Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
ĐỘ TAN CỦA MUỐI KIM LOẠI KIỀM
Dung dịch là hỗn hợp đồng nhất của hai hoặc nhiều chất. Thường thì dung dịch sẽ được cấu thành bởi một chất tan hoà tan trong dung môi. Loại dung môi phổ biến nhất là nước, nên trong nhiều trường hợp, khi nói "dung dịch" thì ta thường ngầm hiểu là "dung dịch nước" (nghĩa là có dung môi là nước).
Dung dịch đã chứa lượng chất tan tối đa ở nhiệt độ cụ thể thì được gọi là dung dịch (đã) bão hoà. Còn dung dịch chứa lượng chất tan chưa tối đa thì gọi là dung dịch chưa bão hoà. Đối với một dung dịch muối bão hoà, khi làm nước bay hơi thì lượng nước còn lại không đủ để hoà tan muối — do đó, một phần muối sẽ bị tách ra ở dạng tinh thế - thường là tinh thể hydrate hoá (tinh thể ngậm nước, ví dụ ). Thông thường, độ tan sẽ được tính theo lượng chất tan cực đại (gam) có thể hòa tan trong 100g dung môi ở nhiệt độ xác định.
Đôi khi, một dung dịch có thể chứa lượng chất tan nhiều hơn cả dung dịch bão hoà và nó được gọi là dung dịch quá bão hoà. Đây là kiểu dung dịch rất kém bền, khi bị khuấy hoặc thêm vào một lượng nhỏ chất tan nữa thì lượng chất tan thừa ra sẽ nhanh chóng kết tinh khỏi dung dịch cho đến khi nồng độ bằng với của dung dịch bão hoà.
Đường cong độ tan là đồ thị biểu diễn sự biến đổi nồng độ của một dung dịch bão hoà theo nhiệt độ. Độ tan được biểu diễn trên trục tung (trục y), còn nhiệt độ được biểu diễn theo trục hoành (trục x). Từ đồ thị, có thể xác định độ tan của một chất ở nhiệt độ cụ thể. Các điểm trên đường cong đại diện cho dung dịch bão hoà, các điểm cao hơn là dung dịch quá bão hoà còn các điểm thấp hơn là dung dịch chưa bão hoà.

Đường là chất rắn được hòa tan vào nước, nên đường là chất tan.
Nước là chất lỏng đóng vai trò hòa tan đường, nên nước là dung môi.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
ĐỘ TAN CỦA MUỐI KIM LOẠI KIỀM
Dung dịch là hỗn hợp đồng nhất của hai hoặc nhiều chất. Thường thì dung dịch sẽ được cấu thành bởi một chất tan hoà tan trong dung môi. Loại dung môi phổ biến nhất là nước, nên trong nhiều trường hợp, khi nói "dung dịch" thì ta thường ngầm hiểu là "dung dịch nước" (nghĩa là có dung môi là nước).
Dung dịch đã chứa lượng chất tan tối đa ở nhiệt độ cụ thể thì được gọi là dung dịch (đã) bão hoà. Còn dung dịch chứa lượng chất tan chưa tối đa thì gọi là dung dịch chưa bão hoà. Đối với một dung dịch muối bão hoà, khi làm nước bay hơi thì lượng nước còn lại không đủ để hoà tan muối — do đó, một phần muối sẽ bị tách ra ở dạng tinh thế - thường là tinh thể hydrate hoá (tinh thể ngậm nước, ví dụ ). Thông thường, độ tan sẽ được tính theo lượng chất tan cực đại (gam) có thể hòa tan trong 100g dung môi ở nhiệt độ xác định.
Đôi khi, một dung dịch có thể chứa lượng chất tan nhiều hơn cả dung dịch bão hoà và nó được gọi là dung dịch quá bão hoà. Đây là kiểu dung dịch rất kém bền, khi bị khuấy hoặc thêm vào một lượng nhỏ chất tan nữa thì lượng chất tan thừa ra sẽ nhanh chóng kết tinh khỏi dung dịch cho đến khi nồng độ bằng với của dung dịch bão hoà.
Đường cong độ tan là đồ thị biểu diễn sự biến đổi nồng độ của một dung dịch bão hoà theo nhiệt độ. Độ tan được biểu diễn trên trục tung (trục y), còn nhiệt độ được biểu diễn theo trục hoành (trục x). Từ đồ thị, có thể xác định độ tan của một chất ở nhiệt độ cụ thể. Các điểm trên đường cong đại diện cho dung dịch bão hoà, các điểm cao hơn là dung dịch quá bão hoà còn các điểm thấp hơn là dung dịch chưa bão hoà.

