nấm.
Hình 1. Mối quan hệ giữa tỷ lệ (%) bào tử nấm A.niger A45.1 còn sống sót và
thời gian chiếu tia UV
Sau khi gây đột biến trên chủng A45.1, nhóm nghiên cứu đã thu được dòng đột biến GA15 có khả năng sản sinh các enzyme α-amylase, glucoamylase và cellulase cao nhất.
Để tối ưu điều kiện lên men cho sản xuất đa enzyme (glucoamylase, α-amylase và
cellulase) bởi chủng đột biến Aspergillus sp. GA15, các thí nghiệm được tiến hành khảo sát các yếu tố của quá trình lên men, bao gồm các loại cơ chất (hình 2), độ ẩm (hình3), nhiệt độ (hình 4) và độ pH (hình 5).

Hình 2. Ảnh hưởng của loại cơ chất đến khả năng sản xuất enzyme của chủng
đột biến Aspergillus sp. GA15

(Nguồn: Dương Thu Hương, Phạm Kim Đăng , Vũ Văn Hạnh (2019). Nghiên cứu nâng cao sinh tổng hợp đa enzyme (cellulase, α-amylase và glucoamylase) từ chủng
Aspergillus niger A45.1 bằng kỹ thuật đột biến và tối ưu điều kiện lên men xốp. Tạp
chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2019, 17(8): 666-678)
Dựa vào hình 3, phát biểu nào sau đây chính xác?
Khi độ ẩm tăng từ 20% lên 50%, hoạt độ cả ba enzyme đều chỉ tăng thêm 50%
Ở mức độ ẩm 50%, hoạt độ enzyme α-amylase vượt quá 50 U/g.
Khi độ ẩm tiếp tục tăng từ 50% lên 70%, hoạt độ cả ba enzyme đều tăng theo.
Hoạt độ của cả ba enzyme đạt cực đại ở mức độ ẩm 40%.
[Dữ liệu 3]
Nâng cao sinh tổng hợp enzyme từ Aspergillus niger A45.1
Một nghiên cứu được tiến hành để gây đột biến ngẫu nhiên chủng nấm sợi Aspergillus niger A45.1 bằng cách kết hợp giữa tia UV và hóa chất NTG (N-methyl-N′-nitro-N-nitrosoguanidine), sau đó tối ưu điều kiện lên men để chọn ra dòng đột biến và điều kiện lên men tối ưu nhằm nâng cao sinh tổng hợp đa enzyme (cellulase, α-amylase, glucoamylase), phục vụ cho sản xuất chế phẩm enzyme ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như công nghệ thực phẩm, dệt may, giấy, dược phẩm, chăn nuôi,...
Bào tử của chủng nấm sợi A. niger A45.1 được nuôi cấy trong môi trường có bổ sung NTG và chiếu tia UV trong thời gian 180 phút. Kết quả (Hình 1) cho thấy tia UV và NTG có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sống sót của các bào tử nấm.
Hình 1. Mối quan hệ giữa tỷ lệ (%) bào tử nấm A.niger A45.1 còn sống sót và
thời gian chiếu tia UV
Sau khi gây đột biến trên chủng A45.1, nhóm nghiên cứu đã thu được dòng đột biến GA15 có khả năng sản sinh các enzyme α-amylase, glucoamylase và cellulase cao nhất.
Để tối ưu điều kiện lên men cho sản xuất đa enzyme (glucoamylase, α-amylase và
cellulase) bởi chủng đột biến Aspergillus sp. GA15, các thí nghiệm được tiến hành khảo sát các yếu tố của quá trình lên men, bao gồm các loại cơ chất (hình 2), độ ẩm (hình3), nhiệt độ (hình 4) và độ pH (hình 5).

