[9Study] Đề thi thử TSA Môn Sinh học 2027 - Đề số 26

Đánh giá Tư duy (TSA)Môn Tư duy khoa học - Sinh họcNăm 202713 câuChuẩn GDPT mới

Phần I

Câu 1

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 6:

Máu gồm hai thành phần chính là các tế bào máu và huyết tương. Sự có mặt của các kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu và các kháng thể trong huyết tương quyết định sự giống nhau hay khác nhau giữa các cá thể, và quy định các nhóm máu tương ứng: A, B, AB, O. Loại kháng nguyên và kháng thể của từng nhóm máu được thể hiện ở Hình 1.

Hình minh họa

Hình 1. Loại kháng nguyên, kháng thể trong từng nhóm máu

Nguyên tắc truyền máu cơ bản là dựa vào đặc trưng riêng của mỗi nhóm máu, không để kháng nguyên và kháng thể tương ứng gặp nhau trong cơ thể. Vì vậy, việc xác định chính xác nhóm máu trước khi truyền là rất quan trọng. Bên cạnh đó, cần làm thêm phản ứng trộn chéo, tức là trộn huyết thanh của người nhận với hồng cầu của người hiến và trộn huyết thanh của người hiến với hồng cầu của người nhận. Máu chỉ được truyền cho người nhận khi không xảy ra hiện tượng hồng cầu ngưng kết.

Nhóm máu O được gọi là nhóm máu “cho phổ thông”, trong khi nhóm máu AB được gọi là nhóm máu “nhận phổ thông”.

Nếu để lắng hoặc ly tâm một mẫu máu đã chống đông, ta thu được hai phần chính nào?

A
Huyết tương và các tế bào máu.
B
Hồng cầu và tiểu cầu.
C
Huyết tương và hồng cầu.
D
Bạch cầu và tiểu cầu.

Câu 2

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 6:

Máu gồm hai thành phần chính là các tế bào máu và huyết tương. Sự có mặt của các kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu và các kháng thể trong huyết tương quyết định sự giống nhau hay khác nhau giữa các cá thể, và quy định các nhóm máu tương ứng: A, B, AB, O. Loại kháng nguyên và kháng thể của từng nhóm máu được thể hiện ở Hình 1.

Hình minh họa

Hình 1. Loại kháng nguyên, kháng thể trong từng nhóm máu

Nguyên tắc truyền máu cơ bản là dựa vào đặc trưng riêng của mỗi nhóm máu, không để kháng nguyên và kháng thể tương ứng gặp nhau trong cơ thể. Vì vậy, việc xác định chính xác nhóm máu trước khi truyền là rất quan trọng. Bên cạnh đó, cần làm thêm phản ứng trộn chéo, tức là trộn huyết thanh của người nhận với hồng cầu của người hiến và trộn huyết thanh của người hiến với hồng cầu của người nhận. Máu chỉ được truyền cho người nhận khi không xảy ra hiện tượng hồng cầu ngưng kết.

Nhóm máu O được gọi là nhóm máu “cho phổ thông”, trong khi nhóm máu AB được gọi là nhóm máu “nhận phổ thông”.

Người nhóm máu AB được gọi là “nhận phổ thông”. Đặc điểm nào của nhóm máu AB (theo Hình 1) giải thích cho điều đó?

A
Huyết tương không chứa kháng thể A và kháng thể
B
B. Huyết tương chứa cả kháng thể A và kháng thể B.
C
Hồng cầu không mang kháng nguyên nào.
D
Hồng cầu chỉ mang kháng nguyên A.

Câu 3

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 6:

Máu gồm hai thành phần chính là các tế bào máu và huyết tương. Sự có mặt của các kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu và các kháng thể trong huyết tương quyết định sự giống nhau hay khác nhau giữa các cá thể, và quy định các nhóm máu tương ứng: A, B, AB, O. Loại kháng nguyên và kháng thể của từng nhóm máu được thể hiện ở Hình 1.

