TÁC DỤNG PHỤ CỦA THUỐC
Móng ngựa rất dễ bị nhiễm trùng, và nếu tình trạng nhiễm trùng trở nên nghiêm trọng thì khả năng vận động của ngựa có thể suy giảm đáng kể. Vì vậy, những người chăn nuôi ngựa thường xuyên bổ sung vào khẩu phần ăn các chất có tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng. Chất Z là một loại chất bổ sung như vậy, với công dụng chính là chống nhiễm trùng. Tuy nhiên, chất Z cũng có tác dụng phụ là làm tăng tần suất đi tiểu ở ngựa, từ đó có nguy cơ khiến cơ thể ngựa bị mất nước.
Nhằm kiểm chứng xem chất bổ sung Z có thực sự làm tăng lượng nước tiểu ở ngựa hay không, một thí nghiệm đã được tiến hành như sau: 20 con ngựa trưởng thành có cân nặng tương đương nhau được chọn ngẫu nhiên và chia đều thành 2 nhóm, mỗi nhóm gồm 10 con. Nhóm A được cho ăn thức ăn có bổ sung chất Z, còn nhóm B được cho ăn thức ăn có bổ sung giả dược (một chất trung tính, không có khả năng chống nhiễm trùng). Cả hai nhóm đều được cung cấp cùng một lượng thức ăn và nước uống như nhau mỗi ngày, và mỗi con ngựa được nuôi riêng biệt trong chuồng của mình suốt 7 ngày liên tục. Trong suốt thời gian thí nghiệm, lượng nước tiểu của từng con được ghi nhận hằng ngày, kết quả trung bình được trình bày ở bảng dưới đây:

Thí nghiệm về tác dụng phụ của chất Z được tiến hành trong khoảng thời gian bao lâu?
TÁC DỤNG PHỤ CỦA THUỐC
Móng ngựa rất dễ bị nhiễm trùng, và nếu tình trạng nhiễm trùng trở nên nghiêm trọng thì khả năng vận động của ngựa có thể suy giảm đáng kể. Vì vậy, những người chăn nuôi ngựa thường xuyên bổ sung vào khẩu phần ăn các chất có tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng. Chất Z là một loại chất bổ sung như vậy, với công dụng chính là chống nhiễm trùng. Tuy nhiên, chất Z cũng có tác dụng phụ là làm tăng tần suất đi tiểu ở ngựa, từ đó có nguy cơ khiến cơ thể ngựa bị mất nước.
Nhằm kiểm chứng xem chất bổ sung Z có thực sự làm tăng lượng nước tiểu ở ngựa hay không, một thí nghiệm đã được tiến hành như sau: 20 con ngựa trưởng thành có cân nặng tương đương nhau được chọn ngẫu nhiên và chia đều thành 2 nhóm, mỗi nhóm gồm 10 con. Nhóm A được cho ăn thức ăn có bổ sung chất Z, còn nhóm B được cho ăn thức ăn có bổ sung giả dược (một chất trung tính, không có khả năng chống nhiễm trùng). Cả hai nhóm đều được cung cấp cùng một lượng thức ăn và nước uống như nhau mỗi ngày, và mỗi con ngựa được nuôi riêng biệt trong chuồng của mình suốt 7 ngày liên tục. Trong suốt thời gian thí nghiệm, lượng nước tiểu của từng con được ghi nhận hằng ngày, kết quả trung bình được trình bày ở bảng dưới đây:

Để tăng độ chính xác và tin cậy cho thí nghiệm về tác dụng phụ của thuốc trên, những đề xuất nào sau đây là hợp lí?
TÁC DỤNG PHỤ CỦA THUỐC
Móng ngựa rất dễ bị nhiễm trùng, và nếu tình trạng nhiễm trùng trở nên nghiêm trọng thì khả năng vận động của ngựa có thể suy giảm đáng kể. Vì vậy, những người chăn nuôi ngựa thường xuyên bổ sung vào khẩu phần ăn các chất có tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng. Chất Z là một loại chất bổ sung như vậy, với công dụng chính là chống nhiễm trùng. Tuy nhiên, chất Z cũng có tác dụng phụ là làm tăng tần suất đi tiểu ở ngựa, từ đó có nguy cơ khiến cơ thể ngựa bị mất nước.
Nhằm kiểm chứng xem chất bổ sung Z có thực sự làm tăng lượng nước tiểu ở ngựa hay không, một thí nghiệm đã được tiến hành như sau: 20 con ngựa trưởng thành có cân nặng tương đương nhau được chọn ngẫu nhiên và chia đều thành 2 nhóm, mỗi nhóm gồm 10 con. Nhóm A được cho ăn thức ăn có bổ sung chất Z, còn nhóm B được cho ăn thức ăn có bổ sung giả dược (một chất trung tính, không có khả năng chống nhiễm trùng). Cả hai nhóm đều được cung cấp cùng một lượng thức ăn và nước uống như nhau mỗi ngày, và mỗi con ngựa được nuôi riêng biệt trong chuồng của mình suốt 7 ngày liên tục. Trong suốt thời gian thí nghiệm, lượng nước tiểu của từng con được ghi nhận hằng ngày, kết quả trung bình được trình bày ở bảng dưới đây:

Việc bổ sung chất Z có xu hướng làm ______ lượng nước tiểu ở ngựa.
TÁC DỤNG PHỤ CỦA THUỐC
Móng ngựa rất dễ bị nhiễm trùng, và nếu tình trạng nhiễm trùng trở nên nghiêm trọng thì khả năng vận động của ngựa có thể suy giảm đáng kể. Vì vậy, những người chăn nuôi ngựa thường xuyên bổ sung vào khẩu phần ăn các chất có tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng. Chất Z là một loại chất bổ sung như vậy, với công dụng chính là chống nhiễm trùng. Tuy nhiên, chất Z cũng có tác dụng phụ là làm tăng tần suất đi tiểu ở ngựa, từ đó có nguy cơ khiến cơ thể ngựa bị mất nước.
Nhằm kiểm chứng xem chất bổ sung Z có thực sự làm tăng lượng nước tiểu ở ngựa hay không, một thí nghiệm đã được tiến hành như sau: 20 con ngựa trưởng thành có cân nặng tương đương nhau được chọn ngẫu nhiên và chia đều thành 2 nhóm, mỗi nhóm gồm 10 con. Nhóm A được cho ăn thức ăn có bổ sung chất Z, còn nhóm B được cho ăn thức ăn có bổ sung giả dược (một chất trung tính, không có khả năng chống nhiễm trùng). Cả hai nhóm đều được cung cấp cùng một lượng thức ăn và nước uống như nhau mỗi ngày, và mỗi con ngựa được nuôi riêng biệt trong chuồng của mình suốt 7 ngày liên tục. Trong suốt thời gian thí nghiệm, lượng nước tiểu của từng con được ghi nhận hằng ngày, kết quả trung bình được trình bày ở bảng dưới đây:

Các nhận định sau đây đúng hay sai?
THỬ NGHIỆM THUỐC
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm để đánh giá hiệu quả của hai loại thuốc được bào chế dưới hai dạng khác nhau: dạng viên nang giải phóng tức thời và viên nang giải phóng kéo dài.
Viên nang giải phóng tức thời (immediate-release) được bào chế nhằm phóng thích nhanh và hoàn toàn hoạt chất ngay sau khi uống hoặc viên được hòa tan, dùng như dung dịch thuốc. Viên nang giải phóng kéo dài (extended-release), hoạt chất không được phóng thích ngay sau khi dùng mà cần một thời gian nhất định hoặc điều kiện phù hợp đến trễ hơn. Hình 1 cho thấy nồng độ trung bình (nanogram trên millilit [ng/mL]) của hai hoạt chất của thuốc theo đơn trong huyết tương của bệnh nhân theo thời gian (giờ).

Trong các thử nghiệm lâm sàng về thuốc theo đơn, các đối tượng được cho thuốc theo đơn đã được phỏng vấn đều đặn về các triệu chứng sau khi dùng. Sau mỗi cuộc phỏng vấn, các đối tượng được chỉ định một triệu chứng. Điểm số triệu chứng cao tương ứng với cường độ cao của triệu chứng và điểm triệu chứng thấp cho thấy cường độ thấp của các triệu chứng. Hình 2 cho thấy điểm triệu chứng trung bình trên thời gian (giờ) đối với đối tượng dùng thuốc theo đơn.