Hình 2. Ảnh hưởng của loại cơ chất đến khả năng sản xuất enzyme của chủng
đột biến Aspergillus sp. GA15

(Nguồn: Dương Thu Hương, Phạm Kim Đăng , Vũ Văn Hạnh (2019). Nghiên cứu nâng cao sinh tổng hợp đa enzyme (cellulase, α-amylase và glucoamylase) từ chủng
Aspergillus niger A45.1 bằng kỹ thuật đột biến và tối ưu điều kiện lên men xốp. Tạp
chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2019, 17(8): 666-678)
Kéo thả nhiệt độ thích hợp
Hoạt độ enzyme glucoamylase giảm xuống dưới 10 U/g khi nhiệt độ lên men đạt: [1]
Hoạt độ enzyme cellulase vượt quá 20 U/g khi nhiệt độ lên men đạt: [2]
[Dữ liệu 3]
Nâng cao sinh tổng hợp enzyme từ Aspergillus niger A45.1
Một nghiên cứu được tiến hành để gây đột biến ngẫu nhiên chủng nấm sợi Aspergillus niger A45.1 bằng cách kết hợp giữa tia UV và hóa chất NTG (N-methyl-N′-nitro-N-nitrosoguanidine), sau đó tối ưu điều kiện lên men để chọn ra dòng đột biến và điều kiện lên men tối ưu nhằm nâng cao sinh tổng hợp đa enzyme (cellulase, α-amylase, glucoamylase), phục vụ cho sản xuất chế phẩm enzyme ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như công nghệ thực phẩm, dệt may, giấy, dược phẩm, chăn nuôi,...
Bào tử của chủng nấm sợi A. niger A45.1 được nuôi cấy trong môi trường có bổ sung NTG và chiếu tia UV trong thời gian 180 phút. Kết quả (Hình 1) cho thấy tia UV và NTG có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sống sót của các bào tử nấm.
Hình 1. Mối quan hệ giữa tỷ lệ (%) bào tử nấm A.niger A45.1 còn sống sót và
thời gian chiếu tia UV
Sau khi gây đột biến trên chủng A45.1, nhóm nghiên cứu đã thu được dòng đột biến GA15 có khả năng sản sinh các enzyme α-amylase, glucoamylase và cellulase cao nhất.
Để tối ưu điều kiện lên men cho sản xuất đa enzyme (glucoamylase, α-amylase và
cellulase) bởi chủng đột biến Aspergillus sp. GA15, các thí nghiệm được tiến hành khảo sát các yếu tố của quá trình lên men, bao gồm các loại cơ chất (hình 2), độ ẩm (hình3), nhiệt độ (hình 4) và độ pH (hình 5).

Hình 2. Ảnh hưởng của loại cơ chất đến khả năng sản xuất enzyme của chủng
đột biến Aspergillus sp. GA15

(Nguồn: Dương Thu Hương, Phạm Kim Đăng , Vũ Văn Hạnh (2019). Nghiên cứu nâng cao sinh tổng hợp đa enzyme (cellulase, α-amylase và glucoamylase) từ chủng
Aspergillus niger A45.1 bằng kỹ thuật đột biến và tối ưu điều kiện lên men xốp. Tạp
chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2019, 17(8): 666-678)
Kéo thả tên enzyme thích hợp (glucoamylase, α-amylase, cellulase) vào chỗ trống dựa theo Hình 5:
Khi tăng pH môi trường từ 3 lên 5,5: hoạt độ enzyme [1] tăng khoảng 2,8 lần; hoạt độ enzyme [2] tăng khoảng 2,6 lần; hoạt độ enzyme [3] tăng khoảng 2 lần.
glucoamylase
α-amylase
cellulase
[Dữ liệu 3]
Nâng cao sinh tổng hợp enzyme từ Aspergillus niger A45.1
Một nghiên cứu được tiến hành để gây đột biến ngẫu nhiên chủng nấm sợi Aspergillus niger A45.1 bằng cách kết hợp giữa tia UV và hóa chất NTG (N-methyl-N′-nitro-N-nitrosoguanidine), sau đó tối ưu điều kiện lên men để chọn ra dòng đột biến và điều kiện lên men tối ưu nhằm nâng cao sinh tổng hợp đa enzyme (cellulase, α-amylase, glucoamylase), phục vụ cho sản xuất chế phẩm enzyme ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như công nghệ thực phẩm, dệt may, giấy, dược phẩm, chăn nuôi,...
Bào tử của chủng nấm sợi A. niger A45.1 được nuôi cấy trong môi trường có bổ sung NTG và chiếu tia UV trong thời gian 180 phút. Kết quả (Hình 1) cho thấy tia UV và NTG có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sống sót của các bào tử nấm.
Hình 1. Mối quan hệ giữa tỷ lệ (%) bào tử nấm A.niger A45.1 còn sống sót và
thời gian chiếu tia UV
Sau khi gây đột biến trên chủng A45.1, nhóm nghiên cứu đã thu được dòng đột biến GA15 có khả năng sản sinh các enzyme α-amylase, glucoamylase và cellulase cao nhất.
Để tối ưu điều kiện lên men cho sản xuất đa enzyme (glucoamylase, α-amylase và
cellulase) bởi chủng đột biến Aspergillus sp. GA15, các thí nghiệm được tiến hành khảo sát các yếu tố của quá trình lên men, bao gồm các loại cơ chất (hình 2), độ ẩm (hình3), nhiệt độ (hình 4) và độ pH (hình 5).

