Đáp án & lời giải chi tiết: Đề thi thử tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn THPT Lam Kinh Sở GD&ĐT Thanh Hóa năm 2026

Thi Tốt nghiệp THPTMôn Ngữ vănNăm 20267 câuChuẩn GDPT mới

ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Câu 1

(Tóm tắt: Sang tháng chín rồi mà vẫn có bão to. Bão tàn phá ruộng vườn, nhà cửa khiến bao người mất trắng. Ai nấy cũng đều xót xa)

Nhưng trận bão ít nhất cũng làm cho một người sung sướng. Ấy là Thai cao kều. Không phải Thai là một kẻ dở hơi. Nhưng hắn chỉ có hai bàn tay trắng, những thằng không có của không bao giờ mất của.

Vốn xưa kia Thai cũng có vườn. Có ba sào. Chẳng phải của ông cha để lại cho. Ông cha hắn cũng nghèo. Lúc sống cơ nghiệp có bao nhiêu thì lúc chết lại quây gói vào mà mang đi hết. () Ba sào vườn của hắn, nguyên do là của ông lý Biên cho hắn. Hồi ấy hắn làm đầy tớ nhà ông lý. Chính vào hồi kinh tế. Thóc có hào tám, hai hào một thúng. Làm ruộng không đủ tiền trâu bò với tiền nộp thuế. Người ta lũ lượt kéo nhau đi mộ phu, đi lên rừng. Vườn, ruộng ế. Những mảnh tốt còn có người muốn giữ. Những mảnh xấu, chẳng có ai còn thiết. Người ta bỏ thuế. Lý trưởng sợ không có gì mà nộp đậy lại được, mang gán cho bà con thân thuộc, người một mảnh, người vài mảnh. Còn lại mảnh ba sào đất bãi, không ai chịu nhận, ông bèn cho Thai. Cho thì lấy vậy. Dẫu chẳng được lợi lộc gì thì cũng không phải thiệt. Đủ nộp thuế là phần nhất. Không đủ thì cứ ì ra đấy. Hắn là đầy tớ của ông lý, không lẽ ông giết hắn? Ngày ấy hắn chưa vợ, chưa con gì.

Mấy năm sau, ông lý Biên từ lý trưởng. Người khác lên thay. Thai không thể ăn vườn mà không nộp thuế. Hắn đã toan bỏ phắt, nhưng không bỏ được. Bởi bây giờ hắn đã trót đa mang vào cái cảnh vợ con. Vợ hắn bảo rằng: Cái vườn cũng như một cái xương để gặm dần. Thị nhất định cứ giữ khư khư lấy cái xương ấy, không chịu nhả. Sự co quắp của đàn bà thật là khó chịu nhưng nhiều khi có lý. Bởi vì cái thời mọi cái rẻ như bèo dần dần phải qua đi. Thóc gạo trở lại giá bình thường, rồi quá giá bình thường. Một thùng sắt tây đã có kì lên đồng tám. Gấp mười lần khi trước. Những người ăn đong méo mặt. Ngày nắng còn có thể đong được gạo, ngày mưa, nhiều khi có tiền mà cũng đành phải nhịn. Cầm rá ra hàng gạo, đố ai thấy đầu hàng gạo đâu; người đi đong chen chúc. Hàng gạo vừa bán vừa mắng xa xả, người mua cũng phải lăn lưng vào. Ờ! Bây giờ thì vườn, ruộng sao mà quý thế! Ba sào vườn của Thai bỗng nhiên có giá. Nó đã không còn là xương nữa. Nó là miếng nạc. Biết bao nhiêu anh thèm! Hồi đầu năm, có người trả trăm hai. Rồi có người trả trăm ba. Rồi có người trả trăm tư. Hồi tháng năm vừa rồi, thấy hắn phải chạy tiền nộp thuế, có anh cay mua quá, trả luôn trăm sáu. Đã ghê chưa? Chưa bao giờ hắn tưởng hắn có cả một cơ nghiệp to đến thế. Ngót hai trăm đồng bạc!

Vợ hắn vênh mặt lên mà bảo: Đấy chả đòi bán mãi đi! Giá bán rồi thì bây giờ nhìn người ta ăn mà xít xoa.

Hắn cười: Người ta đùa đấy chứ ai chịu bán? Có ba sào vườn bán đi thì ở đâu?

Úi chào!

  • Thật chứ!.. Bây giờ cứ trả hai trăm bạc, tôi có bán thì cứ phỉ vào mặt tôi.