Làm thế nào để biết dung dịch là bão hòa hay chưa bão hòa?
Nếu thêm chất tan và nó [1], thì dung dịch bão hòa. Nếu chất tan thêm vào [2], thì dung dịch chưa bão hòa. Ví dụ, ở 20°C 100 g nước có thể hoà tan tối đa 36 g muối ăn (NaCl). Bất kì lượng muối ăn nào vượt quá giới hạn này thì sẽ [3].
tan
không tan
không bị hòa tan
bị hòa tan
Nếu thêm chất tan mà nó không bị hòa tan (không tan), dung dịch đã đạt mức tối đa nên là dung dịch bão hòa.
Nếu chất tan thêm vào vẫn bị hòa tan, dung dịch chưa đạt mức tối đa nên là dung dịch chưa bão hòa.
Với nước, lượng muối tối đa là .
Nếu lượng muối vượt quá , phần dư sẽ không bị hòa tan.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
ĐỘ TAN CỦA MUỐI KIM LOẠI KIỀM
Dung dịch là hỗn hợp đồng nhất của hai hoặc nhiều chất. Thường thì dung dịch sẽ được cấu thành bởi một chất tan hoà tan trong dung môi. Loại dung môi phổ biến nhất là nước, nên trong nhiều trường hợp, khi nói "dung dịch" thì ta thường ngầm hiểu là "dung dịch nước" (nghĩa là có dung môi là nước).
Dung dịch đã chứa lượng chất tan tối đa ở nhiệt độ cụ thể thì được gọi là dung dịch (đã) bão hoà. Còn dung dịch chứa lượng chất tan chưa tối đa thì gọi là dung dịch chưa bão hoà. Đối với một dung dịch muối bão hoà, khi làm nước bay hơi thì lượng nước còn lại không đủ để hoà tan muối — do đó, một phần muối sẽ bị tách ra ở dạng tinh thế - thường là tinh thể hydrate hoá (tinh thể ngậm nước, ví dụ ). Thông thường, độ tan sẽ được tính theo lượng chất tan cực đại (gam) có thể hòa tan trong 100g dung môi ở nhiệt độ xác định.
Đôi khi, một dung dịch có thể chứa lượng chất tan nhiều hơn cả dung dịch bão hoà và nó được gọi là dung dịch quá bão hoà. Đây là kiểu dung dịch rất kém bền, khi bị khuấy hoặc thêm vào một lượng nhỏ chất tan nữa thì lượng chất tan thừa ra sẽ nhanh chóng kết tinh khỏi dung dịch cho đến khi nồng độ bằng với của dung dịch bão hoà.
Đường cong độ tan là đồ thị biểu diễn sự biến đổi nồng độ của một dung dịch bão hoà theo nhiệt độ. Độ tan được biểu diễn trên trục tung (trục y), còn nhiệt độ được biểu diễn theo trục hoành (trục x). Từ đồ thị, có thể xác định độ tan của một chất ở nhiệt độ cụ thể. Các điểm trên đường cong đại diện cho dung dịch bão hoà, các điểm cao hơn là dung dịch quá bão hoà còn các điểm thấp hơn là dung dịch chưa bão hoà.

