[9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 14 - Sinh học

Đánh giá Tư duy (TSA)Môn Tư duy khoa học - Sinh họcNăm 202713 câuChuẩn GDPT mới

Phần I

Câu 1

SỰ XÁC ĐỊNH GIỚI TÍNH Ở RÙA BIỂN

Giới tính của rùa biển được xác định bởi nhiệt độ của môi trường trong khoảng thời gian trứng phát triển. Khi một ổ trứng rùa biển ấp dưới cát, phôi sẽ phát triển trong vòng 45-70 ngày. Thời gian một phần ba giữa của khoảng thời gian này là "giai đoạn nhạy cảm với nhiệt độ", trong đó phôi sẽ phát triển tuyến sinh dục (cơ quan sinh sản). Nhiệt độ ấm hơn trong thời gian này sẽ kích hoạt giải phóng hormone dẫn đến sự phát triển của buồng trứng, trong khi nhiệt độ lạnh hơn sẽ kích hoạt tinh hoàn. Nói cách khác, nhiệt độ ấp ấm hơn tạo ra nhiều rùa biển cái con hơn, và nhiệt độ ấp lạnh hơn tạo ra nhiều rùa biển đực hơn. "Nhiệt độ then chốt" là giá trị nhiệt độ mà trứng nở ra với tỷ lệ hoàn hảo giữa rùa cái và rùa đực là 50%:50%. Sự nóng lên toàn cầu gây ra mối đe dọa tiềm tàng đối với đa dạng sinh học trên toàn thế giới. Nhiệt độ tăng có thể dẫn đến tỷ lệ giới tính bị sai lệch ở nhiều quần thể rùa biển. Sự thiếu hụt một giới tính dẫn đến khó khăn trong việc tìm bạn tình, giảm khả năng sinh sản, suy giảm kích thước quần thể và có thể dẫn đến tuyệt chủng. Trung bình, rùa biển cái giao phối ba năm một lần, dự trữ tinh trùng trong cơ thể chúng trong thời kỳ này, trong khi những con đực cố gắng giao phối hàng năm. Hình bên dưới mô hình hóa ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng trứng nở thành con cái ở hai loài rùa biển.

Theo đoạn văn, "giai đoạn nhạy cảm với nhiệt độ" là gì?

A
Toàn bộ thời gian 45-70 ngày ấp trứng
B
Một phần ba thời gian đầu của quá trình ấp trứng
C
Một phần ba khoảng giữa của thời gian ấp trứng, khi tuyến sinh dục phát triển
D
Một phần ba thời gian cuối trước khi trứng nở

Câu 2

SỰ XÁC ĐỊNH GIỚI TÍNH Ở RÙA BIỂN

Giới tính của rùa biển được xác định bởi nhiệt độ của môi trường trong khoảng thời gian trứng phát triển. Khi một ổ trứng rùa biển ấp dưới cát, phôi sẽ phát triển trong vòng 45-70 ngày. Thời gian một phần ba giữa của khoảng thời gian này là "giai đoạn nhạy cảm với nhiệt độ", trong đó phôi sẽ phát triển tuyến sinh dục (cơ quan sinh sản). Nhiệt độ ấm hơn trong thời gian này sẽ kích hoạt giải phóng hormone dẫn đến sự phát triển của buồng trứng, trong khi nhiệt độ lạnh hơn sẽ kích hoạt tinh hoàn. Nói cách khác, nhiệt độ ấp ấm hơn tạo ra nhiều rùa biển cái con hơn, và nhiệt độ ấp lạnh hơn tạo ra nhiều rùa biển đực hơn. "Nhiệt độ then chốt" là giá trị nhiệt độ mà trứng nở ra với tỷ lệ hoàn hảo giữa rùa cái và rùa đực là 50%:50%. Sự nóng lên toàn cầu gây ra mối đe dọa tiềm tàng đối với đa dạng sinh học trên toàn thế giới. Nhiệt độ tăng có thể dẫn đến tỷ lệ giới tính bị sai lệch ở nhiều quần thể rùa biển. Sự thiếu hụt một giới tính dẫn đến khó khăn trong việc tìm bạn tình, giảm khả năng sinh sản, suy giảm kích thước quần thể và có thể dẫn đến tuyệt chủng. Trung bình, rùa biển cái giao phối ba năm một lần, dự trữ tinh trùng trong cơ thể chúng trong thời kỳ này, trong khi những con đực cố gắng giao phối hàng năm. Hình bên dưới mô hình hóa ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng trứng nở thành con cái ở hai loài rùa biển.

