Đáp án & lời giải chi tiết: Đề thi tự luyện - Đề số 15 - Tư duy Đọc hiểu

Đánh giá Tư duy (TSA)18 câuChuẩn GDPT mới

Tư duy Đọc hiểu

Câu 1

 

Thế giới liệu có hết vàng

[1] Vàng là một kim loại quý hiếm và gắn liền với sự giàu có, thịnh vượng trong hàng ngàn năm. Ngay từ đầu, vàng đã hấp dẫn các nền văn minh trên toàn thế giới và những nền văn minh đó hoàn toàn chưa từng tiếp xúc với nhau. Kể từ khi được phát hiện, vàng đã được xem là một biểu tượng của vẻ đẹp, quyền lực, sự thuần khiết và thành tựu. Vẻ đẹp tự nhiên của vàng không chỉ khiến nó trở nên quý giá một cách bí ẩn mà còn có thể là kim loại hữu ích nhất trên thế giới. Vàng là một trong những nguyên tố hóa học ít phản ứng nhất, dễ uốn, dẻo, chống ăn mòn và có thể dẫn điện nên nó có rất nhiều công dụng. Ngoài được sử dụng làm đồ trang sức, đúc tiền và các nghệ thuật khác, kim loại này được dùng trong việc che chắn tia hồng ngoại, sản xuất kính màu, dát vàng và phục hồi răng, …

[2] Theo số liệu của Trading Economics tính đến tháng 12/2021, Mỹ vẫn là cái tên đứng đầu trong danh sách 10 nước có dự trữ vàng lớn nhất, với 8133 tấn, nhiều hơn cả Đức và Italy cộng lại. Mỹ cũng có tỉ lệ phân bổ vàng cao nhất theo tỉ lệ phần trăm trong dự trữ ngoại hối của mình, ở mức 76%. Nga là nước mua vàng lớn nhất trong 7 năm qua. Chỉ tính riêng năm 2018, Nga đã mua tới 274 tấn vàng. Trong khi đó, Trung Quốc là quốc gia sản xuất hàng đầu, chiếm 11% sản lượng khai thác toàn cầu, tương đương 380 tấn. Đứng thứ hai là Nga với sản lượng 329,5 tấn và Australia đứng thứ ba với 325,1 tấn.

[3] Tương tự như cách các nhà đầu tư tư nhân sử dụng vàng để bảo hiểm, các ngân hàng trung ương cũng vậy. Trong báo cáo tháng 10/2019, Ngân hàng Hà Lan (DNB) viết: “Cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác đều chứa rủi ro. Khi có vấn đề xảy ra, giá của chúng có thể giảm. Tuy nhiên, vàng - dù khủng hoảng hay không - vẫn luôn giữ được giá trị và là mỏ neo tin cậy cho hệ thống tài chính. Nếu toàn bộ nền tảng sụp đổ, số vàng dự trữ có thể đóng cấp một tài sản thế chấp để bắt đầu xây dựng lại. Vàng tạo niềm tin vào sức mạnh của bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương. Điều đó mang lại cảm giác an toàn”.

[4] Mặc dù không còn được sử dụng như một hình thức tiền tệ chính ở các nước phát triển, kim loại màu vàng này vẫn có mối quan hệ mật thiết đến giá trị của các loại tiền tệ đó. Thứ nhất, vàng được sử dụng để sao lưu tiền tệ. Kể cả sau khi chế độ bản vị vàng bị loại bỏ, các quốc gia vẫn không để dự trữ pháp định(2). Các nước phải có một lượng vàng trong kho dự trữ để bảo đảm cho tiền giấy được lưu thông. Mặc dù bản vị vàng đã không còn tồn tại lâu ở các nước phát triển, một số nền kinh tế cho rằng chế độ này nên được áp dụng lại do sự biến động của đồng đô la Mỹ. Thứ hai, vàng gắn liền với số lượng tiền mà các quốc gia được phép phát hành. Thứ hai, vàng được sử dụng để chống lại lạm phát. Nhu cầu về vàng tăng lên trong thời kì lạm phát do giá trị vốn có của nó và nguồn cung hạn chế.

[5] So với các hình thức tiền tệ khác, vàng có khả năng giữ giá trị tốt hơn, do đó thường được coi là phương tiện bảo vệ giá trị tài sản trong thời kì lạm phát. Tuy nhiên, theo trưởng bộ phận nghiên cứu của Boost ETP, Viktor Nossek, nhận định này là sai lầm. Ông cho rằng vàng thực chất hay tác động như một đồng tiền giảm phát, tức sức mua của đồng tiền lớn trong khi giá tiêu dùng giảm. “Trước kia chúng ta thường nói lòng tin tiền tệ hiện nay và lịch sử của vàng vốn gắn liền với vai trò ngăn lạm phát chỉ dựa vào những lần xảy ra những năm 70 và 80 khi có sự sụt giảm niềm tin vào đồng tiền”, ông Nossek nói năm 2013.

[6] Với tầm tối quan trọng của vàng đối với nền kinh tế các quốc gia và nền kinh tế thế giới nói chung, một vấn đề lo lắng được đặt ra: Điều gì xảy ra nếu dự trữ vàng cạn kiệt? Trên thực tế, nguồn trữ vàng có kết, trong khi đó, nhu cầu về vàng lại có nguy cơ bị cạn kiệt, trong khi tốc độ khai thác không tăng mấy lên. Trong suốt lịch sử, tổng cộng khoảng 201296 tấn vàng được khai thác và ước tính gần đây nhất vào năm 2020 cho rằng 53000 tấn vàng vẫn còn trong trữ lượng dưới lòng đất, trong khi một số nguồn cho con số đó là khoảng 63000 tấn. Vào cuối năm 2020, nhiều tổ chức dự báo trữ lượng vàng dưới lòng đất sẽ cạn kiệt trong 18 năm tới, khi đó phát hiện được những mỏ vàng mới.

[7] Xu hướng mua ròng vàng đã diễn ra trong 12 năm liên tiếp. Các ngân hàng trung ương của các nước phát triển vẫn mở rộng dự trữ vàng. Tỉ lệ dân số đầu tư vào lượng vàng nắm giữ - nhiều hơn 82% so với năm 2020 trong khi nền kinh tế toàn cầu lún sâu vào suy thoái nặng nhất trong 30 năm. Chia sẻ trên tạp chí Barons (Mỹ), ông Geetesh Bhardwaj, trưởng nhóm nghiên cứu của Công ty Quản lý đầu tư Summer Haven, cho biết: “Những diễn biến gần đây trên thị trường vàng, trái ngược với các tài sản rủi ro, là một cơ hội hoàn hảo khiến các nhà đầu tư cần phải gia tăng nắm giữ như một nơi trú ẩn an toàn”. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo các nhà đầu tư: “Bất cứ ai nghĩ đến việc mua vào lúc này hay vài tháng tiếp theo sẽ phải đối mặt với những cú sốc giá gây gánh nợ với chính mình, do giá vàng đã đột ngột vọt lên mức đỉnh mới và đã có một số dấu hiệu cho sự kiện địa chính trị”.

[1] chế độ bản vị vàng: hệ thống sử dụng vàng làm tiêu chuẩn phát hành và quy đổi tiền tệ

[2] tiền pháp định: Tiền không được đảm bảo bởi tài sản vật lí, thay vào đó được đảm bảo bởi chính phủ trên cơ sở pháp luật.

Theo Haru, Chuyện của vàng, báo Dân Trí

 

Trong đoạn [1], tính chất nào dưới đây của vàng được đề cập tới?
A

Dễ có phản ứng mạnh với các hóa chất khác.

B

Khả năng dẫn điện tốt, dẻo và khó bị oxi hóa.

C

Khả năng chịu lực và nhiệt cao.

D

Có chất từ tính mạnh.

Lời giải

Bước 1: Tìm thông tin trong đoạn [1]

Đoạn [1] nêu vàng là kim loại ít phản ứng, dễ uốn, dẻo, chống ăn mòn và có thể dẫn điện.

Bước 2: Đối chiếu phương án

Chọn B vì diễn đạt đúng các tính chất vàng dẫn điện, dẻo và khó bị oxi hóa; A trái ngược với đặc điểm ít phản ứng, còn C và D không được đề cập.

Đáp án: B — Đoạn [1] nêu vàng có khả năng dẫn điện, dẻo và chống ăn mòn, tương ứng với đặc điểm khó bị oxi hóa.

Câu 2

 

Thế giới liệu có hết vàng

[1] Vàng là một kim loại quý hiếm và gắn liền với sự giàu có, thịnh vượng trong hàng ngàn năm. Ngay từ đầu, vàng đã hấp dẫn các nền văn minh trên toàn thế giới và những nền văn minh đó hoàn toàn chưa từng tiếp xúc với nhau. Kể từ khi được phát hiện, vàng đã được xem là một biểu tượng của vẻ đẹp, quyền lực, sự thuần khiết và thành tựu. Vẻ đẹp tự nhiên của vàng không chỉ khiến nó trở nên quý giá một cách bí ẩn mà còn có thể là kim loại hữu ích nhất trên thế giới. Vàng là một trong những nguyên tố hóa học ít phản ứng nhất, dễ uốn, dẻo, chống ăn mòn và có thể dẫn điện nên nó có rất nhiều công dụng. Ngoài được sử dụng làm đồ trang sức, đúc tiền và các nghệ thuật khác, kim loại này được dùng trong việc che chắn tia hồng ngoại, sản xuất kính màu, dát vàng và phục hồi răng, …

[2] Theo số liệu của Trading Economics tính đến tháng 12/2021, Mỹ vẫn là cái tên đứng đầu trong danh sách 10 nước có dự trữ vàng lớn nhất, với 8133 tấn, nhiều hơn cả Đức và Italy cộng lại. Mỹ cũng có tỉ lệ phân bổ vàng cao nhất theo tỉ lệ phần trăm trong dự trữ ngoại hối của mình, ở mức 76%. Nga là nước mua vàng lớn nhất trong 7 năm qua. Chỉ tính riêng năm 2018, Nga đã mua tới 274 tấn vàng. Trong khi đó, Trung Quốc là quốc gia sản xuất hàng đầu, chiếm 11% sản lượng khai thác toàn cầu, tương đương 380 tấn. Đứng thứ hai là Nga với sản lượng 329,5 tấn và Australia đứng thứ ba với 325,1 tấn.