35g/100g H2O
50g/100g H2O
60g/100g H2O
70g/100g H2O
Tại , dung dịch trong nước là dung dịch bão hòa.
Áp dụng công thức tính với và .
Kết quả tương ứng với phương án D.
Các phương án A, B, C sai vì tính toán không đúng tỷ lệ khối lượng chất tan trên dung môi.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
ĐỘ TAN CỦA MUỐI KIM LOẠI KIỀM
Dung dịch là hỗn hợp đồng nhất của hai hoặc nhiều chất. Thường thì dung dịch sẽ được cấu thành bởi một chất tan hoà tan trong dung môi. Loại dung môi phổ biến nhất là nước, nên trong nhiều trường hợp, khi nói "dung dịch" thì ta thường ngầm hiểu là "dung dịch nước" (nghĩa là có dung môi là nước).
Dung dịch đã chứa lượng chất tan tối đa ở nhiệt độ cụ thể thì được gọi là dung dịch (đã) bão hoà. Còn dung dịch chứa lượng chất tan chưa tối đa thì gọi là dung dịch chưa bão hoà. Đối với một dung dịch muối bão hoà, khi làm nước bay hơi thì lượng nước còn lại không đủ để hoà tan muối — do đó, một phần muối sẽ bị tách ra ở dạng tinh thế - thường là tinh thể hydrate hoá (tinh thể ngậm nước, ví dụ ). Thông thường, độ tan sẽ được tính theo lượng chất tan cực đại (gam) có thể hòa tan trong 100g dung môi ở nhiệt độ xác định.
Đôi khi, một dung dịch có thể chứa lượng chất tan nhiều hơn cả dung dịch bão hoà và nó được gọi là dung dịch quá bão hoà. Đây là kiểu dung dịch rất kém bền, khi bị khuấy hoặc thêm vào một lượng nhỏ chất tan nữa thì lượng chất tan thừa ra sẽ nhanh chóng kết tinh khỏi dung dịch cho đến khi nồng độ bằng với của dung dịch bão hoà.
Đường cong độ tan là đồ thị biểu diễn sự biến đổi nồng độ của một dung dịch bão hoà theo nhiệt độ. Độ tan được biểu diễn trên trục tung (trục y), còn nhiệt độ được biểu diễn theo trục hoành (trục x). Từ đồ thị, có thể xác định độ tan của một chất ở nhiệt độ cụ thể. Các điểm trên đường cong đại diện cho dung dịch bão hoà, các điểm cao hơn là dung dịch quá bão hoà còn các điểm thấp hơn là dung dịch chưa bão hoà.

Khi đang thử điều chế dung dịch sodium carbonate bão hòa, một sinh viên đã thêm 106 g muối Na2CO3 vào 1000g nước ở 24°C và khuấy đều cho đến khi không hòa thêm chất tan được nữa. Sau khi lọc, cậu thu hồi lại được 26g Na2CO3 chưa hòa tan. Độ tan của Na2CO3 trong nước ở 24°C là [[____]] g/100 g H2O.
Khối lượng đã hòa tan là hiệu giữa lượng ban đầu và lượng chưa tan.
Áp dụng công thức tính độ tan với chất tan trong nước.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
ĐỘ TAN CỦA MUỐI KIM LOẠI KIỀM
Dung dịch là hỗn hợp đồng nhất của hai hoặc nhiều chất. Thường thì dung dịch sẽ được cấu thành bởi một chất tan hoà tan trong dung môi. Loại dung môi phổ biến nhất là nước, nên trong nhiều trường hợp, khi nói "dung dịch" thì ta thường ngầm hiểu là "dung dịch nước" (nghĩa là có dung môi là nước).
Dung dịch đã chứa lượng chất tan tối đa ở nhiệt độ cụ thể thì được gọi là dung dịch (đã) bão hoà. Còn dung dịch chứa lượng chất tan chưa tối đa thì gọi là dung dịch chưa bão hoà. Đối với một dung dịch muối bão hoà, khi làm nước bay hơi thì lượng nước còn lại không đủ để hoà tan muối — do đó, một phần muối sẽ bị tách ra ở dạng tinh thế - thường là tinh thể hydrate hoá (tinh thể ngậm nước, ví dụ ). Thông thường, độ tan sẽ được tính theo lượng chất tan cực đại (gam) có thể hòa tan trong 100g dung môi ở nhiệt độ xác định.
Đôi khi, một dung dịch có thể chứa lượng chất tan nhiều hơn cả dung dịch bão hoà và nó được gọi là dung dịch quá bão hoà. Đây là kiểu dung dịch rất kém bền, khi bị khuấy hoặc thêm vào một lượng nhỏ chất tan nữa thì lượng chất tan thừa ra sẽ nhanh chóng kết tinh khỏi dung dịch cho đến khi nồng độ bằng với của dung dịch bão hoà.
Đường cong độ tan là đồ thị biểu diễn sự biến đổi nồng độ của một dung dịch bão hoà theo nhiệt độ. Độ tan được biểu diễn trên trục tung (trục y), còn nhiệt độ được biểu diễn theo trục hoành (trục x). Từ đồ thị, có thể xác định độ tan của một chất ở nhiệt độ cụ thể. Các điểm trên đường cong đại diện cho dung dịch bão hoà, các điểm cao hơn là dung dịch quá bão hoà còn các điểm thấp hơn là dung dịch chưa bão hoà.