Có người biết thế. Người ấy dòm ngó cái vườn của Thai lâu lắm. Y biết rằng Thai túng, nghĩa là cái mồi còn có thể giằng ra được. Miễn là phải khéo. Y chờ từng cơ hội. Mà cơ hội thì này đây: Một hôm y thấy Thai đến sòng sóc đĩa. Dấu hiệu này rất tốt. Bởi đến sòng sóc đĩa thì phải đánh. Đánh thì thua hoặc được. Được thì đánh nữa cho đến bao giờ hóa thua. Kết cục thì bao giờ cũng thua.

Y chờ lúc đó. Lúc đó đã đến, như lời y đoán. Y cho Thai vay vài chục. Rồi y lại cho Thai vài chục nữa, rồi vài chục nữa. Sau cùng thì y gạ Thai cố vườn. Cố thôi, chứ y không có tiền mua đâu. Không muốn cố thì xoay tiền mà trả y. Y không cho vay thêm nữa. Vay nhiều rồi. Xoay? Nhưng mà xoay ở đâu? Xoay đâu cũng phải lãi mười phân. Thôi thì cố mẹ nó cái vườn cho xong! Thai nghĩ thế, bởi vì hắn đã thua cay lắm. Cần phải gỡ. Dẫu phải bán thân hắn đi để mà gỡ, hắn cũng không ngần ngại. Ấy thế là cái vườn mất. Bởi vì cái vườn bán có đắt khét mới được hai trăm thì người lấy cố lấy luôn cho hắn những trăm hai. Trăm hai, trăm hai, viết là hai trăm cho cẩn thận, do cái lẽ trong văn tự chỉ có thể nói: Lãi y như quốc lệ. Y như quốc lệ nghĩa là đồng bạc, tháng có một xu. Tiền để có mục ra, cũng không cho vay nhẹ lãi như thế. Vậy thì viết tăng lên hai trăm cũng được, nhưng đến lúc chuộc thì cứ số trăm hai tính lãi mười phân mà trả. Người có tiền bỏ ra, bao giờ cũng muốn nắm đằng chuôi như vậy. Được! Được! Muốn thế nào thì thế! Thai cần tiền..

Chỉ ra dấu hiệu nhận biết ngôi kể trong đoạn trích.
Đáp án đúng: Ngôi kể thứ ba; người kể chuyện giấu mình, gọi nhân vật là “hắn”, “Thai”.

Câu này chưa có lời giải.

Câu 2

(Tóm tắt: Sang tháng chín rồi mà vẫn có bão to. Bão tàn phá ruộng vườn, nhà cửa khiến bao người mất trắng. Ai nấy cũng đều xót xa)

Nhưng trận bão ít nhất cũng làm cho một người sung sướng. Ấy là Thai cao kều. Không phải Thai là một kẻ dở hơi. Nhưng hắn chỉ có hai bàn tay trắng, những thằng không có của không bao giờ mất của.

Vốn xưa kia Thai cũng có vườn. Có ba sào. Chẳng phải của ông cha để lại cho. Ông cha hắn cũng nghèo. Lúc sống cơ nghiệp có bao nhiêu thì lúc chết lại quây gói vào mà mang đi hết. () Ba sào vườn của hắn, nguyên do là của ông lý Biên cho hắn. Hồi ấy hắn làm đầy tớ nhà ông lý. Chính vào hồi kinh tế. Thóc có hào tám, hai hào một thúng. Làm ruộng không đủ tiền trâu bò với tiền nộp thuế. Người ta lũ lượt kéo nhau đi mộ phu, đi lên rừng. Vườn, ruộng ế. Những mảnh tốt còn có người muốn giữ. Những mảnh xấu, chẳng có ai còn thiết. Người ta bỏ thuế. Lý trưởng sợ không có gì mà nộp đậy lại được, mang gán cho bà con thân thuộc, người một mảnh, người vài mảnh. Còn lại mảnh ba sào đất bãi, không ai chịu nhận, ông bèn cho Thai. Cho thì lấy vậy. Dẫu chẳng được lợi lộc gì thì cũng không phải thiệt. Đủ nộp thuế là phần nhất. Không đủ thì cứ ì ra đấy. Hắn là đầy tớ của ông lý, không lẽ ông giết hắn? Ngày ấy hắn chưa vợ, chưa con gì.