[3] Tương tự như cách các nhà đầu tư tư nhân sử dụng vàng để bảo hiểm, các ngân hàng trung ương cũng vậy. Trong báo cáo tháng 10/2019, Ngân hàng Hà Lan (DNB) viết: “Cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác đều chứa rủi ro. Khi có vấn đề xảy ra, giá của chúng có thể giảm. Tuy nhiên, vàng - dù khủng hoảng hay không - vẫn luôn giữ được giá trị và là mỏ neo tin cậy cho hệ thống tài chính. Nếu toàn bộ nền tảng sụp đổ, số vàng dự trữ có thể đóng cấp một tài sản thế chấp để bắt đầu xây dựng lại. Vàng tạo niềm tin vào sức mạnh của bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương. Điều đó mang lại cảm giác an toàn”.

[4] Mặc dù không còn được sử dụng như một hình thức tiền tệ chính ở các nước phát triển, kim loại màu vàng này vẫn có mối quan hệ mật thiết đến giá trị của các loại tiền tệ đó. Thứ nhất, vàng được sử dụng để sao lưu tiền tệ. Kể cả sau khi chế độ bản vị vàng bị loại bỏ, các quốc gia vẫn không để dự trữ pháp định(2). Các nước phải có một lượng vàng trong kho dự trữ để bảo đảm cho tiền giấy được lưu thông. Mặc dù bản vị vàng đã không còn tồn tại lâu ở các nước phát triển, một số nền kinh tế cho rằng chế độ này nên được áp dụng lại do sự biến động của đồng đô la Mỹ. Thứ hai, vàng gắn liền với số lượng tiền mà các quốc gia được phép phát hành. Thứ hai, vàng được sử dụng để chống lại lạm phát. Nhu cầu về vàng tăng lên trong thời kì lạm phát do giá trị vốn có của nó và nguồn cung hạn chế.

[5] So với các hình thức tiền tệ khác, vàng có khả năng giữ giá trị tốt hơn, do đó thường được coi là phương tiện bảo vệ giá trị tài sản trong thời kì lạm phát. Tuy nhiên, theo trưởng bộ phận nghiên cứu của Boost ETP, Viktor Nossek, nhận định này là sai lầm. Ông cho rằng vàng thực chất hay tác động như một đồng tiền giảm phát, tức sức mua của đồng tiền lớn trong khi giá tiêu dùng giảm. “Trước kia chúng ta thường nói lòng tin tiền tệ hiện nay và lịch sử của vàng vốn gắn liền với vai trò ngăn lạm phát chỉ dựa vào những lần xảy ra những năm 70 và 80 khi có sự sụt giảm niềm tin vào đồng tiền”, ông Nossek nói năm 2013.

[6] Với tầm tối quan trọng của vàng đối với nền kinh tế các quốc gia và nền kinh tế thế giới nói chung, một vấn đề lo lắng được đặt ra: Điều gì xảy ra nếu dự trữ vàng cạn kiệt? Trên thực tế, nguồn trữ vàng có kết, trong khi đó, nhu cầu về vàng lại có nguy cơ bị cạn kiệt, trong khi tốc độ khai thác không tăng mấy lên. Trong suốt lịch sử, tổng cộng khoảng 201296 tấn vàng được khai thác và ước tính gần đây nhất vào năm 2020 cho rằng 53000 tấn vàng vẫn còn trong trữ lượng dưới lòng đất, trong khi một số nguồn cho con số đó là khoảng 63000 tấn. Vào cuối năm 2020, nhiều tổ chức dự báo trữ lượng vàng dưới lòng đất sẽ cạn kiệt trong 18 năm tới, khi đó phát hiện được những mỏ vàng mới.

[7] Xu hướng mua ròng vàng đã diễn ra trong 12 năm liên tiếp. Các ngân hàng trung ương của các nước phát triển vẫn mở rộng dự trữ vàng. Tỉ lệ dân số đầu tư vào lượng vàng nắm giữ - nhiều hơn 82% so với năm 2020 trong khi nền kinh tế toàn cầu lún sâu vào suy thoái nặng nhất trong 30 năm. Chia sẻ trên tạp chí Barons (Mỹ), ông Geetesh Bhardwaj, trưởng nhóm nghiên cứu của Công ty Quản lý đầu tư Summer Haven, cho biết: “Những diễn biến gần đây trên thị trường vàng, trái ngược với các tài sản rủi ro, là một cơ hội hoàn hảo khiến các nhà đầu tư cần phải gia tăng nắm giữ như một nơi trú ẩn an toàn”. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo các nhà đầu tư: “Bất cứ ai nghĩ đến việc mua vào lúc này hay vài tháng tiếp theo sẽ phải đối mặt với những cú sốc giá gây gánh nợ với chính mình, do giá vàng đã đột ngột vọt lên mức đỉnh mới và đã có một số dấu hiệu cho sự kiện địa chính trị”.

[1] chế độ bản vị vàng: hệ thống sử dụng vàng làm tiêu chuẩn phát hành và quy đổi tiền tệ

[2] tiền pháp định: Tiền không được đảm bảo bởi tài sản vật lí, thay vào đó được đảm bảo bởi chính phủ trên cơ sở pháp luật.

Theo Haru, Chuyện của vàng, báo Dân Trí

 

Trong đoạn [2], những điều nào dưới đây là đúng về tình hình dự trữ vàng của Mỹ và các quốc gia khác?

A

Mỹ có dự trữ vàng lớn hơn cả Đức và Italy cộng lại.

B

Nga là nước có dự trữ vàng cao nhất trong số các nước mới nổi.

C

Mỹ có tỷ lệ phân bổ vàng trong dự trữ ngoại hối cao nhất thế giới.

D

Trung Quốc đứng thứ hai về lượng dữ trữ vàng sau Mỹ.

Lời giải

Bước 1: Xác định dự trữ của Mỹ

Đoạn văn khẳng định Mỹ có tấn vàng, nhiều hơn Đức và Italy cộng lại.

Bước 2: Xác định tỷ lệ phân bổ

Mỹ có tỷ lệ phân bổ vàng trong dự trữ ngoại hối cao nhất, ở mức .

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn A, C. B sai vì Nga được nêu là nước mua vàng lớn nhất, không phải dự trữ cao nhất; D sai vì Trung Quốc đứng đầu về sản lượng khai thác, không phải đứng thứ hai về dự trữ.

Đáp án: A, C — Mỹ có tấn vàng, hơn Đức và Italy cộng lại, đồng thời có tỷ lệ phân bổ vàng cao nhất là .

Câu 3

 

Thế giới liệu có hết vàng

[1] Vàng là một kim loại quý hiếm và gắn liền với sự giàu có, thịnh vượng trong hàng ngàn năm. Ngay từ đầu, vàng đã hấp dẫn các nền văn minh trên toàn thế giới và những nền văn minh đó hoàn toàn chưa từng tiếp xúc với nhau. Kể từ khi được phát hiện, vàng đã được xem là một biểu tượng của vẻ đẹp, quyền lực, sự thuần khiết và thành tựu. Vẻ đẹp tự nhiên của vàng không chỉ khiến nó trở nên quý giá một cách bí ẩn mà còn có thể là kim loại hữu ích nhất trên thế giới. Vàng là một trong những nguyên tố hóa học ít phản ứng nhất, dễ uốn, dẻo, chống ăn mòn và có thể dẫn điện nên nó có rất nhiều công dụng. Ngoài được sử dụng làm đồ trang sức, đúc tiền và các nghệ thuật khác, kim loại này được dùng trong việc che chắn tia hồng ngoại, sản xuất kính màu, dát vàng và phục hồi răng, …

[2] Theo số liệu của Trading Economics tính đến tháng 12/2021, Mỹ vẫn là cái tên đứng đầu trong danh sách 10 nước có dự trữ vàng lớn nhất, với 8133 tấn, nhiều hơn cả Đức và Italy cộng lại. Mỹ cũng có tỉ lệ phân bổ vàng cao nhất theo tỉ lệ phần trăm trong dự trữ ngoại hối của mình, ở mức 76%. Nga là nước mua vàng lớn nhất trong 7 năm qua. Chỉ tính riêng năm 2018, Nga đã mua tới 274 tấn vàng. Trong khi đó, Trung Quốc là quốc gia sản xuất hàng đầu, chiếm 11% sản lượng khai thác toàn cầu, tương đương 380 tấn. Đứng thứ hai là Nga với sản lượng 329,5 tấn và Australia đứng thứ ba với 325,1 tấn.

[3] Tương tự như cách các nhà đầu tư tư nhân sử dụng vàng để bảo hiểm, các ngân hàng trung ương cũng vậy. Trong báo cáo tháng 10/2019, Ngân hàng Hà Lan (DNB) viết: “Cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác đều chứa rủi ro. Khi có vấn đề xảy ra, giá của chúng có thể giảm. Tuy nhiên, vàng - dù khủng hoảng hay không - vẫn luôn giữ được giá trị và là mỏ neo tin cậy cho hệ thống tài chính. Nếu toàn bộ nền tảng sụp đổ, số vàng dự trữ có thể đóng cấp một tài sản thế chấp để bắt đầu xây dựng lại. Vàng tạo niềm tin vào sức mạnh của bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương. Điều đó mang lại cảm giác an toàn”.

[4] Mặc dù không còn được sử dụng như một hình thức tiền tệ chính ở các nước phát triển, kim loại màu vàng này vẫn có mối quan hệ mật thiết đến giá trị của các loại tiền tệ đó. Thứ nhất, vàng được sử dụng để sao lưu tiền tệ. Kể cả sau khi chế độ bản vị vàng bị loại bỏ, các quốc gia vẫn không để dự trữ pháp định(2). Các nước phải có một lượng vàng trong kho dự trữ để bảo đảm cho tiền giấy được lưu thông. Mặc dù bản vị vàng đã không còn tồn tại lâu ở các nước phát triển, một số nền kinh tế cho rằng chế độ này nên được áp dụng lại do sự biến động của đồng đô la Mỹ. Thứ hai, vàng gắn liền với số lượng tiền mà các quốc gia được phép phát hành. Thứ hai, vàng được sử dụng để chống lại lạm phát. Nhu cầu về vàng tăng lên trong thời kì lạm phát do giá trị vốn có của nó và nguồn cung hạn chế.