Hình 2. Ảnh hưởng của loại cơ chất đến khả năng sản xuất enzyme của chủng
đột biến Aspergillus sp. GA15

(Nguồn: Dương Thu Hương, Phạm Kim Đăng , Vũ Văn Hạnh (2019). Nghiên cứu nâng cao sinh tổng hợp đa enzyme (cellulase, α-amylase và glucoamylase) từ chủng
Aspergillus niger A45.1 bằng kỹ thuật đột biến và tối ưu điều kiện lên men xốp. Tạp
chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2019, 17(8): 666-678)
Một cơ sở sản xuất muốn lên men xốp (solid-state fermentation) bằng chủng đột biến Aspergillus sp. GA15 để thu đồng thời cả 3 loại enzyme (glucoamylase, α-amylase, cellulase) với hoạt độ cao nhất có thể, nhưng chỉ có sẵn 2 loại cơ chất là cám mì và mùn cưa, đồng thời hệ thống chỉ kiểm soát chính xác được nhiệt độ ở một trong hai mức 30°C hoặc 40°C, và pH ở một trong hai mức 4,5 hoặc 5,5. Hãy xác định điều kiện lên men phù hợp nhất (cơ chất, nhiệt độ, pH) và giải thích phù hợp nhất
[Dữ liệu 1]
Ảnh hưởng của kích thước nguyên liệu đến quá trình lên men kim chi
Kim chi là một loại thực phẩm lên men truyền thống của Hàn Quốc và ngày nay được
tiêu thụ rộng rãi trên toàn thế giới. Kim chi củ cải (kkakdugi) là loại kim chi sử dụng củ
cải làm nguyên liệu chính được thái thành các miếng đều nhau. Dựa trên các nghiên
cứu trước đây, sự khác biệt về kích thước của các nguyên liệu sẽ ảnh hưởng đến quá
trình lên men kim chi củ cải. Trong thí nghiệm này, củ cải được cắt thành các khối có
kích thước lần lượt là: cỡ nhỏ (SK): 1 × 1 × 1 cm, cỡ vừa (MK): 2 × 2 × 2 cm và cỡ lớn
(LK): 3 × 3 × 3. Sau đó, củ cải được trộn với hỗn hợp gia vị gồm bột ớt đỏ, tỏi, gừng,
hành lá, muối, đường. Hỗn hợp củ cải và gia vị được để ở nhiệt độ 20 °C trong 6 giờ để
kích thích quá trình lên men, sau đó giữ ở 4 °C trong 50 ngày. Các tính chất của kim
chi được đánh giá bao gồm: pH, axit tổng số, độ cứng. Kết quả được thể hiện ở hình 1.
Hàm lượng axit tổng số trong kim chi được xác định bằng cách trung hòa bởi NaOH
0,1 M và được biểu diễn bằng % axit lactic. Hệ vi khuẩn chủ yếu trong quá trình lên
men được xác định thuộc các chi Lactobacillus, Leuconostoc và Weissella.