Mấy năm sau, ông lý Biên từ lý trưởng. Người khác lên thay. Thai không thể ăn vườn mà không nộp thuế. Hắn đã toan bỏ phắt, nhưng không bỏ được. Bởi bây giờ hắn đã trót đa mang vào cái cảnh vợ con. Vợ hắn bảo rằng: Cái vườn cũng như một cái xương để gặm dần. Thị nhất định cứ giữ khư khư lấy cái xương ấy, không chịu nhả. Sự co quắp của đàn bà thật là khó chịu nhưng nhiều khi có lý. Bởi vì cái thời mọi cái rẻ như bèo dần dần phải qua đi. Thóc gạo trở lại giá bình thường, rồi quá giá bình thường. Một thùng sắt tây đã có kì lên đồng tám. Gấp mười lần khi trước. Những người ăn đong méo mặt. Ngày nắng còn có thể đong được gạo, ngày mưa, nhiều khi có tiền mà cũng đành phải nhịn. Cầm rá ra hàng gạo, đố ai thấy đầu hàng gạo đâu; người đi đong chen chúc. Hàng gạo vừa bán vừa mắng xa xả, người mua cũng phải lăn lưng vào. Ờ! Bây giờ thì vườn, ruộng sao mà quý thế! Ba sào vườn của Thai bỗng nhiên có giá. Nó đã không còn là xương nữa. Nó là miếng nạc. Biết bao nhiêu anh thèm! Hồi đầu năm, có người trả trăm hai. Rồi có người trả trăm ba. Rồi có người trả trăm tư. Hồi tháng năm vừa rồi, thấy hắn phải chạy tiền nộp thuế, có anh cay mua quá, trả luôn trăm sáu. Đã ghê chưa? Chưa bao giờ hắn tưởng hắn có cả một cơ nghiệp to đến thế. Ngót hai trăm đồng bạc!

Vợ hắn vênh mặt lên mà bảo: Đấy chả đòi bán mãi đi! Giá bán rồi thì bây giờ nhìn người ta ăn mà xít xoa.

Hắn cười: Người ta đùa đấy chứ ai chịu bán? Có ba sào vườn bán đi thì ở đâu?

Úi chào!

  • Thật chứ!.. Bây giờ cứ trả hai trăm bạc, tôi có bán thì cứ phỉ vào mặt tôi.

Có người biết thế. Người ấy dòm ngó cái vườn của Thai lâu lắm. Y biết rằng Thai túng, nghĩa là cái mồi còn có thể giằng ra được. Miễn là phải khéo. Y chờ từng cơ hội. Mà cơ hội thì này đây: Một hôm y thấy Thai đến sòng sóc đĩa. Dấu hiệu này rất tốt. Bởi đến sòng sóc đĩa thì phải đánh. Đánh thì thua hoặc được. Được thì đánh nữa cho đến bao giờ hóa thua. Kết cục thì bao giờ cũng thua.

Y chờ lúc đó. Lúc đó đã đến, như lời y đoán. Y cho Thai vay vài chục. Rồi y lại cho Thai vài chục nữa, rồi vài chục nữa. Sau cùng thì y gạ Thai cố vườn. Cố thôi, chứ y không có tiền mua đâu. Không muốn cố thì xoay tiền mà trả y. Y không cho vay thêm nữa. Vay nhiều rồi. Xoay? Nhưng mà xoay ở đâu? Xoay đâu cũng phải lãi mười phân. Thôi thì cố mẹ nó cái vườn cho xong! Thai nghĩ thế, bởi vì hắn đã thua cay lắm. Cần phải gỡ. Dẫu phải bán thân hắn đi để mà gỡ, hắn cũng không ngần ngại. Ấy thế là cái vườn mất. Bởi vì cái vườn bán có đắt khét mới được hai trăm thì người lấy cố lấy luôn cho hắn những trăm hai. Trăm hai, trăm hai, viết là hai trăm cho cẩn thận, do cái lẽ trong văn tự chỉ có thể nói: Lãi y như quốc lệ. Y như quốc lệ nghĩa là đồng bạc, tháng có một xu. Tiền để có mục ra, cũng không cho vay nhẹ lãi như thế. Vậy thì viết tăng lên hai trăm cũng được, nhưng đến lúc chuộc thì cứ số trăm hai tính lãi mười phân mà trả. Người có tiền bỏ ra, bao giờ cũng muốn nắm đằng chuôi như vậy. Được! Được! Muốn thế nào thì thế! Thai cần tiền..