Hình minh họa

Hình 1. Loại kháng nguyên, kháng thể trong từng nhóm máu

Nguyên tắc truyền máu cơ bản là dựa vào đặc trưng riêng của mỗi nhóm máu, không để kháng nguyên và kháng thể tương ứng gặp nhau trong cơ thể. Vì vậy, việc xác định chính xác nhóm máu trước khi truyền là rất quan trọng. Bên cạnh đó, cần làm thêm phản ứng trộn chéo, tức là trộn huyết thanh của người nhận với hồng cầu của người hiến và trộn huyết thanh của người hiến với hồng cầu của người nhận. Máu chỉ được truyền cho người nhận khi không xảy ra hiện tượng hồng cầu ngưng kết.

Nhóm máu O được gọi là nhóm máu “cho phổ thông”, trong khi nhóm máu AB được gọi là nhóm máu “nhận phổ thông”.

Dựa vào văn bản và Hình 1. Xét tính đúng sai của các khẳng định sau?

A
Kháng thể là một loại tế bào máu có trong huyết tương.
B
Trước khi truyền máu cần làm phản ứng trộn chéo để kiểm tra hồng cầu có bị ngưng kết hay không.
C
Hồng cầu của người nhóm máu O không mang kháng nguyên A và kháng nguyên B.
D
Người nhóm máu AB có thể truyền máu cho tất cả các nhóm máu khác.

Câu 4

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 6:

Máu gồm hai thành phần chính là các tế bào máu và huyết tương. Sự có mặt của các kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu và các kháng thể trong huyết tương quyết định sự giống nhau hay khác nhau giữa các cá thể, và quy định các nhóm máu tương ứng: A, B, AB, O. Loại kháng nguyên và kháng thể của từng nhóm máu được thể hiện ở Hình 1.

Hình minh họa

Hình 1. Loại kháng nguyên, kháng thể trong từng nhóm máu

Nguyên tắc truyền máu cơ bản là dựa vào đặc trưng riêng của mỗi nhóm máu, không để kháng nguyên và kháng thể tương ứng gặp nhau trong cơ thể. Vì vậy, việc xác định chính xác nhóm máu trước khi truyền là rất quan trọng. Bên cạnh đó, cần làm thêm phản ứng trộn chéo, tức là trộn huyết thanh của người nhận với hồng cầu của người hiến và trộn huyết thanh của người hiến với hồng cầu của người nhận. Máu chỉ được truyền cho người nhận khi không xảy ra hiện tượng hồng cầu ngưng kết.

Nhóm máu O được gọi là nhóm máu “cho phổ thông”, trong khi nhóm máu AB được gọi là nhóm máu “nhận phổ thông”.

Người có nhóm máu A có thể nhận máu từ người cùng nhóm là nhóm máu [1]_____ và từ người thuộc nhóm “cho phổ thông” là nhóm máu [2]_____.

A
nhóm máu AB
B
nhóm máu O
C
nhóm máu A
D
nhóm máu B

Câu 5

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 6:

Máu gồm hai thành phần chính là các tế bào máu và huyết tương. Sự có mặt của các kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu và các kháng thể trong huyết tương quyết định sự giống nhau hay khác nhau giữa các cá thể, và quy định các nhóm máu tương ứng: A, B, AB, O. Loại kháng nguyên và kháng thể của từng nhóm máu được thể hiện ở Hình 1.

Hình minh họa

Hình 1. Loại kháng nguyên, kháng thể trong từng nhóm máu

Nguyên tắc truyền máu cơ bản là dựa vào đặc trưng riêng của mỗi nhóm máu, không để kháng nguyên và kháng thể tương ứng gặp nhau trong cơ thể. Vì vậy, việc xác định chính xác nhóm máu trước khi truyền là rất quan trọng. Bên cạnh đó, cần làm thêm phản ứng trộn chéo, tức là trộn huyết thanh của người nhận với hồng cầu của người hiến và trộn huyết thanh của người hiến với hồng cầu của người nhận. Máu chỉ được truyền cho người nhận khi không xảy ra hiện tượng hồng cầu ngưng kết.