Dựa vào đồ thị, ở nhiệt độ 25°C, xác suất trứng nở thành con cái ở cả hai loài a và b gần với giá trị nào nhất?

A
0
B
0.5
C
0.8
D
1

Câu 3

SỰ XÁC ĐỊNH GIỚI TÍNH Ở RÙA BIỂN

Giới tính của rùa biển được xác định bởi nhiệt độ của môi trường trong khoảng thời gian trứng phát triển. Khi một ổ trứng rùa biển ấp dưới cát, phôi sẽ phát triển trong vòng 45-70 ngày. Thời gian một phần ba giữa của khoảng thời gian này là "giai đoạn nhạy cảm với nhiệt độ", trong đó phôi sẽ phát triển tuyến sinh dục (cơ quan sinh sản). Nhiệt độ ấm hơn trong thời gian này sẽ kích hoạt giải phóng hormone dẫn đến sự phát triển của buồng trứng, trong khi nhiệt độ lạnh hơn sẽ kích hoạt tinh hoàn. Nói cách khác, nhiệt độ ấp ấm hơn tạo ra nhiều rùa biển cái con hơn, và nhiệt độ ấp lạnh hơn tạo ra nhiều rùa biển đực hơn. "Nhiệt độ then chốt" là giá trị nhiệt độ mà trứng nở ra với tỷ lệ hoàn hảo giữa rùa cái và rùa đực là 50%:50%. Sự nóng lên toàn cầu gây ra mối đe dọa tiềm tàng đối với đa dạng sinh học trên toàn thế giới. Nhiệt độ tăng có thể dẫn đến tỷ lệ giới tính bị sai lệch ở nhiều quần thể rùa biển. Sự thiếu hụt một giới tính dẫn đến khó khăn trong việc tìm bạn tình, giảm khả năng sinh sản, suy giảm kích thước quần thể và có thể dẫn đến tuyệt chủng. Trung bình, rùa biển cái giao phối ba năm một lần, dự trữ tinh trùng trong cơ thể chúng trong thời kỳ này, trong khi những con đực cố gắng giao phối hàng năm. Hình bên dưới mô hình hóa ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng trứng nở thành con cái ở hai loài rùa biển.

So sánh đường a và đường b trên đồ thị, nhận định nào sau đây đúng?

A
Loài a có nhiệt độ then chốt cao hơn loài b
B
Loài a chuyển từ chủ yếu sinh ra con đực sang chủ yếu sinh ra con cái trong một khoảng nhiệt độ hẹp hơn loài b
C
Loài b đạt xác suất nở thành cái = 1 ở nhiệt độ thấp hơn loài a
D
Cả hai loài có cùng nhiệt độ then chốt

Câu 4

SỰ XÁC ĐỊNH GIỚI TÍNH Ở RÙA BIỂN

Giới tính của rùa biển được xác định bởi nhiệt độ của môi trường trong khoảng thời gian trứng phát triển. Khi một ổ trứng rùa biển ấp dưới cát, phôi sẽ phát triển trong vòng 45-70 ngày. Thời gian một phần ba giữa của khoảng thời gian này là "giai đoạn nhạy cảm với nhiệt độ", trong đó phôi sẽ phát triển tuyến sinh dục (cơ quan sinh sản). Nhiệt độ ấm hơn trong thời gian này sẽ kích hoạt giải phóng hormone dẫn đến sự phát triển của buồng trứng, trong khi nhiệt độ lạnh hơn sẽ kích hoạt tinh hoàn. Nói cách khác, nhiệt độ ấp ấm hơn tạo ra nhiều rùa biển cái con hơn, và nhiệt độ ấp lạnh hơn tạo ra nhiều rùa biển đực hơn. "Nhiệt độ then chốt" là giá trị nhiệt độ mà trứng nở ra với tỷ lệ hoàn hảo giữa rùa cái và rùa đực là 50%:50%. Sự nóng lên toàn cầu gây ra mối đe dọa tiềm tàng đối với đa dạng sinh học trên toàn thế giới. Nhiệt độ tăng có thể dẫn đến tỷ lệ giới tính bị sai lệch ở nhiều quần thể rùa biển. Sự thiếu hụt một giới tính dẫn đến khó khăn trong việc tìm bạn tình, giảm khả năng sinh sản, suy giảm kích thước quần thể và có thể dẫn đến tuyệt chủng. Trung bình, rùa biển cái giao phối ba năm một lần, dự trữ tinh trùng trong cơ thể chúng trong thời kỳ này, trong khi những con đực cố gắng giao phối hàng năm. Hình bên dưới mô hình hóa ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng trứng nở thành con cái ở hai loài rùa biển.