Theo đoạn, điều gì khiến nhân vật Thai sung sướng khi bão về?
Đáp án đúng: Thai sung sướng vì hắn không có của cải nên không bị thiệt hại sau bão (“những thằng không có của không bao giờ mất của”).

Câu này chưa có lời giải.

Câu 3

(Tóm tắt: Sang tháng chín rồi mà vẫn có bão to. Bão tàn phá ruộng vườn, nhà cửa khiến bao người mất trắng. Ai nấy cũng đều xót xa)

Nhưng trận bão ít nhất cũng làm cho một người sung sướng. Ấy là Thai cao kều. Không phải Thai là một kẻ dở hơi. Nhưng hắn chỉ có hai bàn tay trắng, những thằng không có của không bao giờ mất của.

Vốn xưa kia Thai cũng có vườn. Có ba sào. Chẳng phải của ông cha để lại cho. Ông cha hắn cũng nghèo. Lúc sống cơ nghiệp có bao nhiêu thì lúc chết lại quây gói vào mà mang đi hết. () Ba sào vườn của hắn, nguyên do là của ông lý Biên cho hắn. Hồi ấy hắn làm đầy tớ nhà ông lý. Chính vào hồi kinh tế. Thóc có hào tám, hai hào một thúng. Làm ruộng không đủ tiền trâu bò với tiền nộp thuế. Người ta lũ lượt kéo nhau đi mộ phu, đi lên rừng. Vườn, ruộng ế. Những mảnh tốt còn có người muốn giữ. Những mảnh xấu, chẳng có ai còn thiết. Người ta bỏ thuế. Lý trưởng sợ không có gì mà nộp đậy lại được, mang gán cho bà con thân thuộc, người một mảnh, người vài mảnh. Còn lại mảnh ba sào đất bãi, không ai chịu nhận, ông bèn cho Thai. Cho thì lấy vậy. Dẫu chẳng được lợi lộc gì thì cũng không phải thiệt. Đủ nộp thuế là phần nhất. Không đủ thì cứ ì ra đấy. Hắn là đầy tớ của ông lý, không lẽ ông giết hắn? Ngày ấy hắn chưa vợ, chưa con gì.

Mấy năm sau, ông lý Biên từ lý trưởng. Người khác lên thay. Thai không thể ăn vườn mà không nộp thuế. Hắn đã toan bỏ phắt, nhưng không bỏ được. Bởi bây giờ hắn đã trót đa mang vào cái cảnh vợ con. Vợ hắn bảo rằng: Cái vườn cũng như một cái xương để gặm dần. Thị nhất định cứ giữ khư khư lấy cái xương ấy, không chịu nhả. Sự co quắp của đàn bà thật là khó chịu nhưng nhiều khi có lý. Bởi vì cái thời mọi cái rẻ như bèo dần dần phải qua đi. Thóc gạo trở lại giá bình thường, rồi quá giá bình thường. Một thùng sắt tây đã có kì lên đồng tám. Gấp mười lần khi trước. Những người ăn đong méo mặt. Ngày nắng còn có thể đong được gạo, ngày mưa, nhiều khi có tiền mà cũng đành phải nhịn. Cầm rá ra hàng gạo, đố ai thấy đầu hàng gạo đâu; người đi đong chen chúc. Hàng gạo vừa bán vừa mắng xa xả, người mua cũng phải lăn lưng vào. Ờ! Bây giờ thì vườn, ruộng sao mà quý thế! Ba sào vườn của Thai bỗng nhiên có giá. Nó đã không còn là xương nữa. Nó là miếng nạc. Biết bao nhiêu anh thèm! Hồi đầu năm, có người trả trăm hai. Rồi có người trả trăm ba. Rồi có người trả trăm tư. Hồi tháng năm vừa rồi, thấy hắn phải chạy tiền nộp thuế, có anh cay mua quá, trả luôn trăm sáu. Đã ghê chưa? Chưa bao giờ hắn tưởng hắn có cả một cơ nghiệp to đến thế. Ngót hai trăm đồng bạc!

Vợ hắn vênh mặt lên mà bảo: Đấy chả đòi bán mãi đi! Giá bán rồi thì bây giờ nhìn người ta ăn mà xít xoa.

Hắn cười: Người ta đùa đấy chứ ai chịu bán? Có ba sào vườn bán đi thì ở đâu?

Úi chào!