Nhiệt độ càng cao, độ tan của muối sodium nitrate càng tăng.
Tại 60°C độ tan của muối KNO3 lớn hơn độ tan của muối NaNO3.
Tại mọi nhiệt độ độ tan của muối NaNO3 lớn hơn của muối KNO3.
Ở 0°C 200 g nước có thể hòa tan tối đa 150g NaNO3.
Câu này chưa có lời giải.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
ĐỘ TAN CỦA MUỐI KIM LOẠI KIỀM
Dung dịch là hỗn hợp đồng nhất của hai hoặc nhiều chất. Thường thì dung dịch sẽ được cấu thành bởi một chất tan hoà tan trong dung môi. Loại dung môi phổ biến nhất là nước, nên trong nhiều trường hợp, khi nói "dung dịch" thì ta thường ngầm hiểu là "dung dịch nước" (nghĩa là có dung môi là nước).
Dung dịch đã chứa lượng chất tan tối đa ở nhiệt độ cụ thể thì được gọi là dung dịch (đã) bão hoà. Còn dung dịch chứa lượng chất tan chưa tối đa thì gọi là dung dịch chưa bão hoà. Đối với một dung dịch muối bão hoà, khi làm nước bay hơi thì lượng nước còn lại không đủ để hoà tan muối — do đó, một phần muối sẽ bị tách ra ở dạng tinh thế - thường là tinh thể hydrate hoá (tinh thể ngậm nước, ví dụ ). Thông thường, độ tan sẽ được tính theo lượng chất tan cực đại (gam) có thể hòa tan trong 100g dung môi ở nhiệt độ xác định.
Đôi khi, một dung dịch có thể chứa lượng chất tan nhiều hơn cả dung dịch bão hoà và nó được gọi là dung dịch quá bão hoà. Đây là kiểu dung dịch rất kém bền, khi bị khuấy hoặc thêm vào một lượng nhỏ chất tan nữa thì lượng chất tan thừa ra sẽ nhanh chóng kết tinh khỏi dung dịch cho đến khi nồng độ bằng với của dung dịch bão hoà.
Đường cong độ tan là đồ thị biểu diễn sự biến đổi nồng độ của một dung dịch bão hoà theo nhiệt độ. Độ tan được biểu diễn trên trục tung (trục y), còn nhiệt độ được biểu diễn theo trục hoành (trục x). Từ đồ thị, có thể xác định độ tan của một chất ở nhiệt độ cụ thể. Các điểm trên đường cong đại diện cho dung dịch bão hoà, các điểm cao hơn là dung dịch quá bão hoà còn các điểm thấp hơn là dung dịch chưa bão hoà.