Dựa vào thông tin trong đoạn văn và đồ thị, các nhận định sau đúng hay sai?

A
Nhiệt độ ấp ấm hơn sẽ tạo ra nhiều rùa đực hơn.
B
Nhiệt độ then chốt của loài a thấp hơn nhiệt độ then chốt của loài b.
C
Ở nhiệt độ 33°C, hầu hết trứng của cả hai loài đều nở ra rùa cái.
D
Sự thiếu hụt một giới tính trong quần thể không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của quần thể.

Câu 5

SỰ XÁC ĐỊNH GIỚI TÍNH Ở RÙA BIỂN

Giới tính của rùa biển được xác định bởi nhiệt độ của môi trường trong khoảng thời gian trứng phát triển. Khi một ổ trứng rùa biển ấp dưới cát, phôi sẽ phát triển trong vòng 45-70 ngày. Thời gian một phần ba giữa của khoảng thời gian này là "giai đoạn nhạy cảm với nhiệt độ", trong đó phôi sẽ phát triển tuyến sinh dục (cơ quan sinh sản). Nhiệt độ ấm hơn trong thời gian này sẽ kích hoạt giải phóng hormone dẫn đến sự phát triển của buồng trứng, trong khi nhiệt độ lạnh hơn sẽ kích hoạt tinh hoàn. Nói cách khác, nhiệt độ ấp ấm hơn tạo ra nhiều rùa biển cái con hơn, và nhiệt độ ấp lạnh hơn tạo ra nhiều rùa biển đực hơn. "Nhiệt độ then chốt" là giá trị nhiệt độ mà trứng nở ra với tỷ lệ hoàn hảo giữa rùa cái và rùa đực là 50%:50%. Sự nóng lên toàn cầu gây ra mối đe dọa tiềm tàng đối với đa dạng sinh học trên toàn thế giới. Nhiệt độ tăng có thể dẫn đến tỷ lệ giới tính bị sai lệch ở nhiều quần thể rùa biển. Sự thiếu hụt một giới tính dẫn đến khó khăn trong việc tìm bạn tình, giảm khả năng sinh sản, suy giảm kích thước quần thể và có thể dẫn đến tuyệt chủng. Trung bình, rùa biển cái giao phối ba năm một lần, dự trữ tinh trùng trong cơ thể chúng trong thời kỳ này, trong khi những con đực cố gắng giao phối hàng năm. Hình bên dưới mô hình hóa ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng trứng nở thành con cái ở hai loài rùa biển.

Theo đồ thị, nhiệt độ then chốt (nơi xác suất nở thành cái = 0,5) của loài b xấp xỉ bao nhiêu °C?