  • Thật chứ!.. Bây giờ cứ trả hai trăm bạc, tôi có bán thì cứ phỉ vào mặt tôi.

Có người biết thế. Người ấy dòm ngó cái vườn của Thai lâu lắm. Y biết rằng Thai túng, nghĩa là cái mồi còn có thể giằng ra được. Miễn là phải khéo. Y chờ từng cơ hội. Mà cơ hội thì này đây: Một hôm y thấy Thai đến sòng sóc đĩa. Dấu hiệu này rất tốt. Bởi đến sòng sóc đĩa thì phải đánh. Đánh thì thua hoặc được. Được thì đánh nữa cho đến bao giờ hóa thua. Kết cục thì bao giờ cũng thua.

Y chờ lúc đó. Lúc đó đã đến, như lời y đoán. Y cho Thai vay vài chục. Rồi y lại cho Thai vài chục nữa, rồi vài chục nữa. Sau cùng thì y gạ Thai cố vườn. Cố thôi, chứ y không có tiền mua đâu. Không muốn cố thì xoay tiền mà trả y. Y không cho vay thêm nữa. Vay nhiều rồi. Xoay? Nhưng mà xoay ở đâu? Xoay đâu cũng phải lãi mười phân. Thôi thì cố mẹ nó cái vườn cho xong! Thai nghĩ thế, bởi vì hắn đã thua cay lắm. Cần phải gỡ. Dẫu phải bán thân hắn đi để mà gỡ, hắn cũng không ngần ngại. Ấy thế là cái vườn mất. Bởi vì cái vườn bán có đắt khét mới được hai trăm thì người lấy cố lấy luôn cho hắn những trăm hai. Trăm hai, trăm hai, viết là hai trăm cho cẩn thận, do cái lẽ trong văn tự chỉ có thể nói: Lãi y như quốc lệ. Y như quốc lệ nghĩa là đồng bạc, tháng có một xu. Tiền để có mục ra, cũng không cho vay nhẹ lãi như thế. Vậy thì viết tăng lên hai trăm cũng được, nhưng đến lúc chuộc thì cứ số trăm hai tính lãi mười phân mà trả. Người có tiền bỏ ra, bao giờ cũng muốn nắm đằng chuôi như vậy. Được! Được! Muốn thế nào thì thế! Thai cần tiền..

Phân tích hiệu quả của câu hỏi tu từ được sử dụng trong câu văn sau:
“Xoay? Nhưng mà xoay ở đâu?”.
Đáp án đúng: Câu hỏi tu từ thể hiện sự bế tắc, tuyệt vọng của nhân vật; nhấn mạnh hoàn cảnh không lối thoát khi không thể xoay tiền; góp phần làm nổi bật bi kịch của người nông dân nghèo.

Câu này chưa có lời giải.

Câu 4

(Tóm tắt: Sang tháng chín rồi mà vẫn có bão to. Bão tàn phá ruộng vườn, nhà cửa khiến bao người mất trắng. Ai nấy cũng đều xót xa)

Nhưng trận bão ít nhất cũng làm cho một người sung sướng. Ấy là Thai cao kều. Không phải Thai là một kẻ dở hơi. Nhưng hắn chỉ có hai bàn tay trắng, những thằng không có của không bao giờ mất của.

Vốn xưa kia Thai cũng có vườn. Có ba sào. Chẳng phải của ông cha để lại cho. Ông cha hắn cũng nghèo. Lúc sống cơ nghiệp có bao nhiêu thì lúc chết lại quây gói vào mà mang đi hết. () Ba sào vườn của hắn, nguyên do là của ông lý Biên cho hắn. Hồi ấy hắn làm đầy tớ nhà ông lý. Chính vào hồi kinh tế. Thóc có hào tám, hai hào một thúng. Làm ruộng không đủ tiền trâu bò với tiền nộp thuế. Người ta lũ lượt kéo nhau đi mộ phu, đi lên rừng. Vườn, ruộng ế. Những mảnh tốt còn có người muốn giữ. Những mảnh xấu, chẳng có ai còn thiết. Người ta bỏ thuế. Lý trưởng sợ không có gì mà nộp đậy lại được, mang gán cho bà con thân thuộc, người một mảnh, người vài mảnh. Còn lại mảnh ba sào đất bãi, không ai chịu nhận, ông bèn cho Thai. Cho thì lấy vậy. Dẫu chẳng được lợi lộc gì thì cũng không phải thiệt. Đủ nộp thuế là phần nhất. Không đủ thì cứ ì ra đấy. Hắn là đầy tớ của ông lý, không lẽ ông giết hắn? Ngày ấy hắn chưa vợ, chưa con gì.