Ở 60°C, dung dịch KNO₃ có độ tan nhỏ hơn NaNO₃ nên nếu hòa tan cùng khối lượng hai muối này vào 100 g nước thì dung dịch KNO₃ sẽ bão hòa trước.
Đúng.
Sai.
Với cùng nước, dung dịch đạt trạng thái bão hòa khi lượng muối hòa tan đúng bằng độ tan .
Vì , nên chỉ cần một lượng nhỏ hơn đã đạt trạng thái bão hòa.
Khi thêm dần một lượng muối vào nước, lượng đạt tới trước nên bão hòa trước.
Phương án A đúng vì nhận định phù hợp với lý thuyết độ tan; phương án B sai vì phủ nhận quy luật bão hòa cơ bản.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
ĐỘ TAN CỦA MUỐI KIM LOẠI KIỀM
Dung dịch là hỗn hợp đồng nhất của hai hoặc nhiều chất. Thường thì dung dịch sẽ được cấu thành bởi một chất tan hoà tan trong dung môi. Loại dung môi phổ biến nhất là nước, nên trong nhiều trường hợp, khi nói "dung dịch" thì ta thường ngầm hiểu là "dung dịch nước" (nghĩa là có dung môi là nước).
Dung dịch đã chứa lượng chất tan tối đa ở nhiệt độ cụ thể thì được gọi là dung dịch (đã) bão hoà. Còn dung dịch chứa lượng chất tan chưa tối đa thì gọi là dung dịch chưa bão hoà. Đối với một dung dịch muối bão hoà, khi làm nước bay hơi thì lượng nước còn lại không đủ để hoà tan muối — do đó, một phần muối sẽ bị tách ra ở dạng tinh thế - thường là tinh thể hydrate hoá (tinh thể ngậm nước, ví dụ ). Thông thường, độ tan sẽ được tính theo lượng chất tan cực đại (gam) có thể hòa tan trong 100g dung môi ở nhiệt độ xác định.
Đôi khi, một dung dịch có thể chứa lượng chất tan nhiều hơn cả dung dịch bão hoà và nó được gọi là dung dịch quá bão hoà. Đây là kiểu dung dịch rất kém bền, khi bị khuấy hoặc thêm vào một lượng nhỏ chất tan nữa thì lượng chất tan thừa ra sẽ nhanh chóng kết tinh khỏi dung dịch cho đến khi nồng độ bằng với của dung dịch bão hoà.
Đường cong độ tan là đồ thị biểu diễn sự biến đổi nồng độ của một dung dịch bão hoà theo nhiệt độ. Độ tan được biểu diễn trên trục tung (trục y), còn nhiệt độ được biểu diễn theo trục hoành (trục x). Từ đồ thị, có thể xác định độ tan của một chất ở nhiệt độ cụ thể. Các điểm trên đường cong đại diện cho dung dịch bão hoà, các điểm cao hơn là dung dịch quá bão hoà còn các điểm thấp hơn là dung dịch chưa bão hoà.

Một điểm nằm phía trên đường cong độ tan của NaNO₃ trên đồ thị luôn biểu diễn dung dịch bền vì chứa lượng chất tan lớn hơn dung dịch bão hòa.
Đúng.
Sai.
Theo thông tin, điểm nằm phía trên đường cong độ tan biểu diễn dung dịch quá bão hòa.
Dung dịch quá bão hòa là trạng thái kém bền, không phải dung dịch bền.
Phương án B đúng vì nhận định khẳng định dung dịch quá bão hòa là bền là sai hoàn toàn.
Phương án A sai vì trái ngược với tính chất kém bền của dung dịch quá bão hòa.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
Dopamine có công thức phân tử là C8H11NO2 (3,4-dihydroxyphenethylamine). Nó là một hóa chất hữu cơ được tạo ra từ chất tyrosine, có chức năng vừa là hormone vừa là chất dẫn truyền thần kinh và đóng vai trò quan trọng trong não và cơ thể. Nhiều người gọi dopamine là “hormone hạnh phúc” bởi chúng có nhiều tác dụng tốt đối với tinh thần và thể chất của con người. Thuốc tiêm dopamine (intropin) được sử dụng để điều trị các bệnh nhất định, chẳng hạn như huyết áp thấp, xảy ra khi bạn đang bị sốc, gây ra bởi cơn đau tim, chấn thương, phẫu thuật, suy tim, suy thận, và các bệnh nghiêm trọng khác. Một sinh viên đã điều tra tác động của intropin đối với một chất dẫn truyền thần kinh cụ thể.
Thí nghiệm 1
Lấy 10 ống nghiệm và đánh số thứ tự từ 1 đến 10, mỗi ống nghiệm chứa 7 ml dung dịch peptide
(chất dẫn truyền thần kinh). Tiến hành thêm 2 ml dung dịch intropin vào các ống nghiệm từ 1 đến 9, riêng ống nghiệm 10 được thêm 2 ml nước không có intropin. Sau đó, các ống nghiệm được khuấy với tốc độ không đổi trong bể nước ở các nhiệt độ khác nhau và được ủ nhiệt ở các khoảng thời gian khác nhau từ 0 đến 15 phút. Vào cuối giai đoạn ủ, thêm vào mỗi ống nghiệm 0,3 ml dung dịch NaCl.
Dung dịch NaCl có tác dụng dừng phản ứng giữa intropin và peptide. Kết tủa thu được sau phản ứng được lấy ra và đem đi sấy khô. Cân khối lượng của kết tủa (mg) để xác định lượng chất dopamine còn lại trong ống nghiệm. Các kết quả được thể hiện trong Bảng 1

Thí nghiệm 2
Lấy 8 ống nghiệm và đánh số thứ tự từ 11 đến 18, mỗi ống nghiệm được thêm vào 8 ml dung dịch peptide, sau đó thêm 2 ml dung dịch intropin. Các ống nghiệm được khuấy với tốc độ không đổi trong bể nước ở 10°C và được ủ nhiệt trong 15 phút. Ảnh hưởng của tính acid đối với chất dẫn truyền thần kinh được quan sát bằng cách thay đổi nồng độ acid (sử dụng thang đo pH). Lượng chất dẫn truyền thần kinh tương đối có trong mỗi ống được xác định tương tự như Thí nghiệm 1, bằng cách thêm dung dịch NaCl vào mỗi ống nghiệm. Kết quả được thể hiện trong Bảng 2.