Nhóm máu O được gọi là nhóm máu “cho phổ thông”, trong khi nhóm máu AB được gọi là nhóm máu “nhận phổ thông”.

Một bệnh nhân có nhóm máu B cần truyền máu. Theo nguyên tắc ở Hình 1, người này có thể nhận máu từ những nhóm nào?

A
Chỉ nhóm
B
B. Nhóm B và nhóm O.
C
Nhóm A và nhóm B.
D
Cả bốn nhóm A, B, AB, O.

Câu 6

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 6:

Máu gồm hai thành phần chính là các tế bào máu và huyết tương. Sự có mặt của các kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu và các kháng thể trong huyết tương quyết định sự giống nhau hay khác nhau giữa các cá thể, và quy định các nhóm máu tương ứng: A, B, AB, O. Loại kháng nguyên và kháng thể của từng nhóm máu được thể hiện ở Hình 1.

Hình minh họa

Hình 1. Loại kháng nguyên, kháng thể trong từng nhóm máu

Nguyên tắc truyền máu cơ bản là dựa vào đặc trưng riêng của mỗi nhóm máu, không để kháng nguyên và kháng thể tương ứng gặp nhau trong cơ thể. Vì vậy, việc xác định chính xác nhóm máu trước khi truyền là rất quan trọng. Bên cạnh đó, cần làm thêm phản ứng trộn chéo, tức là trộn huyết thanh của người nhận với hồng cầu của người hiến và trộn huyết thanh của người hiến với hồng cầu của người nhận. Máu chỉ được truyền cho người nhận khi không xảy ra hiện tượng hồng cầu ngưng kết.

Nhóm máu O được gọi là nhóm máu “cho phổ thông”, trong khi nhóm máu AB được gọi là nhóm máu “nhận phổ thông”.

Phần dịch trong còn lại khi huyết tương đã loại bỏ các yếu tố gây đông máu (như fibrinogen) được gọi là gì?

(Viết tên một thành phần của máu.)

Câu 7

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 7 đến 13:

Điều hòa hoạt động gen chính là điều hòa lượng sản phẩm do gen tạo ra. Trong mỗi tế bào cơ thể, chẳng hạn tế bào người có khoảng 25.000 gen, nhưng ở mỗi thời điểm chỉ có một số gen hoạt động, phần lớn các gen ở trạng thái không hoạt động hoặc hoạt động rất yếu, để phù hợp với các giai đoạn phát triển của cơ thể hoặc thích ứng với điều kiện môi trường.

Trên phân tử DNA của vi khuẩn, các gen cấu trúc có liên quan về chức năng thường được phân bố liền nhau thành từng cụm có chung một cơ chế điều hòa gọi là một operon. Cấu trúc của một operon Lac gồm vùng vận hành (O), vùng khởi động (P) và các gen cấu trúc Z, Y, A. Ngoài ra còn có gen điều hòa (R) giữ vai trò quan trọng trong điều hòa hoạt động gen nhưng không nằm trong cấu trúc của operon Lac. Cơ chế điều hòa khi môi trường có hoặc không có lactose được thể hiện ở Hình 1 và Hình 2.

Hình minh họa

Hình 1. Sơ đồ hoạt động của các gen trong operon Lac khi môi trường có lactose

Khi có lactose trong môi trường, các phân tử lactose liên kết với protein ức chế, làm biến đổi cấu trúc không gian của protein ức chế khiến nó không bám được vào vùng vận hành. Vì vậy, RNA polymerase liên kết với vùng khởi động để phiên mã tạo ra mRNA của các gen cấu trúc Z, Y, A, rồi dịch mã để trở thành các enzyme phân giải đường lactose.

Hình minh họa

Hình 2. Sơ đồ hoạt động của các gen trong operon Lac khi môi trường không có lactose

Khi môi trường không có lactose, protein ức chế gắn vào vùng vận hành và ngăn cản quá trình phiên mã diễn ra.