[5] So với các hình thức tiền tệ khác, vàng có khả năng giữ giá trị tốt hơn, do đó thường được coi là phương tiện bảo vệ giá trị tài sản trong thời kì lạm phát. Tuy nhiên, theo trưởng bộ phận nghiên cứu của Boost ETP, Viktor Nossek, nhận định này là sai lầm. Ông cho rằng vàng thực chất hay tác động như một đồng tiền giảm phát, tức sức mua của đồng tiền lớn trong khi giá tiêu dùng giảm. “Trước kia chúng ta thường nói lòng tin tiền tệ hiện nay và lịch sử của vàng vốn gắn liền với vai trò ngăn lạm phát chỉ dựa vào những lần xảy ra những năm 70 và 80 khi có sự sụt giảm niềm tin vào đồng tiền”, ông Nossek nói năm 2013.

[6] Với tầm tối quan trọng của vàng đối với nền kinh tế các quốc gia và nền kinh tế thế giới nói chung, một vấn đề lo lắng được đặt ra: Điều gì xảy ra nếu dự trữ vàng cạn kiệt? Trên thực tế, nguồn trữ vàng có kết, trong khi đó, nhu cầu về vàng lại có nguy cơ bị cạn kiệt, trong khi tốc độ khai thác không tăng mấy lên. Trong suốt lịch sử, tổng cộng khoảng 201296 tấn vàng được khai thác và ước tính gần đây nhất vào năm 2020 cho rằng 53000 tấn vàng vẫn còn trong trữ lượng dưới lòng đất, trong khi một số nguồn cho con số đó là khoảng 63000 tấn. Vào cuối năm 2020, nhiều tổ chức dự báo trữ lượng vàng dưới lòng đất sẽ cạn kiệt trong 18 năm tới, khi đó phát hiện được những mỏ vàng mới.

[7] Xu hướng mua ròng vàng đã diễn ra trong 12 năm liên tiếp. Các ngân hàng trung ương của các nước phát triển vẫn mở rộng dự trữ vàng. Tỉ lệ dân số đầu tư vào lượng vàng nắm giữ - nhiều hơn 82% so với năm 2020 trong khi nền kinh tế toàn cầu lún sâu vào suy thoái nặng nhất trong 30 năm. Chia sẻ trên tạp chí Barons (Mỹ), ông Geetesh Bhardwaj, trưởng nhóm nghiên cứu của Công ty Quản lý đầu tư Summer Haven, cho biết: “Những diễn biến gần đây trên thị trường vàng, trái ngược với các tài sản rủi ro, là một cơ hội hoàn hảo khiến các nhà đầu tư cần phải gia tăng nắm giữ như một nơi trú ẩn an toàn”. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo các nhà đầu tư: “Bất cứ ai nghĩ đến việc mua vào lúc này hay vài tháng tiếp theo sẽ phải đối mặt với những cú sốc giá gây gánh nợ với chính mình, do giá vàng đã đột ngột vọt lên mức đỉnh mới và đã có một số dấu hiệu cho sự kiện địa chính trị”.

[1] chế độ bản vị vàng: hệ thống sử dụng vàng làm tiêu chuẩn phát hành và quy đổi tiền tệ

[2] tiền pháp định: Tiền không được đảm bảo bởi tài sản vật lí, thay vào đó được đảm bảo bởi chính phủ trên cơ sở pháp luật.

Theo Haru, Chuyện của vàng, báo Dân Trí

 

Hãy điền một cụm từ không quá hai tiếng trong văn bản để hoàn thành nhận định sau:

Vàng đóng vai trò như một [[____]] cho nền tài chính của một quốc gia, bảo về giá trị tài sản của các thành phần kinh tế và cho phép khả năng phục hồi trong trường hợp hệ thống [[____]].

Đáp án đúng: mỏ neo; sụp đổ

Lời giải

Bước 1: Tìm vai trò của vàng

Đoạn 3 gọi vàng là “mỏ neo tin cậy cho hệ thống tài chính”.

Cụm phù hợp với vai trò bảo vệ nền tài chính là “mỏ neo”.

Bước 2: Tìm điều kiện phục hồi

Văn bản nêu: “Nếu toàn bộ nền tảng sụp đổ”, vàng có thể giúp xây dựng lại.

Vì vậy, cụm từ thứ hai là “sụp đổ”.

Bước 3: Đối chiếu đáp án

Hai cụm đều xuất hiện nguyên văn và phù hợp hoàn toàn với ngữ cảnh.

Điền theo đúng thứ tự: “mỏ neo; sụp đổ”.

Đáp án: mỏ neo; sụp đổ — văn bản xác định vàng là mỏ neo tài chính và đề cập khả năng hệ thống sụp đổ.

Câu 4

 

Thế giới liệu có hết vàng

[1] Vàng là một kim loại quý hiếm và gắn liền với sự giàu có, thịnh vượng trong hàng ngàn năm. Ngay từ đầu, vàng đã hấp dẫn các nền văn minh trên toàn thế giới và những nền văn minh đó hoàn toàn chưa từng tiếp xúc với nhau. Kể từ khi được phát hiện, vàng đã được xem là một biểu tượng của vẻ đẹp, quyền lực, sự thuần khiết và thành tựu. Vẻ đẹp tự nhiên của vàng không chỉ khiến nó trở nên quý giá một cách bí ẩn mà còn có thể là kim loại hữu ích nhất trên thế giới. Vàng là một trong những nguyên tố hóa học ít phản ứng nhất, dễ uốn, dẻo, chống ăn mòn và có thể dẫn điện nên nó có rất nhiều công dụng. Ngoài được sử dụng làm đồ trang sức, đúc tiền và các nghệ thuật khác, kim loại này được dùng trong việc che chắn tia hồng ngoại, sản xuất kính màu, dát vàng và phục hồi răng, …

[2] Theo số liệu của Trading Economics tính đến tháng 12/2021, Mỹ vẫn là cái tên đứng đầu trong danh sách 10 nước có dự trữ vàng lớn nhất, với 8133 tấn, nhiều hơn cả Đức và Italy cộng lại. Mỹ cũng có tỉ lệ phân bổ vàng cao nhất theo tỉ lệ phần trăm trong dự trữ ngoại hối của mình, ở mức 76%. Nga là nước mua vàng lớn nhất trong 7 năm qua. Chỉ tính riêng năm 2018, Nga đã mua tới 274 tấn vàng. Trong khi đó, Trung Quốc là quốc gia sản xuất hàng đầu, chiếm 11% sản lượng khai thác toàn cầu, tương đương 380 tấn. Đứng thứ hai là Nga với sản lượng 329,5 tấn và Australia đứng thứ ba với 325,1 tấn.

[3] Tương tự như cách các nhà đầu tư tư nhân sử dụng vàng để bảo hiểm, các ngân hàng trung ương cũng vậy. Trong báo cáo tháng 10/2019, Ngân hàng Hà Lan (DNB) viết: “Cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác đều chứa rủi ro. Khi có vấn đề xảy ra, giá của chúng có thể giảm. Tuy nhiên, vàng - dù khủng hoảng hay không - vẫn luôn giữ được giá trị và là mỏ neo tin cậy cho hệ thống tài chính. Nếu toàn bộ nền tảng sụp đổ, số vàng dự trữ có thể đóng cấp một tài sản thế chấp để bắt đầu xây dựng lại. Vàng tạo niềm tin vào sức mạnh của bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương. Điều đó mang lại cảm giác an toàn”.

[4] Mặc dù không còn được sử dụng như một hình thức tiền tệ chính ở các nước phát triển, kim loại màu vàng này vẫn có mối quan hệ mật thiết đến giá trị của các loại tiền tệ đó. Thứ nhất, vàng được sử dụng để sao lưu tiền tệ. Kể cả sau khi chế độ bản vị vàng bị loại bỏ, các quốc gia vẫn không để dự trữ pháp định(2). Các nước phải có một lượng vàng trong kho dự trữ để bảo đảm cho tiền giấy được lưu thông. Mặc dù bản vị vàng đã không còn tồn tại lâu ở các nước phát triển, một số nền kinh tế cho rằng chế độ này nên được áp dụng lại do sự biến động của đồng đô la Mỹ. Thứ hai, vàng gắn liền với số lượng tiền mà các quốc gia được phép phát hành. Thứ hai, vàng được sử dụng để chống lại lạm phát. Nhu cầu về vàng tăng lên trong thời kì lạm phát do giá trị vốn có của nó và nguồn cung hạn chế.

[5] So với các hình thức tiền tệ khác, vàng có khả năng giữ giá trị tốt hơn, do đó thường được coi là phương tiện bảo vệ giá trị tài sản trong thời kì lạm phát. Tuy nhiên, theo trưởng bộ phận nghiên cứu của Boost ETP, Viktor Nossek, nhận định này là sai lầm. Ông cho rằng vàng thực chất hay tác động như một đồng tiền giảm phát, tức sức mua của đồng tiền lớn trong khi giá tiêu dùng giảm. “Trước kia chúng ta thường nói lòng tin tiền tệ hiện nay và lịch sử của vàng vốn gắn liền với vai trò ngăn lạm phát chỉ dựa vào những lần xảy ra những năm 70 và 80 khi có sự sụt giảm niềm tin vào đồng tiền”, ông Nossek nói năm 2013.

[6] Với tầm tối quan trọng của vàng đối với nền kinh tế các quốc gia và nền kinh tế thế giới nói chung, một vấn đề lo lắng được đặt ra: Điều gì xảy ra nếu dự trữ vàng cạn kiệt? Trên thực tế, nguồn trữ vàng có kết, trong khi đó, nhu cầu về vàng lại có nguy cơ bị cạn kiệt, trong khi tốc độ khai thác không tăng mấy lên. Trong suốt lịch sử, tổng cộng khoảng 201296 tấn vàng được khai thác và ước tính gần đây nhất vào năm 2020 cho rằng 53000 tấn vàng vẫn còn trong trữ lượng dưới lòng đất, trong khi một số nguồn cho con số đó là khoảng 63000 tấn. Vào cuối năm 2020, nhiều tổ chức dự báo trữ lượng vàng dưới lòng đất sẽ cạn kiệt trong 18 năm tới, khi đó phát hiện được những mỏ vàng mới.