Trong Hình 1, các thành phần thuốc của cả hai loại viên nang đạt nồng độ cao nhất trong huyết tương vào khoảng thời gian nào sau khi dùng thuốc?
THỬ NGHIỆM THUỐC
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm để đánh giá hiệu quả của hai loại thuốc được bào chế dưới hai dạng khác nhau: dạng viên nang giải phóng tức thời và viên nang giải phóng kéo dài.
Viên nang giải phóng tức thời (immediate-release) được bào chế nhằm phóng thích nhanh và hoàn toàn hoạt chất ngay sau khi uống hoặc viên được hòa tan, dùng như dung dịch thuốc. Viên nang giải phóng kéo dài (extended-release), hoạt chất không được phóng thích ngay sau khi dùng mà cần một thời gian nhất định hoặc điều kiện phù hợp đến trễ hơn. Hình 1 cho thấy nồng độ trung bình (nanogram trên millilit [ng/mL]) của hai hoạt chất của thuốc theo đơn trong huyết tương của bệnh nhân theo thời gian (giờ).

Trong các thử nghiệm lâm sàng về thuốc theo đơn, các đối tượng được cho thuốc theo đơn đã được phỏng vấn đều đặn về các triệu chứng sau khi dùng. Sau mỗi cuộc phỏng vấn, các đối tượng được chỉ định một triệu chứng. Điểm số triệu chứng cao tương ứng với cường độ cao của triệu chứng và điểm triệu chứng thấp cho thấy cường độ thấp của các triệu chứng. Hình 2 cho thấy điểm triệu chứng trung bình trên thời gian (giờ) đối với đối tượng dùng thuốc theo đơn.

Điểm khác biệt cốt lõi giữa viên nang giải phóng tức thời và viên nang giải phóng kéo dài nằm ở:
THỬ NGHIỆM THUỐC
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm để đánh giá hiệu quả của hai loại thuốc được bào chế dưới hai dạng khác nhau: dạng viên nang giải phóng tức thời và viên nang giải phóng kéo dài.
Viên nang giải phóng tức thời (immediate-release) được bào chế nhằm phóng thích nhanh và hoàn toàn hoạt chất ngay sau khi uống hoặc viên được hòa tan, dùng như dung dịch thuốc. Viên nang giải phóng kéo dài (extended-release), hoạt chất không được phóng thích ngay sau khi dùng mà cần một thời gian nhất định hoặc điều kiện phù hợp đến trễ hơn. Hình 1 cho thấy nồng độ trung bình (nanogram trên millilit [ng/mL]) của hai hoạt chất của thuốc theo đơn trong huyết tương của bệnh nhân theo thời gian (giờ).

Trong các thử nghiệm lâm sàng về thuốc theo đơn, các đối tượng được cho thuốc theo đơn đã được phỏng vấn đều đặn về các triệu chứng sau khi dùng. Sau mỗi cuộc phỏng vấn, các đối tượng được chỉ định một triệu chứng. Điểm số triệu chứng cao tương ứng với cường độ cao của triệu chứng và điểm triệu chứng thấp cho thấy cường độ thấp của các triệu chứng. Hình 2 cho thấy điểm triệu chứng trung bình trên thời gian (giờ) đối với đối tượng dùng thuốc theo đơn.

Các nhận định sau đây là đúng hay sai?
THỬ NGHIỆM THUỐC
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm để đánh giá hiệu quả của hai loại thuốc được bào chế dưới hai dạng khác nhau: dạng viên nang giải phóng tức thời và viên nang giải phóng kéo dài.
Viên nang giải phóng tức thời (immediate-release) được bào chế nhằm phóng thích nhanh và hoàn toàn hoạt chất ngay sau khi uống hoặc viên được hòa tan, dùng như dung dịch thuốc. Viên nang giải phóng kéo dài (extended-release), hoạt chất không được phóng thích ngay sau khi dùng mà cần một thời gian nhất định hoặc điều kiện phù hợp đến trễ hơn. Hình 1 cho thấy nồng độ trung bình (nanogram trên millilit [ng/mL]) của hai hoạt chất của thuốc theo đơn trong huyết tương của bệnh nhân theo thời gian (giờ).