Đúng.
Sai.
Dopamine là nên hai nhóm nằm kề nhau trên vòng benzen.
Đánh số lại để nhóm chức chính có locant nhỏ nhất, thu được .
Mạch tương ứng với nhóm và gắn ở vị trí .
Tên đúng là \mathrm{4\text{-(2-aminoethyl)benzene-1,2-diol}, khác tên đã cho ở locant của hai nhóm .
Chọn vì tên \mathrm{4\text{-(2-aminoethyl)benzene-1,4-diol} xác định sai vị trí hai nhóm hydroxyl.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
Dopamine có công thức phân tử là C8H11NO2 (3,4-dihydroxyphenethylamine). Nó là một hóa chất hữu cơ được tạo ra từ chất tyrosine, có chức năng vừa là hormone vừa là chất dẫn truyền thần kinh và đóng vai trò quan trọng trong não và cơ thể. Nhiều người gọi dopamine là “hormone hạnh phúc” bởi chúng có nhiều tác dụng tốt đối với tinh thần và thể chất của con người. Thuốc tiêm dopamine (intropin) được sử dụng để điều trị các bệnh nhất định, chẳng hạn như huyết áp thấp, xảy ra khi bạn đang bị sốc, gây ra bởi cơn đau tim, chấn thương, phẫu thuật, suy tim, suy thận, và các bệnh nghiêm trọng khác. Một sinh viên đã điều tra tác động của intropin đối với một chất dẫn truyền thần kinh cụ thể.
Thí nghiệm 1
Lấy 10 ống nghiệm và đánh số thứ tự từ 1 đến 10, mỗi ống nghiệm chứa 7 ml dung dịch peptide
(chất dẫn truyền thần kinh). Tiến hành thêm 2 ml dung dịch intropin vào các ống nghiệm từ 1 đến 9, riêng ống nghiệm 10 được thêm 2 ml nước không có intropin. Sau đó, các ống nghiệm được khuấy với tốc độ không đổi trong bể nước ở các nhiệt độ khác nhau và được ủ nhiệt ở các khoảng thời gian khác nhau từ 0 đến 15 phút. Vào cuối giai đoạn ủ, thêm vào mỗi ống nghiệm 0,3 ml dung dịch NaCl.
Dung dịch NaCl có tác dụng dừng phản ứng giữa intropin và peptide. Kết tủa thu được sau phản ứng được lấy ra và đem đi sấy khô. Cân khối lượng của kết tủa (mg) để xác định lượng chất dopamine còn lại trong ống nghiệm. Các kết quả được thể hiện trong Bảng 1

Thí nghiệm 2
Lấy 8 ống nghiệm và đánh số thứ tự từ 11 đến 18, mỗi ống nghiệm được thêm vào 8 ml dung dịch peptide, sau đó thêm 2 ml dung dịch intropin. Các ống nghiệm được khuấy với tốc độ không đổi trong bể nước ở 10°C và được ủ nhiệt trong 15 phút. Ảnh hưởng của tính acid đối với chất dẫn truyền thần kinh được quan sát bằng cách thay đổi nồng độ acid (sử dụng thang đo pH). Lượng chất dẫn truyền thần kinh tương đối có trong mỗi ống được xác định tương tự như Thí nghiệm 1, bằng cách thêm dung dịch NaCl vào mỗi ống nghiệm. Kết quả được thể hiện trong Bảng 2.