Mấy năm sau, ông lý Biên từ lý trưởng. Người khác lên thay. Thai không thể ăn vườn mà không nộp thuế. Hắn đã toan bỏ phắt, nhưng không bỏ được. Bởi bây giờ hắn đã trót đa mang vào cái cảnh vợ con. Vợ hắn bảo rằng: Cái vườn cũng như một cái xương để gặm dần. Thị nhất định cứ giữ khư khư lấy cái xương ấy, không chịu nhả. Sự co quắp của đàn bà thật là khó chịu nhưng nhiều khi có lý. Bởi vì cái thời mọi cái rẻ như bèo dần dần phải qua đi. Thóc gạo trở lại giá bình thường, rồi quá giá bình thường. Một thùng sắt tây đã có kì lên đồng tám. Gấp mười lần khi trước. Những người ăn đong méo mặt. Ngày nắng còn có thể đong được gạo, ngày mưa, nhiều khi có tiền mà cũng đành phải nhịn. Cầm rá ra hàng gạo, đố ai thấy đầu hàng gạo đâu; người đi đong chen chúc. Hàng gạo vừa bán vừa mắng xa xả, người mua cũng phải lăn lưng vào. Ờ! Bây giờ thì vườn, ruộng sao mà quý thế! Ba sào vườn của Thai bỗng nhiên có giá. Nó đã không còn là xương nữa. Nó là miếng nạc. Biết bao nhiêu anh thèm! Hồi đầu năm, có người trả trăm hai. Rồi có người trả trăm ba. Rồi có người trả trăm tư. Hồi tháng năm vừa rồi, thấy hắn phải chạy tiền nộp thuế, có anh cay mua quá, trả luôn trăm sáu. Đã ghê chưa? Chưa bao giờ hắn tưởng hắn có cả một cơ nghiệp to đến thế. Ngót hai trăm đồng bạc!

Vợ hắn vênh mặt lên mà bảo: Đấy chả đòi bán mãi đi! Giá bán rồi thì bây giờ nhìn người ta ăn mà xít xoa.

Hắn cười: Người ta đùa đấy chứ ai chịu bán? Có ba sào vườn bán đi thì ở đâu?

Úi chào!

  • Thật chứ!.. Bây giờ cứ trả hai trăm bạc, tôi có bán thì cứ phỉ vào mặt tôi.

Có người biết thế. Người ấy dòm ngó cái vườn của Thai lâu lắm. Y biết rằng Thai túng, nghĩa là cái mồi còn có thể giằng ra được. Miễn là phải khéo. Y chờ từng cơ hội. Mà cơ hội thì này đây: Một hôm y thấy Thai đến sòng sóc đĩa. Dấu hiệu này rất tốt. Bởi đến sòng sóc đĩa thì phải đánh. Đánh thì thua hoặc được. Được thì đánh nữa cho đến bao giờ hóa thua. Kết cục thì bao giờ cũng thua.

Y chờ lúc đó. Lúc đó đã đến, như lời y đoán. Y cho Thai vay vài chục. Rồi y lại cho Thai vài chục nữa, rồi vài chục nữa. Sau cùng thì y gạ Thai cố vườn. Cố thôi, chứ y không có tiền mua đâu. Không muốn cố thì xoay tiền mà trả y. Y không cho vay thêm nữa. Vay nhiều rồi. Xoay? Nhưng mà xoay ở đâu? Xoay đâu cũng phải lãi mười phân. Thôi thì cố mẹ nó cái vườn cho xong! Thai nghĩ thế, bởi vì hắn đã thua cay lắm. Cần phải gỡ. Dẫu phải bán thân hắn đi để mà gỡ, hắn cũng không ngần ngại. Ấy thế là cái vườn mất. Bởi vì cái vườn bán có đắt khét mới được hai trăm thì người lấy cố lấy luôn cho hắn những trăm hai. Trăm hai, trăm hai, viết là hai trăm cho cẩn thận, do cái lẽ trong văn tự chỉ có thể nói: Lãi y như quốc lệ. Y như quốc lệ nghĩa là đồng bạc, tháng có một xu. Tiền để có mục ra, cũng không cho vay nhẹ lãi như thế. Vậy thì viết tăng lên hai trăm cũng được, nhưng đến lúc chuộc thì cứ số trăm hai tính lãi mười phân mà trả. Người có tiền bỏ ra, bao giờ cũng muốn nắm đằng chuôi như vậy. Được! Được! Muốn thế nào thì thế! Thai cần tiền..