Câu 6

SỰ XÁC ĐỊNH GIỚI TÍNH Ở RÙA BIỂN

Giới tính của rùa biển được xác định bởi nhiệt độ của môi trường trong khoảng thời gian trứng phát triển. Khi một ổ trứng rùa biển ấp dưới cát, phôi sẽ phát triển trong vòng 45-70 ngày. Thời gian một phần ba giữa của khoảng thời gian này là "giai đoạn nhạy cảm với nhiệt độ", trong đó phôi sẽ phát triển tuyến sinh dục (cơ quan sinh sản). Nhiệt độ ấm hơn trong thời gian này sẽ kích hoạt giải phóng hormone dẫn đến sự phát triển của buồng trứng, trong khi nhiệt độ lạnh hơn sẽ kích hoạt tinh hoàn. Nói cách khác, nhiệt độ ấp ấm hơn tạo ra nhiều rùa biển cái con hơn, và nhiệt độ ấp lạnh hơn tạo ra nhiều rùa biển đực hơn. "Nhiệt độ then chốt" là giá trị nhiệt độ mà trứng nở ra với tỷ lệ hoàn hảo giữa rùa cái và rùa đực là 50%:50%. Sự nóng lên toàn cầu gây ra mối đe dọa tiềm tàng đối với đa dạng sinh học trên toàn thế giới. Nhiệt độ tăng có thể dẫn đến tỷ lệ giới tính bị sai lệch ở nhiều quần thể rùa biển. Sự thiếu hụt một giới tính dẫn đến khó khăn trong việc tìm bạn tình, giảm khả năng sinh sản, suy giảm kích thước quần thể và có thể dẫn đến tuyệt chủng. Trung bình, rùa biển cái giao phối ba năm một lần, dự trữ tinh trùng trong cơ thể chúng trong thời kỳ này, trong khi những con đực cố gắng giao phối hàng năm. Hình bên dưới mô hình hóa ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng trứng nở thành con cái ở hai loài rùa biển.

Một ổ trứng của loài a được ấp ở nhiệt độ 30°C, gồm 200 trứng nở thành con. Dựa vào đồ thị, xác suất trứng nở thành con cái ở loài a tại 30°C xấp xỉ 0,5. Hỏi có khoảng bao nhiêu con rùa đực được nở ra từ ổ trứng này?

Câu 7

BỆNH LAO

Bệnh lao do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra giết chết hơn 1 triệu người mỗi năm. Theo thống kê từ trước 2015, một phần ba dân số thế giới hiện đang bị nhiễm M. Tuberculosis, và khoảng 10% trong số này bị bệnh lao. Vòng đời gây bệnh của M. Tuberculosis được thể hiện trong hình dưới đây.

Hình minh họa

Các giai đoạn trong hình thể hiện:

(1) Sự lây nhiễm.

(2) Xâm nhập vào vật chủ mới.

(3) Sự nhân lên trong vách/ ổ "đặc biệt" của phổi.

(4) Nhiễm vào đại thực bào, sau đó đại thực bào bị phá hủy tạo các u hạt.

(5) U hạt bạch huyết phát triển.

(6) U hạt bị hoại tử trung tâm, vi khuẩn lao nhân lên bên ngoài đại thực bào.

Vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể thông qua đường hô hấp, người lành bị lây nhiễm vi khuẩn khi tiếp xúc với người bệnh ho, hắt hơi, khạc nhổ nước bọt, đờm, dịch tiết. Do đó khả năng lây nhiễm bệnh trong cộng đồng là rất lớn. Khả năng mắc bệnh và mức độ nặng nhẹ còn phụ thuộc vào độc tố của vi khuẩn cũng như hệ miễn dịch của người đó. Thông thường bệnh lao sẽ trải qua 2 giai đoạn:

Lao sơ nhiễm: đây là giai đoạn vi khuẩn lao mới bắt đầu xâm nhập lần đầu tiên vào cơ thể. Sau khoảng 2 - 4 tuần xuất hiện các tổn thương dạng hạt và hạt lao điển hình được hình thành. Vi khuẩn khi đó bắt đầu đi đến các mạch máu và các cơ quan của cơ thể.

Lao bệnh: những ổ bệnh của lao sơ nhiễm sẽ tái phát trở lại và gây bệnh lao mắc phải ở người. Vi khuẩn lao phân tán và gây ra các biến chứng nguy hiểm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe.

Người mắc bệnh lao thường có các triệu chứng lâm sàng đặc trưng như ho khan kéo dài, ho có đờm, ho ra máu, thường xuyên cảm thấy đau ngực, khó thở, vã mồ hôi vào ban đêm, cơ thể mệt mỏi, chán ăn và sút cân.

hả năng mắc bệnh lao và mức độ nghiêm trọng của bệnh phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố nào của vi khuẩn và của người bệnh?