Gen điều hòa (R) là một thành phần nằm trong cấu trúc của operon Lac. Phát biểu trên đúng hay sai?

 

A

Đúng

B

Sai

Câu 8

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 7 đến 13:

Điều hòa hoạt động gen chính là điều hòa lượng sản phẩm do gen tạo ra. Trong mỗi tế bào cơ thể, chẳng hạn tế bào người có khoảng 25.000 gen, nhưng ở mỗi thời điểm chỉ có một số gen hoạt động, phần lớn các gen ở trạng thái không hoạt động hoặc hoạt động rất yếu, để phù hợp với các giai đoạn phát triển của cơ thể hoặc thích ứng với điều kiện môi trường.

Trên phân tử DNA của vi khuẩn, các gen cấu trúc có liên quan về chức năng thường được phân bố liền nhau thành từng cụm có chung một cơ chế điều hòa gọi là một operon. Cấu trúc của một operon Lac gồm vùng vận hành (O), vùng khởi động (P) và các gen cấu trúc Z, Y, A. Ngoài ra còn có gen điều hòa (R) giữ vai trò quan trọng trong điều hòa hoạt động gen nhưng không nằm trong cấu trúc của operon Lac. Cơ chế điều hòa khi môi trường có hoặc không có lactose được thể hiện ở Hình 1 và Hình 2.

Hình minh họa

Hình 1. Sơ đồ hoạt động của các gen trong operon Lac khi môi trường có lactose

Khi có lactose trong môi trường, các phân tử lactose liên kết với protein ức chế, làm biến đổi cấu trúc không gian của protein ức chế khiến nó không bám được vào vùng vận hành. Vì vậy, RNA polymerase liên kết với vùng khởi động để phiên mã tạo ra mRNA của các gen cấu trúc Z, Y, A, rồi dịch mã để trở thành các enzyme phân giải đường lactose.

Hình minh họa

Hình 2. Sơ đồ hoạt động của các gen trong operon Lac khi môi trường không có lactose

Khi môi trường không có lactose, protein ức chế gắn vào vùng vận hành và ngăn cản quá trình phiên mã diễn ra.

Khi môi trường có lactose, tác động trực tiếp của lactose lên protein ức chế là gì?

A
Phân hủy hoàn toàn protein ức chế.
B
Làm biến đổi cấu trúc không gian của protein ức chế khiến nó không bám được vào vùng vận hành.
C
Giúp protein ức chế bám chặt hơn vào vùng khởi động.
D
Ngăn gen điều hòa phiên mã tạo ra protein ức chế.

Câu 9

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 7 đến 13:

Điều hòa hoạt động gen chính là điều hòa lượng sản phẩm do gen tạo ra. Trong mỗi tế bào cơ thể, chẳng hạn tế bào người có khoảng 25.000 gen, nhưng ở mỗi thời điểm chỉ có một số gen hoạt động, phần lớn các gen ở trạng thái không hoạt động hoặc hoạt động rất yếu, để phù hợp với các giai đoạn phát triển của cơ thể hoặc thích ứng với điều kiện môi trường.

Trên phân tử DNA của vi khuẩn, các gen cấu trúc có liên quan về chức năng thường được phân bố liền nhau thành từng cụm có chung một cơ chế điều hòa gọi là một operon. Cấu trúc của một operon Lac gồm vùng vận hành (O), vùng khởi động (P) và các gen cấu trúc Z, Y, A. Ngoài ra còn có gen điều hòa (R) giữ vai trò quan trọng trong điều hòa hoạt động gen nhưng không nằm trong cấu trúc của operon Lac. Cơ chế điều hòa khi môi trường có hoặc không có lactose được thể hiện ở Hình 1 và Hình 2.