Thể tích dung dịch peptide được sử dụng trong Thí nghiệm 2 cao hơn so với Thí nghiệm 1.
Nhiệt độ được giữ không đổi trong Thí nghiệm 1 và thay đổi trong Thí nghiệm 2.
NaCl không được thêm vào các ống nghiệm sau khi ủ ở Thí nghiệm 2, nhưng được thêm vào ở Thí nghiệm 1.
Thể tích chất lỏng còn lại trong các ống nghiệm được đo trong Thí nghiệm 1 nhưng không được đo trong Thí nghiệm 2.
Thí nghiệm 1 sử dụng peptide và thay đổi nhiệt độ, trong khi Thí nghiệm 2 sử dụng peptide và giữ nhiệt độ cố định ở .
Sự khác biệt rõ ràng nằm ở thể tích peptide ban đầu và biến số được kiểm soát.
Phương án A đúng vì Thí nghiệm 2 dùng peptide còn Thí nghiệm 1 dùng .
Các phương án B, C, D sai vì B sai do Thí nghiệm 2 giữ nhiệt độ không đổi; C sai do cả hai thí nghiệm đều thêm ; D sai do cả hai đều đo khối lượng kết tủa.
Dựa vào thông tin sau và trả lời các câu hỏi:
Dopamine có công thức phân tử là C8H11NO2 (3,4-dihydroxyphenethylamine). Nó là một hóa chất hữu cơ được tạo ra từ chất tyrosine, có chức năng vừa là hormone vừa là chất dẫn truyền thần kinh và đóng vai trò quan trọng trong não và cơ thể. Nhiều người gọi dopamine là “hormone hạnh phúc” bởi chúng có nhiều tác dụng tốt đối với tinh thần và thể chất của con người. Thuốc tiêm dopamine (intropin) được sử dụng để điều trị các bệnh nhất định, chẳng hạn như huyết áp thấp, xảy ra khi bạn đang bị sốc, gây ra bởi cơn đau tim, chấn thương, phẫu thuật, suy tim, suy thận, và các bệnh nghiêm trọng khác. Một sinh viên đã điều tra tác động của intropin đối với một chất dẫn truyền thần kinh cụ thể.
Thí nghiệm 1
Lấy 10 ống nghiệm và đánh số thứ tự từ 1 đến 10, mỗi ống nghiệm chứa 7 ml dung dịch peptide
(chất dẫn truyền thần kinh). Tiến hành thêm 2 ml dung dịch intropin vào các ống nghiệm từ 1 đến 9, riêng ống nghiệm 10 được thêm 2 ml nước không có intropin. Sau đó, các ống nghiệm được khuấy với tốc độ không đổi trong bể nước ở các nhiệt độ khác nhau và được ủ nhiệt ở các khoảng thời gian khác nhau từ 0 đến 15 phút. Vào cuối giai đoạn ủ, thêm vào mỗi ống nghiệm 0,3 ml dung dịch NaCl.
Dung dịch NaCl có tác dụng dừng phản ứng giữa intropin và peptide. Kết tủa thu được sau phản ứng được lấy ra và đem đi sấy khô. Cân khối lượng của kết tủa (mg) để xác định lượng chất dopamine còn lại trong ống nghiệm. Các kết quả được thể hiện trong Bảng 1

Thí nghiệm 2
Lấy 8 ống nghiệm và đánh số thứ tự từ 11 đến 18, mỗi ống nghiệm được thêm vào 8 ml dung dịch peptide, sau đó thêm 2 ml dung dịch intropin. Các ống nghiệm được khuấy với tốc độ không đổi trong bể nước ở 10°C và được ủ nhiệt trong 15 phút. Ảnh hưởng của tính acid đối với chất dẫn truyền thần kinh được quan sát bằng cách thay đổi nồng độ acid (sử dụng thang đo pH). Lượng chất dẫn truyền thần kinh tương đối có trong mỗi ống được xác định tương tự như Thí nghiệm 1, bằng cách thêm dung dịch NaCl vào mỗi ống nghiệm. Kết quả được thể hiện trong Bảng 2.

4,1 mg.
3,5 mg.
2,1 mg.
1,4 mg.
Quan sát bảng 1 của Thí nghiệm 1, tìm hàng có giá trị thời gian phút.
Tại hàng này, giá trị khối lượng kết tủa tương ứng là mg.
Kết quả thu được là mg, tương ứng với phương án D.
Các phương án A, B, C sai vì đó là giá trị kết tủa tại các thời điểm ủ nhiệt khác nhau (ví dụ phút) trong thí nghiệm.
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đáp án | đường; nước | - | D | 8 | A | A | B | B | A | D |