A
Độc tố của vi khuẩn – Hệ miễn dịch của người bệnh
B
Số lượng vi khuẩn – Chế độ dinh dưỡng của người bệnh
C
Hệ miễn dịch của vi khuẩn – Độc tố của người bệnh
D
Tốc độ nhân lên của vi khuẩn – Tuổi tác của người bệnh

Câu 8

BỆNH LAO

Bệnh lao do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra giết chết hơn 1 triệu người mỗi năm. Theo thống kê từ trước 2015, một phần ba dân số thế giới hiện đang bị nhiễm M. Tuberculosis, và khoảng 10% trong số này bị bệnh lao. Vòng đời gây bệnh của M. Tuberculosis được thể hiện trong hình dưới đây.

Hình minh họa

Các giai đoạn trong hình thể hiện:

(1) Sự lây nhiễm.

(2) Xâm nhập vào vật chủ mới.

(3) Sự nhân lên trong vách/ ổ "đặc biệt" của phổi.

(4) Nhiễm vào đại thực bào, sau đó đại thực bào bị phá hủy tạo các u hạt.

(5) U hạt bạch huyết phát triển.

(6) U hạt bị hoại tử trung tâm, vi khuẩn lao nhân lên bên ngoài đại thực bào.

Vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể thông qua đường hô hấp, người lành bị lây nhiễm vi khuẩn khi tiếp xúc với người bệnh ho, hắt hơi, khạc nhổ nước bọt, đờm, dịch tiết. Do đó khả năng lây nhiễm bệnh trong cộng đồng là rất lớn. Khả năng mắc bệnh và mức độ nặng nhẹ còn phụ thuộc vào độc tố của vi khuẩn cũng như hệ miễn dịch của người đó. Thông thường bệnh lao sẽ trải qua 2 giai đoạn:

Lao sơ nhiễm: đây là giai đoạn vi khuẩn lao mới bắt đầu xâm nhập lần đầu tiên vào cơ thể. Sau khoảng 2 - 4 tuần xuất hiện các tổn thương dạng hạt và hạt lao điển hình được hình thành. Vi khuẩn khi đó bắt đầu đi đến các mạch máu và các cơ quan của cơ thể.

Lao bệnh: những ổ bệnh của lao sơ nhiễm sẽ tái phát trở lại và gây bệnh lao mắc phải ở người. Vi khuẩn lao phân tán và gây ra các biến chứng nguy hiểm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe.

Người mắc bệnh lao thường có các triệu chứng lâm sàng đặc trưng như ho khan kéo dài, ho có đờm, ho ra máu, thường xuyên cảm thấy đau ngực, khó thở, vã mồ hôi vào ban đêm, cơ thể mệt mỏi, chán ăn và sút cân.

Trong các phát biểu sau về vi khuẩn lao, phát biểu nào chính xác?

A
Người bệnh lao phát tán vi khuẩn ra môi trường qua các giọt bắn nhỏ trong không khí (sol khí)
B
Sự hình thành u hạt là một phản ứng miễn dịch nhằm khu trú và hạn chế sự lan rộng của vi khuẩn lao
C
Việc tăng độ nhạy cảm của thụ thể miễn dịch làm giảm nguy cơ lây nhiễm lao ở giai đoạn sơ nhiễm
D
Vi khuẩn lao chỉ tồn tại và gây bệnh duy nhất ở phổi, không lan sang cơ quan khác

Câu 9

BỆNH LAO

Bệnh lao do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra giết chết hơn 1 triệu người mỗi năm. Theo thống kê từ trước 2015, một phần ba dân số thế giới hiện đang bị nhiễm M. Tuberculosis, và khoảng 10% trong số này bị bệnh lao. Vòng đời gây bệnh của M. Tuberculosis được thể hiện trong hình dưới đây.

Hình minh họa

Các giai đoạn trong hình thể hiện:

(1) Sự lây nhiễm.

(2) Xâm nhập vào vật chủ mới.

(3) Sự nhân lên trong vách/ ổ "đặc biệt" của phổi.

(4) Nhiễm vào đại thực bào, sau đó đại thực bào bị phá hủy tạo các u hạt.

(5) U hạt bạch huyết phát triển.

(6) U hạt bị hoại tử trung tâm, vi khuẩn lao nhân lên bên ngoài đại thực bào.

Vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể thông qua đường hô hấp, người lành bị lây nhiễm vi khuẩn khi tiếp xúc với người bệnh ho, hắt hơi, khạc nhổ nước bọt, đờm, dịch tiết. Do đó khả năng lây nhiễm bệnh trong cộng đồng là rất lớn. Khả năng mắc bệnh và mức độ nặng nhẹ còn phụ thuộc vào độc tố của vi khuẩn cũng như hệ miễn dịch của người đó. Thông thường bệnh lao sẽ trải qua 2 giai đoạn:

Lao sơ nhiễm: đây là giai đoạn vi khuẩn lao mới bắt đầu xâm nhập lần đầu tiên vào cơ thể. Sau khoảng 2 - 4 tuần xuất hiện các tổn thương dạng hạt và hạt lao điển hình được hình thành. Vi khuẩn khi đó bắt đầu đi đến các mạch máu và các cơ quan của cơ thể.

Lao bệnh: những ổ bệnh của lao sơ nhiễm sẽ tái phát trở lại và gây bệnh lao mắc phải ở người. Vi khuẩn lao phân tán và gây ra các biến chứng nguy hiểm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe.

Người mắc bệnh lao thường có các triệu chứng lâm sàng đặc trưng như ho khan kéo dài, ho có đờm, ho ra máu, thường xuyên cảm thấy đau ngực, khó thở, vã mồ hôi vào ban đêm, cơ thể mệt mỏi, chán ăn và sút cân.

Các nhận định sau đây đúng hay sai?

A
Đường hô hấp là con đường duy nhất để vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể người.
B
Tất cả những người bị nhiễm vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis đều sẽ phát triển thành bệnh lao.
C
Sau khi xâm nhập cơ thể, tế bào đầu tiên mà vi khuẩn lao tấn công là tế bào bạch huyết..

Câu 10

BỆNH LAO

Bệnh lao do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra giết chết hơn 1 triệu người mỗi năm. Theo thống kê từ trước 2015, một phần ba dân số thế giới hiện đang bị nhiễm M. Tuberculosis, và khoảng 10% trong số này bị bệnh lao. Vòng đời gây bệnh của M. Tuberculosis được thể hiện trong hình dưới đây.

Hình minh họa

Các giai đoạn trong hình thể hiện:

(1) Sự lây nhiễm.

(2) Xâm nhập vào vật chủ mới.

(3) Sự nhân lên trong vách/ ổ "đặc biệt" của phổi.

(4) Nhiễm vào đại thực bào, sau đó đại thực bào bị phá hủy tạo các u hạt.

(5) U hạt bạch huyết phát triển.

(6) U hạt bị hoại tử trung tâm, vi khuẩn lao nhân lên bên ngoài đại thực bào.

Vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể thông qua đường hô hấp, người lành bị lây nhiễm vi khuẩn khi tiếp xúc với người bệnh ho, hắt hơi, khạc nhổ nước bọt, đờm, dịch tiết. Do đó khả năng lây nhiễm bệnh trong cộng đồng là rất lớn. Khả năng mắc bệnh và mức độ nặng nhẹ còn phụ thuộc vào độc tố của vi khuẩn cũng như hệ miễn dịch của người đó. Thông thường bệnh lao sẽ trải qua 2 giai đoạn:

Lao sơ nhiễm: đây là giai đoạn vi khuẩn lao mới bắt đầu xâm nhập lần đầu tiên vào cơ thể. Sau khoảng 2 - 4 tuần xuất hiện các tổn thương dạng hạt và hạt lao điển hình được hình thành. Vi khuẩn khi đó bắt đầu đi đến các mạch máu và các cơ quan của cơ thể.

Lao bệnh: những ổ bệnh của lao sơ nhiễm sẽ tái phát trở lại và gây bệnh lao mắc phải ở người. Vi khuẩn lao phân tán và gây ra các biến chứng nguy hiểm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe.

Người mắc bệnh lao thường có các triệu chứng lâm sàng đặc trưng như ho khan kéo dài, ho có đờm, ho ra máu, thường xuyên cảm thấy đau ngực, khó thở, vã mồ hôi vào ban đêm, cơ thể mệt mỏi, chán ăn và sút cân.

Vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể người chủ yếu qua con đường nào?

A
Đường tiêu hóa
B
Đường hô hấp
C
Đường máu
D
Đường tiếp xúc qua da

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.

Đăng nhập để làm bài
Đề thi: [9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 14 - Sinh học môn Tư duy khoa học - Sinh học 2027 (Đánh giá Tư duy (TSA)) - 9Study