Tại mốc thời gian 30 ngày lên men, mẫu kim chi củ cải nào đạt giá trị pH thấp nhất so với các mẫu còn lại?
[Dữ liệu 1]
Ảnh hưởng của kích thước nguyên liệu đến quá trình lên men kim chi
Kim chi là một loại thực phẩm lên men truyền thống của Hàn Quốc và ngày nay được
tiêu thụ rộng rãi trên toàn thế giới. Kim chi củ cải (kkakdugi) là loại kim chi sử dụng củ
cải làm nguyên liệu chính được thái thành các miếng đều nhau. Dựa trên các nghiên
cứu trước đây, sự khác biệt về kích thước của các nguyên liệu sẽ ảnh hưởng đến quá
trình lên men kim chi củ cải. Trong thí nghiệm này, củ cải được cắt thành các khối có
kích thước lần lượt là: cỡ nhỏ (SK): 1 × 1 × 1 cm, cỡ vừa (MK): 2 × 2 × 2 cm và cỡ lớn
(LK): 3 × 3 × 3. Sau đó, củ cải được trộn với hỗn hợp gia vị gồm bột ớt đỏ, tỏi, gừng,
hành lá, muối, đường. Hỗn hợp củ cải và gia vị được để ở nhiệt độ 20 °C trong 6 giờ để
kích thích quá trình lên men, sau đó giữ ở 4 °C trong 50 ngày. Các tính chất của kim
chi được đánh giá bao gồm: pH, axit tổng số, độ cứng. Kết quả được thể hiện ở hình 1.
Hàm lượng axit tổng số trong kim chi được xác định bằng cách trung hòa bởi NaOH
0,1 M và được biểu diễn bằng % axit lactic. Hệ vi khuẩn chủ yếu trong quá trình lên
men được xác định thuộc các chi Lactobacillus, Leuconostoc và Weissella.

Xu hướng biến đổi của pH và hàm lượng axit tổng số trong cả 3 mẫu kim chi củ cải suốt quá trình lên men là:
[Dữ liệu 1]
Ảnh hưởng của kích thước nguyên liệu đến quá trình lên men kim chi
Kim chi là một loại thực phẩm lên men truyền thống của Hàn Quốc và ngày nay được
tiêu thụ rộng rãi trên toàn thế giới. Kim chi củ cải (kkakdugi) là loại kim chi sử dụng củ
cải làm nguyên liệu chính được thái thành các miếng đều nhau. Dựa trên các nghiên
cứu trước đây, sự khác biệt về kích thước của các nguyên liệu sẽ ảnh hưởng đến quá
trình lên men kim chi củ cải. Trong thí nghiệm này, củ cải được cắt thành các khối có
kích thước lần lượt là: cỡ nhỏ (SK): 1 × 1 × 1 cm, cỡ vừa (MK): 2 × 2 × 2 cm và cỡ lớn
(LK): 3 × 3 × 3. Sau đó, củ cải được trộn với hỗn hợp gia vị gồm bột ớt đỏ, tỏi, gừng,
hành lá, muối, đường. Hỗn hợp củ cải và gia vị được để ở nhiệt độ 20 °C trong 6 giờ để
kích thích quá trình lên men, sau đó giữ ở 4 °C trong 50 ngày. Các tính chất của kim
chi được đánh giá bao gồm: pH, axit tổng số, độ cứng. Kết quả được thể hiện ở hình 1.
Hàm lượng axit tổng số trong kim chi được xác định bằng cách trung hòa bởi NaOH
0,1 M và được biểu diễn bằng % axit lactic. Hệ vi khuẩn chủ yếu trong quá trình lên
men được xác định thuộc các chi Lactobacillus, Leuconostoc và Weissella.

Hãy điền tên nhóm vi khuẩn đóng vai trò chủ đạo trong quá trình lên men kim chi củ cải: quá trình này chủ yếu do hoạt động của hệ vi khuẩn [1] thực hiện.
vi khuẩn lactic thuộc các chi Lactobacillus, Leuconostoc và Weissella
vi khuẩn e.coli
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.
Đăng nhập để làm bài