Nguyên nhân nào khiến cho Thai mất đi mảnh vườn? Nguyên nhân đó cho ta hiểu gì về hiện thực xã hội đương thời?
Đáp án đúng: Thai sa vào cờ bạc, nợ nần và bị kẻ khác lợi dụng; hoàn cảnh nghèo túng, thiếu hiểu biết. Qua đó phản ánh hiện thực xã hội bất công, người nghèo dễ bị bóc lột và rơi vào vòng xoáy tha hóa.

Câu này chưa có lời giải.

Câu 5

(Tóm tắt: Sang tháng chín rồi mà vẫn có bão to. Bão tàn phá ruộng vườn, nhà cửa khiến bao người mất trắng. Ai nấy cũng đều xót xa)

Nhưng trận bão ít nhất cũng làm cho một người sung sướng. Ấy là Thai cao kều. Không phải Thai là một kẻ dở hơi. Nhưng hắn chỉ có hai bàn tay trắng, những thằng không có của không bao giờ mất của.

Vốn xưa kia Thai cũng có vườn. Có ba sào. Chẳng phải của ông cha để lại cho. Ông cha hắn cũng nghèo. Lúc sống cơ nghiệp có bao nhiêu thì lúc chết lại quây gói vào mà mang đi hết. () Ba sào vườn của hắn, nguyên do là của ông lý Biên cho hắn. Hồi ấy hắn làm đầy tớ nhà ông lý. Chính vào hồi kinh tế. Thóc có hào tám, hai hào một thúng. Làm ruộng không đủ tiền trâu bò với tiền nộp thuế. Người ta lũ lượt kéo nhau đi mộ phu, đi lên rừng. Vườn, ruộng ế. Những mảnh tốt còn có người muốn giữ. Những mảnh xấu, chẳng có ai còn thiết. Người ta bỏ thuế. Lý trưởng sợ không có gì mà nộp đậy lại được, mang gán cho bà con thân thuộc, người một mảnh, người vài mảnh. Còn lại mảnh ba sào đất bãi, không ai chịu nhận, ông bèn cho Thai. Cho thì lấy vậy. Dẫu chẳng được lợi lộc gì thì cũng không phải thiệt. Đủ nộp thuế là phần nhất. Không đủ thì cứ ì ra đấy. Hắn là đầy tớ của ông lý, không lẽ ông giết hắn? Ngày ấy hắn chưa vợ, chưa con gì.

Mấy năm sau, ông lý Biên từ lý trưởng. Người khác lên thay. Thai không thể ăn vườn mà không nộp thuế. Hắn đã toan bỏ phắt, nhưng không bỏ được. Bởi bây giờ hắn đã trót đa mang vào cái cảnh vợ con. Vợ hắn bảo rằng: Cái vườn cũng như một cái xương để gặm dần. Thị nhất định cứ giữ khư khư lấy cái xương ấy, không chịu nhả. Sự co quắp của đàn bà thật là khó chịu nhưng nhiều khi có lý. Bởi vì cái thời mọi cái rẻ như bèo dần dần phải qua đi. Thóc gạo trở lại giá bình thường, rồi quá giá bình thường. Một thùng sắt tây đã có kì lên đồng tám. Gấp mười lần khi trước. Những người ăn đong méo mặt. Ngày nắng còn có thể đong được gạo, ngày mưa, nhiều khi có tiền mà cũng đành phải nhịn. Cầm rá ra hàng gạo, đố ai thấy đầu hàng gạo đâu; người đi đong chen chúc. Hàng gạo vừa bán vừa mắng xa xả, người mua cũng phải lăn lưng vào. Ờ! Bây giờ thì vườn, ruộng sao mà quý thế! Ba sào vườn của Thai bỗng nhiên có giá. Nó đã không còn là xương nữa. Nó là miếng nạc. Biết bao nhiêu anh thèm! Hồi đầu năm, có người trả trăm hai. Rồi có người trả trăm ba. Rồi có người trả trăm tư. Hồi tháng năm vừa rồi, thấy hắn phải chạy tiền nộp thuế, có anh cay mua quá, trả luôn trăm sáu. Đã ghê chưa? Chưa bao giờ hắn tưởng hắn có cả một cơ nghiệp to đến thế. Ngót hai trăm đồng bạc!