Hình minh họa

Hình 1. Sơ đồ hoạt động của các gen trong operon Lac khi môi trường có lactose

Khi có lactose trong môi trường, các phân tử lactose liên kết với protein ức chế, làm biến đổi cấu trúc không gian của protein ức chế khiến nó không bám được vào vùng vận hành. Vì vậy, RNA polymerase liên kết với vùng khởi động để phiên mã tạo ra mRNA của các gen cấu trúc Z, Y, A, rồi dịch mã để trở thành các enzyme phân giải đường lactose.

Hình minh họa

Hình 2. Sơ đồ hoạt động của các gen trong operon Lac khi môi trường không có lactose

Khi môi trường không có lactose, protein ức chế gắn vào vùng vận hành và ngăn cản quá trình phiên mã diễn ra.

Vì sao RNA polymerase phiên mã được các gen Z, Y, A khi môi trường có lactose?

A
Vì RNA polymerase bám vào vùng vận hành thay cho protein ức chế.
B
Vì lactose làm protein ức chế không bám được vào vùng vận hành nên không cản trở RNA polymerase.
C
Vì gen điều hòa ngừng hoạt động hoàn toàn.
D
Vì lactose bám vào vùng khởi động và hoạt hóa vùng này.

Câu 10

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 7 đến 13:

Điều hòa hoạt động gen chính là điều hòa lượng sản phẩm do gen tạo ra. Trong mỗi tế bào cơ thể, chẳng hạn tế bào người có khoảng 25.000 gen, nhưng ở mỗi thời điểm chỉ có một số gen hoạt động, phần lớn các gen ở trạng thái không hoạt động hoặc hoạt động rất yếu, để phù hợp với các giai đoạn phát triển của cơ thể hoặc thích ứng với điều kiện môi trường.

Trên phân tử DNA của vi khuẩn, các gen cấu trúc có liên quan về chức năng thường được phân bố liền nhau thành từng cụm có chung một cơ chế điều hòa gọi là một operon. Cấu trúc của một operon Lac gồm vùng vận hành (O), vùng khởi động (P) và các gen cấu trúc Z, Y, A. Ngoài ra còn có gen điều hòa (R) giữ vai trò quan trọng trong điều hòa hoạt động gen nhưng không nằm trong cấu trúc của operon Lac. Cơ chế điều hòa khi môi trường có hoặc không có lactose được thể hiện ở Hình 1 và Hình 2.

Hình minh họa

Hình 1. Sơ đồ hoạt động của các gen trong operon Lac khi môi trường có lactose

Khi có lactose trong môi trường, các phân tử lactose liên kết với protein ức chế, làm biến đổi cấu trúc không gian của protein ức chế khiến nó không bám được vào vùng vận hành. Vì vậy, RNA polymerase liên kết với vùng khởi động để phiên mã tạo ra mRNA của các gen cấu trúc Z, Y, A, rồi dịch mã để trở thành các enzyme phân giải đường lactose.

Hình minh họa

Hình 2. Sơ đồ hoạt động của các gen trong operon Lac khi môi trường không có lactose

Khi môi trường không có lactose, protein ức chế gắn vào vùng vận hành và ngăn cản quá trình phiên mã diễn ra.

Xét một operon Lac khi môi trường có lactose nhưng các enzyme phân giải lactose lại không được tạo ra, do một đột biến duy nhất. Xét tính đúng sai của các nhận định sau?

A
Vùng khởi động (P) của operon bị đột biến nên RNA polymerase không bám vào được.
B
Gen điều hòa (R) bị đột biến nên không tạo được protein ức chế.
C
Gen R bị đột biến làm protein ức chế không liên kết được với lactose nên luôn bám vào vùng vận hành.
D
Vùng vận hành (O) bị mất hoàn toàn nên protein ức chế không bám vào được.

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem trọn đề và nhận kết quả chi tiết.

Đăng nhập để làm bài
Đề thi: [9Study] Đề thi thử TSA Môn Sinh học 2027 - Đề số 26 môn Tư duy khoa học - Sinh học 2027 (Đánh giá Tư duy (TSA)) - 9Study