[7] Xu hướng mua ròng vàng đã diễn ra trong 12 năm liên tiếp. Các ngân hàng trung ương của các nước phát triển vẫn mở rộng dự trữ vàng. Tỉ lệ dân số đầu tư vào lượng vàng nắm giữ - nhiều hơn 82% so với năm 2020 trong khi nền kinh tế toàn cầu lún sâu vào suy thoái nặng nhất trong 30 năm. Chia sẻ trên tạp chí Barons (Mỹ), ông Geetesh Bhardwaj, trưởng nhóm nghiên cứu của Công ty Quản lý đầu tư Summer Haven, cho biết: “Những diễn biến gần đây trên thị trường vàng, trái ngược với các tài sản rủi ro, là một cơ hội hoàn hảo khiến các nhà đầu tư cần phải gia tăng nắm giữ như một nơi trú ẩn an toàn”. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo các nhà đầu tư: “Bất cứ ai nghĩ đến việc mua vào lúc này hay vài tháng tiếp theo sẽ phải đối mặt với những cú sốc giá gây gánh nợ với chính mình, do giá vàng đã đột ngột vọt lên mức đỉnh mới và đã có một số dấu hiệu cho sự kiện địa chính trị”.

[1] chế độ bản vị vàng: hệ thống sử dụng vàng làm tiêu chuẩn phát hành và quy đổi tiền tệ

[2] tiền pháp định: Tiền không được đảm bảo bởi tài sản vật lí, thay vào đó được đảm bảo bởi chính phủ trên cơ sở pháp luật.

Theo Haru, Chuyện của vàng, báo Dân Trí

 

Mục đích chính của tác giả khi viết đoạn [3] là gì?
A

So sánh vàng với các tài sản khác như cổ phiếu và trái phiếu.

B

Khả năng dẫn điện tốt, dẻo và khó bị oxi hóa.

C

Khả năng chịu lực và nhiệt cao.

D

Có chất từ tính mạnh.

Lời giải

Bước 1: Xác định nội dung đoạn

Đoạn [3] khẳng định vàng vẫn giữ giá trị khi các tài sản khác biến động.

Vàng được xem là mỏ neo tin cậy, tạo cảm giác an toàn cho hệ thống tài chính.

Bước 2: Khái quát mục đích

Tác giả hướng đến việc nhấn mạnh những đặc tính giúp vàng bền vững và đáng tin cậy.

Đây là cơ sở để vàng được dùng bảo đảm tài sản và hệ thống tài chính.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn B vì nêu các đặc tính cốt lõi làm nên giá trị và độ bền của vàng.

A chỉ nói đến sự so sánh; C và D không được đoạn văn đề cập.

Đáp án: B — Đoạn văn nhấn mạnh các đặc tính khiến vàng bền vững, giữ giá trị và tạo niềm tin.

Câu 5

 

Thế giới liệu có hết vàng

[1] Vàng là một kim loại quý hiếm và gắn liền với sự giàu có, thịnh vượng trong hàng ngàn năm. Ngay từ đầu, vàng đã hấp dẫn các nền văn minh trên toàn thế giới và những nền văn minh đó hoàn toàn chưa từng tiếp xúc với nhau. Kể từ khi được phát hiện, vàng đã được xem là một biểu tượng của vẻ đẹp, quyền lực, sự thuần khiết và thành tựu. Vẻ đẹp tự nhiên của vàng không chỉ khiến nó trở nên quý giá một cách bí ẩn mà còn có thể là kim loại hữu ích nhất trên thế giới. Vàng là một trong những nguyên tố hóa học ít phản ứng nhất, dễ uốn, dẻo, chống ăn mòn và có thể dẫn điện nên nó có rất nhiều công dụng. Ngoài được sử dụng làm đồ trang sức, đúc tiền và các nghệ thuật khác, kim loại này được dùng trong việc che chắn tia hồng ngoại, sản xuất kính màu, dát vàng và phục hồi răng, …

[2] Theo số liệu của Trading Economics tính đến tháng 12/2021, Mỹ vẫn là cái tên đứng đầu trong danh sách 10 nước có dự trữ vàng lớn nhất, với 8133 tấn, nhiều hơn cả Đức và Italy cộng lại. Mỹ cũng có tỉ lệ phân bổ vàng cao nhất theo tỉ lệ phần trăm trong dự trữ ngoại hối của mình, ở mức 76%. Nga là nước mua vàng lớn nhất trong 7 năm qua. Chỉ tính riêng năm 2018, Nga đã mua tới 274 tấn vàng. Trong khi đó, Trung Quốc là quốc gia sản xuất hàng đầu, chiếm 11% sản lượng khai thác toàn cầu, tương đương 380 tấn. Đứng thứ hai là Nga với sản lượng 329,5 tấn và Australia đứng thứ ba với 325,1 tấn.

[3] Tương tự như cách các nhà đầu tư tư nhân sử dụng vàng để bảo hiểm, các ngân hàng trung ương cũng vậy. Trong báo cáo tháng 10/2019, Ngân hàng Hà Lan (DNB) viết: “Cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác đều chứa rủi ro. Khi có vấn đề xảy ra, giá của chúng có thể giảm. Tuy nhiên, vàng - dù khủng hoảng hay không - vẫn luôn giữ được giá trị và là mỏ neo tin cậy cho hệ thống tài chính. Nếu toàn bộ nền tảng sụp đổ, số vàng dự trữ có thể đóng cấp một tài sản thế chấp để bắt đầu xây dựng lại. Vàng tạo niềm tin vào sức mạnh của bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương. Điều đó mang lại cảm giác an toàn”.

[4] Mặc dù không còn được sử dụng như một hình thức tiền tệ chính ở các nước phát triển, kim loại màu vàng này vẫn có mối quan hệ mật thiết đến giá trị của các loại tiền tệ đó. Thứ nhất, vàng được sử dụng để sao lưu tiền tệ. Kể cả sau khi chế độ bản vị vàng bị loại bỏ, các quốc gia vẫn không để dự trữ pháp định(2). Các nước phải có một lượng vàng trong kho dự trữ để bảo đảm cho tiền giấy được lưu thông. Mặc dù bản vị vàng đã không còn tồn tại lâu ở các nước phát triển, một số nền kinh tế cho rằng chế độ này nên được áp dụng lại do sự biến động của đồng đô la Mỹ. Thứ hai, vàng gắn liền với số lượng tiền mà các quốc gia được phép phát hành. Thứ hai, vàng được sử dụng để chống lại lạm phát. Nhu cầu về vàng tăng lên trong thời kì lạm phát do giá trị vốn có của nó và nguồn cung hạn chế.

[5] So với các hình thức tiền tệ khác, vàng có khả năng giữ giá trị tốt hơn, do đó thường được coi là phương tiện bảo vệ giá trị tài sản trong thời kì lạm phát. Tuy nhiên, theo trưởng bộ phận nghiên cứu của Boost ETP, Viktor Nossek, nhận định này là sai lầm. Ông cho rằng vàng thực chất hay tác động như một đồng tiền giảm phát, tức sức mua của đồng tiền lớn trong khi giá tiêu dùng giảm. “Trước kia chúng ta thường nói lòng tin tiền tệ hiện nay và lịch sử của vàng vốn gắn liền với vai trò ngăn lạm phát chỉ dựa vào những lần xảy ra những năm 70 và 80 khi có sự sụt giảm niềm tin vào đồng tiền”, ông Nossek nói năm 2013.

[6] Với tầm tối quan trọng của vàng đối với nền kinh tế các quốc gia và nền kinh tế thế giới nói chung, một vấn đề lo lắng được đặt ra: Điều gì xảy ra nếu dự trữ vàng cạn kiệt? Trên thực tế, nguồn trữ vàng có kết, trong khi đó, nhu cầu về vàng lại có nguy cơ bị cạn kiệt, trong khi tốc độ khai thác không tăng mấy lên. Trong suốt lịch sử, tổng cộng khoảng 201296 tấn vàng được khai thác và ước tính gần đây nhất vào năm 2020 cho rằng 53000 tấn vàng vẫn còn trong trữ lượng dưới lòng đất, trong khi một số nguồn cho con số đó là khoảng 63000 tấn. Vào cuối năm 2020, nhiều tổ chức dự báo trữ lượng vàng dưới lòng đất sẽ cạn kiệt trong 18 năm tới, khi đó phát hiện được những mỏ vàng mới.

[7] Xu hướng mua ròng vàng đã diễn ra trong 12 năm liên tiếp. Các ngân hàng trung ương của các nước phát triển vẫn mở rộng dự trữ vàng. Tỉ lệ dân số đầu tư vào lượng vàng nắm giữ - nhiều hơn 82% so với năm 2020 trong khi nền kinh tế toàn cầu lún sâu vào suy thoái nặng nhất trong 30 năm. Chia sẻ trên tạp chí Barons (Mỹ), ông Geetesh Bhardwaj, trưởng nhóm nghiên cứu của Công ty Quản lý đầu tư Summer Haven, cho biết: “Những diễn biến gần đây trên thị trường vàng, trái ngược với các tài sản rủi ro, là một cơ hội hoàn hảo khiến các nhà đầu tư cần phải gia tăng nắm giữ như một nơi trú ẩn an toàn”. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo các nhà đầu tư: “Bất cứ ai nghĩ đến việc mua vào lúc này hay vài tháng tiếp theo sẽ phải đối mặt với những cú sốc giá gây gánh nợ với chính mình, do giá vàng đã đột ngột vọt lên mức đỉnh mới và đã có một số dấu hiệu cho sự kiện địa chính trị”.

[1] chế độ bản vị vàng: hệ thống sử dụng vàng làm tiêu chuẩn phát hành và quy đổi tiền tệ

[2] tiền pháp định: Tiền không được đảm bảo bởi tài sản vật lí, thay vào đó được đảm bảo bởi chính phủ trên cơ sở pháp luật.

Theo Haru, Chuyện của vàng, báo Dân Trí

 

Các phát biểu sau là đúng hay sai?
A

Vàng giữ vững giá trị trong thời kỳ khủng hoảng nên được coi là phương tiện chống lạm phát hiệu quả

B

Chế độ bản vị vàng có thể giúp kiểm soát bằng cách khống chế định lượng tiền lưu thông

C

Vàng hiện vẫn được sử dụng như một loại tiền tệ ở một số quốc gia phát triển

Câu này chưa có lời giải.