Trong các thử nghiệm lâm sàng về thuốc theo đơn, các đối tượng được cho thuốc theo đơn đã được phỏng vấn đều đặn về các triệu chứng sau khi dùng. Sau mỗi cuộc phỏng vấn, các đối tượng được chỉ định một triệu chứng. Điểm số triệu chứng cao tương ứng với cường độ cao của triệu chứng và điểm triệu chứng thấp cho thấy cường độ thấp của các triệu chứng. Hình 2 cho thấy điểm triệu chứng trung bình trên thời gian (giờ) đối với đối tượng dùng thuốc theo đơn.

Một bệnh nhân cần duy trì hiệu quả giảm triệu chứng ổn định, kéo dài trong cả ngày mà không muốn uống thuốc nhiều lần. Dựa vào Hình 1 và Hình 2, loại viên nang nào phù hợp hơn với bệnh nhân này?
THỬ NGHIỆM THUỐC
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm để đánh giá hiệu quả của hai loại thuốc được bào chế dưới hai dạng khác nhau: dạng viên nang giải phóng tức thời và viên nang giải phóng kéo dài.
Viên nang giải phóng tức thời (immediate-release) được bào chế nhằm phóng thích nhanh và hoàn toàn hoạt chất ngay sau khi uống hoặc viên được hòa tan, dùng như dung dịch thuốc. Viên nang giải phóng kéo dài (extended-release), hoạt chất không được phóng thích ngay sau khi dùng mà cần một thời gian nhất định hoặc điều kiện phù hợp đến trễ hơn. Hình 1 cho thấy nồng độ trung bình (nanogram trên millilit [ng/mL]) của hai hoạt chất của thuốc theo đơn trong huyết tương của bệnh nhân theo thời gian (giờ).

Trong các thử nghiệm lâm sàng về thuốc theo đơn, các đối tượng được cho thuốc theo đơn đã được phỏng vấn đều đặn về các triệu chứng sau khi dùng. Sau mỗi cuộc phỏng vấn, các đối tượng được chỉ định một triệu chứng. Điểm số triệu chứng cao tương ứng với cường độ cao của triệu chứng và điểm triệu chứng thấp cho thấy cường độ thấp của các triệu chứng. Hình 2 cho thấy điểm triệu chứng trung bình trên thời gian (giờ) đối với đối tượng dùng thuốc theo đơn.

Nhận định: "Việc điểm triệu chứng bệnh tăng trở lại sau 16-24 giờ ở cả hai loại thuốc là do nồng độ hoạt chất trong huyết tương đã giảm xuống dưới ngưỡng có tác dụng điều trị."
BỆNH HỒNG CẦU HÌNH LIỀM
Thiếu máu hồng cầu hình lưỡi liềm (Sickle cell anemia) là một dạng thiếu máu di truyền do các tế bào hồng cầu biến dạng nên không thực hiện đầy đủ chức năng chuyên chở các chất khí cung cấp cho cơ thể.
Thông thường, các tế bào hồng cầu có dạng hình đĩa, lõm hai mặt, rất linh hoạt di chuyển dễ dàng trong các mạch máu. Trong bệnh thiếu máu hồng cầu hình lưỡi liềm, các tế bào hồng cầu trở nên cứng, dính và có hình dạng giống như lưỡi liềm hoặc mặt trăng khuyết. Những tế bào có hình dạng bất thường này có thể bị mắc kẹt trong các mạch máu nhỏ, dẫn đến làm chậm hoặc chặn lưu lượng máu chứa oxygen và dinh dưỡng đến các bộ phận của cơ thể.
Bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm là do đột biến gene sản xuất hemoglobin. Hemoglobin (Hb) là thành phần của các tế bào hồng cầu, cho phép hồng cầu mang O₂ từ phổi đến các cơ quan khác của cơ thể và mang khí CO₂ từ cơ quan đến phổi để thải ra ngoài môi trường. Cơ chế bệnh hồng cầu lưỡi liềm là gene β-globin bị đột biến thay thế cặp nucleotide T-A thành A-T khiến thay đổi nghĩa của bộ ba mã hóa cho amino acid thứ 6 trong chuỗi globin. Kết quả biến đổi Hb A (dạng bình thường) thành Hb S trong hồng cầu hình liềm như mô tả trong hình dưới đây:

Người ta theo dõi sự di truyền của bệnh hồng cầu hình liềm ở một gia đình qua 3 thế hệ và biểu diễn trong phả hệ dưới đây.

Cơ chế gây nên bệnh hồng cầu hình liềm là do:
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.
Đăng nhập để làm bài