Câu 6

 

Thế giới liệu có hết vàng

[1] Vàng là một kim loại quý hiếm và gắn liền với sự giàu có, thịnh vượng trong hàng ngàn năm. Ngay từ đầu, vàng đã hấp dẫn các nền văn minh trên toàn thế giới và những nền văn minh đó hoàn toàn chưa từng tiếp xúc với nhau. Kể từ khi được phát hiện, vàng đã được xem là một biểu tượng của vẻ đẹp, quyền lực, sự thuần khiết và thành tựu. Vẻ đẹp tự nhiên của vàng không chỉ khiến nó trở nên quý giá một cách bí ẩn mà còn có thể là kim loại hữu ích nhất trên thế giới. Vàng là một trong những nguyên tố hóa học ít phản ứng nhất, dễ uốn, dẻo, chống ăn mòn và có thể dẫn điện nên nó có rất nhiều công dụng. Ngoài được sử dụng làm đồ trang sức, đúc tiền và các nghệ thuật khác, kim loại này được dùng trong việc che chắn tia hồng ngoại, sản xuất kính màu, dát vàng và phục hồi răng, …

[2] Theo số liệu của Trading Economics tính đến tháng 12/2021, Mỹ vẫn là cái tên đứng đầu trong danh sách 10 nước có dự trữ vàng lớn nhất, với 8133 tấn, nhiều hơn cả Đức và Italy cộng lại. Mỹ cũng có tỉ lệ phân bổ vàng cao nhất theo tỉ lệ phần trăm trong dự trữ ngoại hối của mình, ở mức 76%. Nga là nước mua vàng lớn nhất trong 7 năm qua. Chỉ tính riêng năm 2018, Nga đã mua tới 274 tấn vàng. Trong khi đó, Trung Quốc là quốc gia sản xuất hàng đầu, chiếm 11% sản lượng khai thác toàn cầu, tương đương 380 tấn. Đứng thứ hai là Nga với sản lượng 329,5 tấn và Australia đứng thứ ba với 325,1 tấn.

[3] Tương tự như cách các nhà đầu tư tư nhân sử dụng vàng để bảo hiểm, các ngân hàng trung ương cũng vậy. Trong báo cáo tháng 10/2019, Ngân hàng Hà Lan (DNB) viết: “Cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác đều chứa rủi ro. Khi có vấn đề xảy ra, giá của chúng có thể giảm. Tuy nhiên, vàng - dù khủng hoảng hay không - vẫn luôn giữ được giá trị và là mỏ neo tin cậy cho hệ thống tài chính. Nếu toàn bộ nền tảng sụp đổ, số vàng dự trữ có thể đóng cấp một tài sản thế chấp để bắt đầu xây dựng lại. Vàng tạo niềm tin vào sức mạnh của bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương. Điều đó mang lại cảm giác an toàn”.

[4] Mặc dù không còn được sử dụng như một hình thức tiền tệ chính ở các nước phát triển, kim loại màu vàng này vẫn có mối quan hệ mật thiết đến giá trị của các loại tiền tệ đó. Thứ nhất, vàng được sử dụng để sao lưu tiền tệ. Kể cả sau khi chế độ bản vị vàng bị loại bỏ, các quốc gia vẫn không để dự trữ pháp định(2). Các nước phải có một lượng vàng trong kho dự trữ để bảo đảm cho tiền giấy được lưu thông. Mặc dù bản vị vàng đã không còn tồn tại lâu ở các nước phát triển, một số nền kinh tế cho rằng chế độ này nên được áp dụng lại do sự biến động của đồng đô la Mỹ. Thứ hai, vàng gắn liền với số lượng tiền mà các quốc gia được phép phát hành. Thứ hai, vàng được sử dụng để chống lại lạm phát. Nhu cầu về vàng tăng lên trong thời kì lạm phát do giá trị vốn có của nó và nguồn cung hạn chế.

[5] So với các hình thức tiền tệ khác, vàng có khả năng giữ giá trị tốt hơn, do đó thường được coi là phương tiện bảo vệ giá trị tài sản trong thời kì lạm phát. Tuy nhiên, theo trưởng bộ phận nghiên cứu của Boost ETP, Viktor Nossek, nhận định này là sai lầm. Ông cho rằng vàng thực chất hay tác động như một đồng tiền giảm phát, tức sức mua của đồng tiền lớn trong khi giá tiêu dùng giảm. “Trước kia chúng ta thường nói lòng tin tiền tệ hiện nay và lịch sử của vàng vốn gắn liền với vai trò ngăn lạm phát chỉ dựa vào những lần xảy ra những năm 70 và 80 khi có sự sụt giảm niềm tin vào đồng tiền”, ông Nossek nói năm 2013.

[6] Với tầm tối quan trọng của vàng đối với nền kinh tế các quốc gia và nền kinh tế thế giới nói chung, một vấn đề lo lắng được đặt ra: Điều gì xảy ra nếu dự trữ vàng cạn kiệt? Trên thực tế, nguồn trữ vàng có kết, trong khi đó, nhu cầu về vàng lại có nguy cơ bị cạn kiệt, trong khi tốc độ khai thác không tăng mấy lên. Trong suốt lịch sử, tổng cộng khoảng 201296 tấn vàng được khai thác và ước tính gần đây nhất vào năm 2020 cho rằng 53000 tấn vàng vẫn còn trong trữ lượng dưới lòng đất, trong khi một số nguồn cho con số đó là khoảng 63000 tấn. Vào cuối năm 2020, nhiều tổ chức dự báo trữ lượng vàng dưới lòng đất sẽ cạn kiệt trong 18 năm tới, khi đó phát hiện được những mỏ vàng mới.

[7] Xu hướng mua ròng vàng đã diễn ra trong 12 năm liên tiếp. Các ngân hàng trung ương của các nước phát triển vẫn mở rộng dự trữ vàng. Tỉ lệ dân số đầu tư vào lượng vàng nắm giữ - nhiều hơn 82% so với năm 2020 trong khi nền kinh tế toàn cầu lún sâu vào suy thoái nặng nhất trong 30 năm. Chia sẻ trên tạp chí Barons (Mỹ), ông Geetesh Bhardwaj, trưởng nhóm nghiên cứu của Công ty Quản lý đầu tư Summer Haven, cho biết: “Những diễn biến gần đây trên thị trường vàng, trái ngược với các tài sản rủi ro, là một cơ hội hoàn hảo khiến các nhà đầu tư cần phải gia tăng nắm giữ như một nơi trú ẩn an toàn”. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo các nhà đầu tư: “Bất cứ ai nghĩ đến việc mua vào lúc này hay vài tháng tiếp theo sẽ phải đối mặt với những cú sốc giá gây gánh nợ với chính mình, do giá vàng đã đột ngột vọt lên mức đỉnh mới và đã có một số dấu hiệu cho sự kiện địa chính trị”.

[1] chế độ bản vị vàng: hệ thống sử dụng vàng làm tiêu chuẩn phát hành và quy đổi tiền tệ

[2] tiền pháp định: Tiền không được đảm bảo bởi tài sản vật lí, thay vào đó được đảm bảo bởi chính phủ trên cơ sở pháp luật.

Theo Haru, Chuyện của vàng, báo Dân Trí

 

Kéo ô thích hợp thả vào vị trí tương ứng để hoàn thành các câu sau:

Vàng được các ngân hàng trung ương sử dụng như một công cụ [1] tài chính, [2] giá trị tài sản và cung cấp sự an toàn cho hệ thống tài chính, đặc biệt là trong thời kỳ [3] hoặc bất ổn kinh tế. Mặc dù không còn là tiền tệ chính thức, vàng vẫn ảnh hưởng lớn đến giá trị [4] và được các quốc gia dự trữ để hạn chế việc in tiền và [5] rủi ro lạm phát

A

bảo hiểm

B

tiền tệ

C

phòng ngừa

D

bảo toàn

E

bảo vệ

F

lạm phát

G

giảm phát

Đáp án đúng: bảo hiểm — bảo toàn — lạm phát — tiền tệ — phòng ngừa

Lời giải

Bước 1: Xác định vai trò của vàng

Ngữ liệu nêu ngân hàng trung ương dùng vàng như công cụ bảo hiểm tài chính và bảo toàn giá trị tài sản.

Cụm “thời kỳ ... hoặc bất ổn kinh tế” phù hợp với lạm phát.

Bước 2: Xác định quan hệ với tiền tệ

Vàng vẫn ảnh hưởng đến giá trị tiền tệ dù không còn là tiền chính thức.

Dự trữ vàng giúp hạn chế phát hành tiền và phòng ngừa rủi ro lạm phát.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Ghép lần lượt: [1] bảo hiểm, [2] bảo toàn, [3] lạm phát, [4] tiền tệ, [5] phòng ngừa.

Đối chiếu phương án: [1] A, [2] D, [3] F, [4] B, [5] C.

Đáp án: [1] A, [2] D, [3] F, [4] B, [5] C — các từ phù hợp với vai trò bảo hiểm, bảo toàn tài sản và phòng ngừa lạm phát của vàng.

Câu 7

 

Thế giới liệu có hết vàng

[1] Vàng là một kim loại quý hiếm và gắn liền với sự giàu có, thịnh vượng trong hàng ngàn năm. Ngay từ đầu, vàng đã hấp dẫn các nền văn minh trên toàn thế giới và những nền văn minh đó hoàn toàn chưa từng tiếp xúc với nhau. Kể từ khi được phát hiện, vàng đã được xem là một biểu tượng của vẻ đẹp, quyền lực, sự thuần khiết và thành tựu. Vẻ đẹp tự nhiên của vàng không chỉ khiến nó trở nên quý giá một cách bí ẩn mà còn có thể là kim loại hữu ích nhất trên thế giới. Vàng là một trong những nguyên tố hóa học ít phản ứng nhất, dễ uốn, dẻo, chống ăn mòn và có thể dẫn điện nên nó có rất nhiều công dụng. Ngoài được sử dụng làm đồ trang sức, đúc tiền và các nghệ thuật khác, kim loại này được dùng trong việc che chắn tia hồng ngoại, sản xuất kính màu, dát vàng và phục hồi răng, …

[2] Theo số liệu của Trading Economics tính đến tháng 12/2021, Mỹ vẫn là cái tên đứng đầu trong danh sách 10 nước có dự trữ vàng lớn nhất, với 8133 tấn, nhiều hơn cả Đức và Italy cộng lại. Mỹ cũng có tỉ lệ phân bổ vàng cao nhất theo tỉ lệ phần trăm trong dự trữ ngoại hối của mình, ở mức 76%. Nga là nước mua vàng lớn nhất trong 7 năm qua. Chỉ tính riêng năm 2018, Nga đã mua tới 274 tấn vàng. Trong khi đó, Trung Quốc là quốc gia sản xuất hàng đầu, chiếm 11% sản lượng khai thác toàn cầu, tương đương 380 tấn. Đứng thứ hai là Nga với sản lượng 329,5 tấn và Australia đứng thứ ba với 325,1 tấn.

[3] Tương tự như cách các nhà đầu tư tư nhân sử dụng vàng để bảo hiểm, các ngân hàng trung ương cũng vậy. Trong báo cáo tháng 10/2019, Ngân hàng Hà Lan (DNB) viết: “Cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác đều chứa rủi ro. Khi có vấn đề xảy ra, giá của chúng có thể giảm. Tuy nhiên, vàng - dù khủng hoảng hay không - vẫn luôn giữ được giá trị và là mỏ neo tin cậy cho hệ thống tài chính. Nếu toàn bộ nền tảng sụp đổ, số vàng dự trữ có thể đóng cấp một tài sản thế chấp để bắt đầu xây dựng lại. Vàng tạo niềm tin vào sức mạnh của bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương. Điều đó mang lại cảm giác an toàn”.

[4] Mặc dù không còn được sử dụng như một hình thức tiền tệ chính ở các nước phát triển, kim loại màu vàng này vẫn có mối quan hệ mật thiết đến giá trị của các loại tiền tệ đó. Thứ nhất, vàng được sử dụng để sao lưu tiền tệ. Kể cả sau khi chế độ bản vị vàng bị loại bỏ, các quốc gia vẫn không để dự trữ pháp định(2). Các nước phải có một lượng vàng trong kho dự trữ để bảo đảm cho tiền giấy được lưu thông. Mặc dù bản vị vàng đã không còn tồn tại lâu ở các nước phát triển, một số nền kinh tế cho rằng chế độ này nên được áp dụng lại do sự biến động của đồng đô la Mỹ. Thứ hai, vàng gắn liền với số lượng tiền mà các quốc gia được phép phát hành. Thứ hai, vàng được sử dụng để chống lại lạm phát. Nhu cầu về vàng tăng lên trong thời kì lạm phát do giá trị vốn có của nó và nguồn cung hạn chế.

[5] So với các hình thức tiền tệ khác, vàng có khả năng giữ giá trị tốt hơn, do đó thường được coi là phương tiện bảo vệ giá trị tài sản trong thời kì lạm phát. Tuy nhiên, theo trưởng bộ phận nghiên cứu của Boost ETP, Viktor Nossek, nhận định này là sai lầm. Ông cho rằng vàng thực chất hay tác động như một đồng tiền giảm phát, tức sức mua của đồng tiền lớn trong khi giá tiêu dùng giảm. “Trước kia chúng ta thường nói lòng tin tiền tệ hiện nay và lịch sử của vàng vốn gắn liền với vai trò ngăn lạm phát chỉ dựa vào những lần xảy ra những năm 70 và 80 khi có sự sụt giảm niềm tin vào đồng tiền”, ông Nossek nói năm 2013.

[6] Với tầm tối quan trọng của vàng đối với nền kinh tế các quốc gia và nền kinh tế thế giới nói chung, một vấn đề lo lắng được đặt ra: Điều gì xảy ra nếu dự trữ vàng cạn kiệt? Trên thực tế, nguồn trữ vàng có kết, trong khi đó, nhu cầu về vàng lại có nguy cơ bị cạn kiệt, trong khi tốc độ khai thác không tăng mấy lên. Trong suốt lịch sử, tổng cộng khoảng 201296 tấn vàng được khai thác và ước tính gần đây nhất vào năm 2020 cho rằng 53000 tấn vàng vẫn còn trong trữ lượng dưới lòng đất, trong khi một số nguồn cho con số đó là khoảng 63000 tấn. Vào cuối năm 2020, nhiều tổ chức dự báo trữ lượng vàng dưới lòng đất sẽ cạn kiệt trong 18 năm tới, khi đó phát hiện được những mỏ vàng mới.

[7] Xu hướng mua ròng vàng đã diễn ra trong 12 năm liên tiếp. Các ngân hàng trung ương của các nước phát triển vẫn mở rộng dự trữ vàng. Tỉ lệ dân số đầu tư vào lượng vàng nắm giữ - nhiều hơn 82% so với năm 2020 trong khi nền kinh tế toàn cầu lún sâu vào suy thoái nặng nhất trong 30 năm. Chia sẻ trên tạp chí Barons (Mỹ), ông Geetesh Bhardwaj, trưởng nhóm nghiên cứu của Công ty Quản lý đầu tư Summer Haven, cho biết: “Những diễn biến gần đây trên thị trường vàng, trái ngược với các tài sản rủi ro, là một cơ hội hoàn hảo khiến các nhà đầu tư cần phải gia tăng nắm giữ như một nơi trú ẩn an toàn”. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo các nhà đầu tư: “Bất cứ ai nghĩ đến việc mua vào lúc này hay vài tháng tiếp theo sẽ phải đối mặt với những cú sốc giá gây gánh nợ với chính mình, do giá vàng đã đột ngột vọt lên mức đỉnh mới và đã có một số dấu hiệu cho sự kiện địa chính trị”.

[1] chế độ bản vị vàng: hệ thống sử dụng vàng làm tiêu chuẩn phát hành và quy đổi tiền tệ

[2] tiền pháp định: Tiền không được đảm bảo bởi tài sản vật lí, thay vào đó được đảm bảo bởi chính phủ trên cơ sở pháp luật.

Theo Haru, Chuyện của vàng, báo Dân Trí

 

Hãy điền một cụm từ không quá hai tiếng trong văn bản để hoàn thành nhận định sau:

Việc vàng có [[____]] cố hữu cộng với nguồn cung [[____]] của nó là những lí do khiến kim loại quý hiếm này được lựa chọn làm công cụ bảo vệ giá trị tài sản trong thời kỳ [[____]] leo thang

Đáp án đúng: giá trị; hạn chế; lạm phát

Lời giải

Bước 1: Xác định ý thứ nhất

Đoạn [4] nêu vàng có giá trị vốn có và nguồn cung hạn chế.

Vì vậy, chỗ trống thứ nhất điền “giá trị”.

Bước 2: Xác định ý thứ hai

Cụm “nguồn cung hạn chế” xuất hiện trực tiếp trong đoạn [4].

Chỗ trống thứ hai điền “hạn chế”.

Bước 3: Xác định bối cảnh

Đoạn [5] khẳng định vàng bảo vệ giá trị tài sản trong thời kỳ lạm phát.

Kết hợp với “leo thang”, chỗ trống cuối điền “lạm phát”.

Đáp án: giá trị; hạn chế; lạm phát — vì vàng có giá trị vốn có, nguồn cung hạn chế và thường được dùng để bảo vệ tài sản khi lạm phát leo thang.

Câu 8

 

Thế giới liệu có hết vàng

[1] Vàng là một kim loại quý hiếm và gắn liền với sự giàu có, thịnh vượng trong hàng ngàn năm. Ngay từ đầu, vàng đã hấp dẫn các nền văn minh trên toàn thế giới và những nền văn minh đó hoàn toàn chưa từng tiếp xúc với nhau. Kể từ khi được phát hiện, vàng đã được xem là một biểu tượng của vẻ đẹp, quyền lực, sự thuần khiết và thành tựu. Vẻ đẹp tự nhiên của vàng không chỉ khiến nó trở nên quý giá một cách bí ẩn mà còn có thể là kim loại hữu ích nhất trên thế giới. Vàng là một trong những nguyên tố hóa học ít phản ứng nhất, dễ uốn, dẻo, chống ăn mòn và có thể dẫn điện nên nó có rất nhiều công dụng. Ngoài được sử dụng làm đồ trang sức, đúc tiền và các nghệ thuật khác, kim loại này được dùng trong việc che chắn tia hồng ngoại, sản xuất kính màu, dát vàng và phục hồi răng, …

[2] Theo số liệu của Trading Economics tính đến tháng 12/2021, Mỹ vẫn là cái tên đứng đầu trong danh sách 10 nước có dự trữ vàng lớn nhất, với 8133 tấn, nhiều hơn cả Đức và Italy cộng lại. Mỹ cũng có tỉ lệ phân bổ vàng cao nhất theo tỉ lệ phần trăm trong dự trữ ngoại hối của mình, ở mức 76%. Nga là nước mua vàng lớn nhất trong 7 năm qua. Chỉ tính riêng năm 2018, Nga đã mua tới 274 tấn vàng. Trong khi đó, Trung Quốc là quốc gia sản xuất hàng đầu, chiếm 11% sản lượng khai thác toàn cầu, tương đương 380 tấn. Đứng thứ hai là Nga với sản lượng 329,5 tấn và Australia đứng thứ ba với 325,1 tấn.

[3] Tương tự như cách các nhà đầu tư tư nhân sử dụng vàng để bảo hiểm, các ngân hàng trung ương cũng vậy. Trong báo cáo tháng 10/2019, Ngân hàng Hà Lan (DNB) viết: “Cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác đều chứa rủi ro. Khi có vấn đề xảy ra, giá của chúng có thể giảm. Tuy nhiên, vàng - dù khủng hoảng hay không - vẫn luôn giữ được giá trị và là mỏ neo tin cậy cho hệ thống tài chính. Nếu toàn bộ nền tảng sụp đổ, số vàng dự trữ có thể đóng cấp một tài sản thế chấp để bắt đầu xây dựng lại. Vàng tạo niềm tin vào sức mạnh của bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương. Điều đó mang lại cảm giác an toàn”.

[4] Mặc dù không còn được sử dụng như một hình thức tiền tệ chính ở các nước phát triển, kim loại màu vàng này vẫn có mối quan hệ mật thiết đến giá trị của các loại tiền tệ đó. Thứ nhất, vàng được sử dụng để sao lưu tiền tệ. Kể cả sau khi chế độ bản vị vàng bị loại bỏ, các quốc gia vẫn không để dự trữ pháp định(2). Các nước phải có một lượng vàng trong kho dự trữ để bảo đảm cho tiền giấy được lưu thông. Mặc dù bản vị vàng đã không còn tồn tại lâu ở các nước phát triển, một số nền kinh tế cho rằng chế độ này nên được áp dụng lại do sự biến động của đồng đô la Mỹ. Thứ hai, vàng gắn liền với số lượng tiền mà các quốc gia được phép phát hành. Thứ hai, vàng được sử dụng để chống lại lạm phát. Nhu cầu về vàng tăng lên trong thời kì lạm phát do giá trị vốn có của nó và nguồn cung hạn chế.

[5] So với các hình thức tiền tệ khác, vàng có khả năng giữ giá trị tốt hơn, do đó thường được coi là phương tiện bảo vệ giá trị tài sản trong thời kì lạm phát. Tuy nhiên, theo trưởng bộ phận nghiên cứu của Boost ETP, Viktor Nossek, nhận định này là sai lầm. Ông cho rằng vàng thực chất hay tác động như một đồng tiền giảm phát, tức sức mua của đồng tiền lớn trong khi giá tiêu dùng giảm. “Trước kia chúng ta thường nói lòng tin tiền tệ hiện nay và lịch sử của vàng vốn gắn liền với vai trò ngăn lạm phát chỉ dựa vào những lần xảy ra những năm 70 và 80 khi có sự sụt giảm niềm tin vào đồng tiền”, ông Nossek nói năm 2013.

[6] Với tầm tối quan trọng của vàng đối với nền kinh tế các quốc gia và nền kinh tế thế giới nói chung, một vấn đề lo lắng được đặt ra: Điều gì xảy ra nếu dự trữ vàng cạn kiệt? Trên thực tế, nguồn trữ vàng có kết, trong khi đó, nhu cầu về vàng lại có nguy cơ bị cạn kiệt, trong khi tốc độ khai thác không tăng mấy lên. Trong suốt lịch sử, tổng cộng khoảng 201296 tấn vàng được khai thác và ước tính gần đây nhất vào năm 2020 cho rằng 53000 tấn vàng vẫn còn trong trữ lượng dưới lòng đất, trong khi một số nguồn cho con số đó là khoảng 63000 tấn. Vào cuối năm 2020, nhiều tổ chức dự báo trữ lượng vàng dưới lòng đất sẽ cạn kiệt trong 18 năm tới, khi đó phát hiện được những mỏ vàng mới.

[7] Xu hướng mua ròng vàng đã diễn ra trong 12 năm liên tiếp. Các ngân hàng trung ương của các nước phát triển vẫn mở rộng dự trữ vàng. Tỉ lệ dân số đầu tư vào lượng vàng nắm giữ - nhiều hơn 82% so với năm 2020 trong khi nền kinh tế toàn cầu lún sâu vào suy thoái nặng nhất trong 30 năm. Chia sẻ trên tạp chí Barons (Mỹ), ông Geetesh Bhardwaj, trưởng nhóm nghiên cứu của Công ty Quản lý đầu tư Summer Haven, cho biết: “Những diễn biến gần đây trên thị trường vàng, trái ngược với các tài sản rủi ro, là một cơ hội hoàn hảo khiến các nhà đầu tư cần phải gia tăng nắm giữ như một nơi trú ẩn an toàn”. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo các nhà đầu tư: “Bất cứ ai nghĩ đến việc mua vào lúc này hay vài tháng tiếp theo sẽ phải đối mặt với những cú sốc giá gây gánh nợ với chính mình, do giá vàng đã đột ngột vọt lên mức đỉnh mới và đã có một số dấu hiệu cho sự kiện địa chính trị”.

[1] chế độ bản vị vàng: hệ thống sử dụng vàng làm tiêu chuẩn phát hành và quy đổi tiền tệ

[2] tiền pháp định: Tiền không được đảm bảo bởi tài sản vật lí, thay vào đó được đảm bảo bởi chính phủ trên cơ sở pháp luật.

Theo Haru, Chuyện của vàng, báo Dân Trí

 

Các phát biểu sau là đúng hay sai?
A

Quan niệm rằng vàng là tài sản chống lạm phát đã được kiểm chứng trong quá khứ, đặc biệt là cú sốc giá dầu vào những năm 70 và 80

B

Xu hướng mua vàng ròng của các ngân hàng trung ương đã kéo dài 12 năm liên tiếp, bất chấp những biến động trên thị trường

C

Ông Viktor Nossek cho rằng vàng hoạt động tốt nhất trong môi trường lạm phát cao vì khả năng tăng giá trị của nó trong những tình huống này

Câu này chưa có lời giải.

Câu 9

 

Thế giới liệu có hết vàng

[1] Vàng là một kim loại quý hiếm và gắn liền với sự giàu có, thịnh vượng trong hàng ngàn năm. Ngay từ đầu, vàng đã hấp dẫn các nền văn minh trên toàn thế giới và những nền văn minh đó hoàn toàn chưa từng tiếp xúc với nhau. Kể từ khi được phát hiện, vàng đã được xem là một biểu tượng của vẻ đẹp, quyền lực, sự thuần khiết và thành tựu. Vẻ đẹp tự nhiên của vàng không chỉ khiến nó trở nên quý giá một cách bí ẩn mà còn có thể là kim loại hữu ích nhất trên thế giới. Vàng là một trong những nguyên tố hóa học ít phản ứng nhất, dễ uốn, dẻo, chống ăn mòn và có thể dẫn điện nên nó có rất nhiều công dụng. Ngoài được sử dụng làm đồ trang sức, đúc tiền và các nghệ thuật khác, kim loại này được dùng trong việc che chắn tia hồng ngoại, sản xuất kính màu, dát vàng và phục hồi răng, …

[2] Theo số liệu của Trading Economics tính đến tháng 12/2021, Mỹ vẫn là cái tên đứng đầu trong danh sách 10 nước có dự trữ vàng lớn nhất, với 8133 tấn, nhiều hơn cả Đức và Italy cộng lại. Mỹ cũng có tỉ lệ phân bổ vàng cao nhất theo tỉ lệ phần trăm trong dự trữ ngoại hối của mình, ở mức 76%. Nga là nước mua vàng lớn nhất trong 7 năm qua. Chỉ tính riêng năm 2018, Nga đã mua tới 274 tấn vàng. Trong khi đó, Trung Quốc là quốc gia sản xuất hàng đầu, chiếm 11% sản lượng khai thác toàn cầu, tương đương 380 tấn. Đứng thứ hai là Nga với sản lượng 329,5 tấn và Australia đứng thứ ba với 325,1 tấn.

[3] Tương tự như cách các nhà đầu tư tư nhân sử dụng vàng để bảo hiểm, các ngân hàng trung ương cũng vậy. Trong báo cáo tháng 10/2019, Ngân hàng Hà Lan (DNB) viết: “Cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác đều chứa rủi ro. Khi có vấn đề xảy ra, giá của chúng có thể giảm. Tuy nhiên, vàng - dù khủng hoảng hay không - vẫn luôn giữ được giá trị và là mỏ neo tin cậy cho hệ thống tài chính. Nếu toàn bộ nền tảng sụp đổ, số vàng dự trữ có thể đóng cấp một tài sản thế chấp để bắt đầu xây dựng lại. Vàng tạo niềm tin vào sức mạnh của bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương. Điều đó mang lại cảm giác an toàn”.

[4] Mặc dù không còn được sử dụng như một hình thức tiền tệ chính ở các nước phát triển, kim loại màu vàng này vẫn có mối quan hệ mật thiết đến giá trị của các loại tiền tệ đó. Thứ nhất, vàng được sử dụng để sao lưu tiền tệ. Kể cả sau khi chế độ bản vị vàng bị loại bỏ, các quốc gia vẫn không để dự trữ pháp định(2). Các nước phải có một lượng vàng trong kho dự trữ để bảo đảm cho tiền giấy được lưu thông. Mặc dù bản vị vàng đã không còn tồn tại lâu ở các nước phát triển, một số nền kinh tế cho rằng chế độ này nên được áp dụng lại do sự biến động của đồng đô la Mỹ. Thứ hai, vàng gắn liền với số lượng tiền mà các quốc gia được phép phát hành. Thứ hai, vàng được sử dụng để chống lại lạm phát. Nhu cầu về vàng tăng lên trong thời kì lạm phát do giá trị vốn có của nó và nguồn cung hạn chế.

[5] So với các hình thức tiền tệ khác, vàng có khả năng giữ giá trị tốt hơn, do đó thường được coi là phương tiện bảo vệ giá trị tài sản trong thời kì lạm phát. Tuy nhiên, theo trưởng bộ phận nghiên cứu của Boost ETP, Viktor Nossek, nhận định này là sai lầm. Ông cho rằng vàng thực chất hay tác động như một đồng tiền giảm phát, tức sức mua của đồng tiền lớn trong khi giá tiêu dùng giảm. “Trước kia chúng ta thường nói lòng tin tiền tệ hiện nay và lịch sử của vàng vốn gắn liền với vai trò ngăn lạm phát chỉ dựa vào những lần xảy ra những năm 70 và 80 khi có sự sụt giảm niềm tin vào đồng tiền”, ông Nossek nói năm 2013.

[6] Với tầm tối quan trọng của vàng đối với nền kinh tế các quốc gia và nền kinh tế thế giới nói chung, một vấn đề lo lắng được đặt ra: Điều gì xảy ra nếu dự trữ vàng cạn kiệt? Trên thực tế, nguồn trữ vàng có kết, trong khi đó, nhu cầu về vàng lại có nguy cơ bị cạn kiệt, trong khi tốc độ khai thác không tăng mấy lên. Trong suốt lịch sử, tổng cộng khoảng 201296 tấn vàng được khai thác và ước tính gần đây nhất vào năm 2020 cho rằng 53000 tấn vàng vẫn còn trong trữ lượng dưới lòng đất, trong khi một số nguồn cho con số đó là khoảng 63000 tấn. Vào cuối năm 2020, nhiều tổ chức dự báo trữ lượng vàng dưới lòng đất sẽ cạn kiệt trong 18 năm tới, khi đó phát hiện được những mỏ vàng mới.

[7] Xu hướng mua ròng vàng đã diễn ra trong 12 năm liên tiếp. Các ngân hàng trung ương của các nước phát triển vẫn mở rộng dự trữ vàng. Tỉ lệ dân số đầu tư vào lượng vàng nắm giữ - nhiều hơn 82% so với năm 2020 trong khi nền kinh tế toàn cầu lún sâu vào suy thoái nặng nhất trong 30 năm. Chia sẻ trên tạp chí Barons (Mỹ), ông Geetesh Bhardwaj, trưởng nhóm nghiên cứu của Công ty Quản lý đầu tư Summer Haven, cho biết: “Những diễn biến gần đây trên thị trường vàng, trái ngược với các tài sản rủi ro, là một cơ hội hoàn hảo khiến các nhà đầu tư cần phải gia tăng nắm giữ như một nơi trú ẩn an toàn”. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo các nhà đầu tư: “Bất cứ ai nghĩ đến việc mua vào lúc này hay vài tháng tiếp theo sẽ phải đối mặt với những cú sốc giá gây gánh nợ với chính mình, do giá vàng đã đột ngột vọt lên mức đỉnh mới và đã có một số dấu hiệu cho sự kiện địa chính trị”.

[1] chế độ bản vị vàng: hệ thống sử dụng vàng làm tiêu chuẩn phát hành và quy đổi tiền tệ

[2] tiền pháp định: Tiền không được đảm bảo bởi tài sản vật lí, thay vào đó được đảm bảo bởi chính phủ trên cơ sở pháp luật.

Theo Haru, Chuyện của vàng, báo Dân Trí

 

Theo đoạn [2] và [7], những yếu tố nào đã thúc đẩy các ngân hàng trung ương chuyển từ bán ròng sang mua ròng vàng kể từ năm 2010?
A

Lo ngại về sự ổn định của các loại tiền tệ.

B

Giá vàng giảm mạnh trên các thị trường quốc tế.

C

Các sự kiện địa chính trị tạo ra bất ổn trên thị trường tài chính.

D

Nhu cầu sản xuất vàng trong công nghiệp tăng cao.

Lời giải

Bước 1: Xác định hướng thông tin

Đoạn cho thấy các ngân hàng trung ương tích cực nắm giữ và mua vàng.

Đoạn tập trung vào nguyên nhân của xu hướng mua ròng từ năm .

Bước 2: Rút ra nguyên nhân

Các ngân hàng trung ương lo ngại sự ổn định của tiền tệ và chịu tác động từ những bất ổn địa chính trị trên thị trường tài chính.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn A và C vì phù hợp với hai nguyên nhân trên; B, D sai vì văn bản không nói giá vàng giảm mạnh hay nhu cầu sản xuất công nghiệp tăng cao.

Đáp án: A, C — các ngân hàng trung ương mua ròng vàng vì lo ngại tiền tệ thiếu ổn định và bất ổn địa chính trị.

Câu 10

 

Thế giới liệu có hết vàng

[1] Vàng là một kim loại quý hiếm và gắn liền với sự giàu có, thịnh vượng trong hàng ngàn năm. Ngay từ đầu, vàng đã hấp dẫn các nền văn minh trên toàn thế giới và những nền văn minh đó hoàn toàn chưa từng tiếp xúc với nhau. Kể từ khi được phát hiện, vàng đã được xem là một biểu tượng của vẻ đẹp, quyền lực, sự thuần khiết và thành tựu. Vẻ đẹp tự nhiên của vàng không chỉ khiến nó trở nên quý giá một cách bí ẩn mà còn có thể là kim loại hữu ích nhất trên thế giới. Vàng là một trong những nguyên tố hóa học ít phản ứng nhất, dễ uốn, dẻo, chống ăn mòn và có thể dẫn điện nên nó có rất nhiều công dụng. Ngoài được sử dụng làm đồ trang sức, đúc tiền và các nghệ thuật khác, kim loại này được dùng trong việc che chắn tia hồng ngoại, sản xuất kính màu, dát vàng và phục hồi răng, …

[2] Theo số liệu của Trading Economics tính đến tháng 12/2021, Mỹ vẫn là cái tên đứng đầu trong danh sách 10 nước có dự trữ vàng lớn nhất, với 8133 tấn, nhiều hơn cả Đức và Italy cộng lại. Mỹ cũng có tỉ lệ phân bổ vàng cao nhất theo tỉ lệ phần trăm trong dự trữ ngoại hối của mình, ở mức 76%. Nga là nước mua vàng lớn nhất trong 7 năm qua. Chỉ tính riêng năm 2018, Nga đã mua tới 274 tấn vàng. Trong khi đó, Trung Quốc là quốc gia sản xuất hàng đầu, chiếm 11% sản lượng khai thác toàn cầu, tương đương 380 tấn. Đứng thứ hai là Nga với sản lượng 329,5 tấn và Australia đứng thứ ba với 325,1 tấn.

[3] Tương tự như cách các nhà đầu tư tư nhân sử dụng vàng để bảo hiểm, các ngân hàng trung ương cũng vậy. Trong báo cáo tháng 10/2019, Ngân hàng Hà Lan (DNB) viết: “Cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác đều chứa rủi ro. Khi có vấn đề xảy ra, giá của chúng có thể giảm. Tuy nhiên, vàng - dù khủng hoảng hay không - vẫn luôn giữ được giá trị và là mỏ neo tin cậy cho hệ thống tài chính. Nếu toàn bộ nền tảng sụp đổ, số vàng dự trữ có thể đóng cấp một tài sản thế chấp để bắt đầu xây dựng lại. Vàng tạo niềm tin vào sức mạnh của bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương. Điều đó mang lại cảm giác an toàn”.

[4] Mặc dù không còn được sử dụng như một hình thức tiền tệ chính ở các nước phát triển, kim loại màu vàng này vẫn có mối quan hệ mật thiết đến giá trị của các loại tiền tệ đó. Thứ nhất, vàng được sử dụng để sao lưu tiền tệ. Kể cả sau khi chế độ bản vị vàng bị loại bỏ, các quốc gia vẫn không để dự trữ pháp định(2). Các nước phải có một lượng vàng trong kho dự trữ để bảo đảm cho tiền giấy được lưu thông. Mặc dù bản vị vàng đã không còn tồn tại lâu ở các nước phát triển, một số nền kinh tế cho rằng chế độ này nên được áp dụng lại do sự biến động của đồng đô la Mỹ. Thứ hai, vàng gắn liền với số lượng tiền mà các quốc gia được phép phát hành. Thứ hai, vàng được sử dụng để chống lại lạm phát. Nhu cầu về vàng tăng lên trong thời kì lạm phát do giá trị vốn có của nó và nguồn cung hạn chế.

[5] So với các hình thức tiền tệ khác, vàng có khả năng giữ giá trị tốt hơn, do đó thường được coi là phương tiện bảo vệ giá trị tài sản trong thời kì lạm phát. Tuy nhiên, theo trưởng bộ phận nghiên cứu của Boost ETP, Viktor Nossek, nhận định này là sai lầm. Ông cho rằng vàng thực chất hay tác động như một đồng tiền giảm phát, tức sức mua của đồng tiền lớn trong khi giá tiêu dùng giảm. “Trước kia chúng ta thường nói lòng tin tiền tệ hiện nay và lịch sử của vàng vốn gắn liền với vai trò ngăn lạm phát chỉ dựa vào những lần xảy ra những năm 70 và 80 khi có sự sụt giảm niềm tin vào đồng tiền”, ông Nossek nói năm 2013.

[6] Với tầm tối quan trọng của vàng đối với nền kinh tế các quốc gia và nền kinh tế thế giới nói chung, một vấn đề lo lắng được đặt ra: Điều gì xảy ra nếu dự trữ vàng cạn kiệt? Trên thực tế, nguồn trữ vàng có kết, trong khi đó, nhu cầu về vàng lại có nguy cơ bị cạn kiệt, trong khi tốc độ khai thác không tăng mấy lên. Trong suốt lịch sử, tổng cộng khoảng 201296 tấn vàng được khai thác và ước tính gần đây nhất vào năm 2020 cho rằng 53000 tấn vàng vẫn còn trong trữ lượng dưới lòng đất, trong khi một số nguồn cho con số đó là khoảng 63000 tấn. Vào cuối năm 2020, nhiều tổ chức dự báo trữ lượng vàng dưới lòng đất sẽ cạn kiệt trong 18 năm tới, khi đó phát hiện được những mỏ vàng mới.

[7] Xu hướng mua ròng vàng đã diễn ra trong 12 năm liên tiếp. Các ngân hàng trung ương của các nước phát triển vẫn mở rộng dự trữ vàng. Tỉ lệ dân số đầu tư vào lượng vàng nắm giữ - nhiều hơn 82% so với năm 2020 trong khi nền kinh tế toàn cầu lún sâu vào suy thoái nặng nhất trong 30 năm. Chia sẻ trên tạp chí Barons (Mỹ), ông Geetesh Bhardwaj, trưởng nhóm nghiên cứu của Công ty Quản lý đầu tư Summer Haven, cho biết: “Những diễn biến gần đây trên thị trường vàng, trái ngược với các tài sản rủi ro, là một cơ hội hoàn hảo khiến các nhà đầu tư cần phải gia tăng nắm giữ như một nơi trú ẩn an toàn”. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo các nhà đầu tư: “Bất cứ ai nghĩ đến việc mua vào lúc này hay vài tháng tiếp theo sẽ phải đối mặt với những cú sốc giá gây gánh nợ với chính mình, do giá vàng đã đột ngột vọt lên mức đỉnh mới và đã có một số dấu hiệu cho sự kiện địa chính trị”.

[1] chế độ bản vị vàng: hệ thống sử dụng vàng làm tiêu chuẩn phát hành và quy đổi tiền tệ

[2] tiền pháp định: Tiền không được đảm bảo bởi tài sản vật lí, thay vào đó được đảm bảo bởi chính phủ trên cơ sở pháp luật.

Theo Haru, Chuyện của vàng, báo Dân Trí

 

Mục đích chính của tác giả khi viết bài này là gì?

A

Thuyết phục người đọc về tầm quan trọng của vàng trong đầu tư cá nhân.

B

Cung cấp một cái nhìn tổng quan về vai trò kinh tế của vàng và những thách thức về nguồn cung.

C

Phân tích chi tiết về cách vàng ảnh hưởng đến nền kinh tế từng quốc gia.

D

Đưa ra cảnh báo về các rủi ro khi đầu từ vào thị trường vàng.

Lời giải

Bước 1: Xác định phạm vi nội dung

Bài viết giới thiệu giá trị, công dụng, vai trò kinh tế và vị trí của vàng trong tài chính.

Phạm vi trình bày rộng, không tập trung riêng vào một đối tượng hay một quốc gia.

Bước 2: Nhận diện vấn đề trọng tâm

Các đoạn giữa phân tích dự trữ, khai thác, tiền tệ, lạm phát và chức năng bảo toàn giá trị.

Đoạn cuối đặt vấn đề nguồn vàng hữu hạn, nhu cầu tăng và nguy cơ cạn kiệt.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn B vì bao quát vai trò kinh tế của vàng và thách thức về nguồn cung; A, C, D sai vì lần lượt thu hẹp vào đầu tư cá nhân, phân tích từng quốc gia và cảnh báo rủi ro đầu tư.

Đáp án: B — Bài viết cung cấp cái nhìn tổng quan về vai trò kinh tế của vàng và nguy cơ nguồn cung cạn kiệt.
Bảng tra cứu nhanh đáp án trọn bộ 10 câu hỏiNhấn để đóng / mở
Câu12345678910
Đáp ánBAmỏ neo; sụp đổBB-giá trị; hạn chế; lạm phátBAB

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 18 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.

Đăng nhập để làm bài