Vợ hắn vênh mặt lên mà bảo: Đấy chả đòi bán mãi đi! Giá bán rồi thì bây giờ nhìn người ta ăn mà xít xoa.

Hắn cười: Người ta đùa đấy chứ ai chịu bán? Có ba sào vườn bán đi thì ở đâu?

Úi chào!

  • Thật chứ!.. Bây giờ cứ trả hai trăm bạc, tôi có bán thì cứ phỉ vào mặt tôi.

Có người biết thế. Người ấy dòm ngó cái vườn của Thai lâu lắm. Y biết rằng Thai túng, nghĩa là cái mồi còn có thể giằng ra được. Miễn là phải khéo. Y chờ từng cơ hội. Mà cơ hội thì này đây: Một hôm y thấy Thai đến sòng sóc đĩa. Dấu hiệu này rất tốt. Bởi đến sòng sóc đĩa thì phải đánh. Đánh thì thua hoặc được. Được thì đánh nữa cho đến bao giờ hóa thua. Kết cục thì bao giờ cũng thua.

Y chờ lúc đó. Lúc đó đã đến, như lời y đoán. Y cho Thai vay vài chục. Rồi y lại cho Thai vài chục nữa, rồi vài chục nữa. Sau cùng thì y gạ Thai cố vườn. Cố thôi, chứ y không có tiền mua đâu. Không muốn cố thì xoay tiền mà trả y. Y không cho vay thêm nữa. Vay nhiều rồi. Xoay? Nhưng mà xoay ở đâu? Xoay đâu cũng phải lãi mười phân. Thôi thì cố mẹ nó cái vườn cho xong! Thai nghĩ thế, bởi vì hắn đã thua cay lắm. Cần phải gỡ. Dẫu phải bán thân hắn đi để mà gỡ, hắn cũng không ngần ngại. Ấy thế là cái vườn mất. Bởi vì cái vườn bán có đắt khét mới được hai trăm thì người lấy cố lấy luôn cho hắn những trăm hai. Trăm hai, trăm hai, viết là hai trăm cho cẩn thận, do cái lẽ trong văn tự chỉ có thể nói: Lãi y như quốc lệ. Y như quốc lệ nghĩa là đồng bạc, tháng có một xu. Tiền để có mục ra, cũng không cho vay nhẹ lãi như thế. Vậy thì viết tăng lên hai trăm cũng được, nhưng đến lúc chuộc thì cứ số trăm hai tính lãi mười phân mà trả. Người có tiền bỏ ra, bao giờ cũng muốn nắm đằng chuôi như vậy. Được! Được! Muốn thế nào thì thế! Thai cần tiền..

Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng và khác biệt nào về ý nghĩa?
- “Được! Được! Muốn thế nào thì muốn. Thai cần tiền...”?
(Làm tổ- Nam Cao)
- Tao muốn làm người lương thiện! Ai cho tao lương thiện?"
(Chí Phèo- Nam Cao)
Đáp án đúng: Con người khi rơi vào hoàn cảnh túng quẫn rất dễ đánh mất bản thân và bị xã hội đẩy vào bi kịch. Điều này đúng vì Thai vì nghèo túng và ham gỡ gạc đã sa vào cờ bạc, còn Chí Phèo bị xã hội cự tuyệt đến mức tuyệt vọng. Cả hai đều cho thấy con người không chỉ bị hoàn cảnh chi phối mà còn bị xã hội đẩy vào đường cùng. Vì vậy, mỗi người cần giữ vững bản lĩnh, tránh xa cám dỗ và sống có trách nhiệm. Bản thân tôi sẽ ý thức rèn luyện bản thân, biết kiểm soát hành vi và trân trọng những giá trị chân chính trong cuộc sống.

Câu này chưa có lời giải.

VIẾT (6,0 điểm)

Câu 6

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích chủ đề của đoạn trích “Làm tổ” của nhà văn Nam Cao.

Lời giải

Bước 1: Nêu chủ đề

Xác định bi kịch của người nông dân nghèo trong vòng xoáy đói nghèo và cám dỗ.

Bước 2: Phân tích nhân vật, hình ảnh

Phân tích quá trình tha hóa của Thai: từ nghèo khó, sa vào cờ bạc đến đánh mất tài sản và lí trí.

Làm rõ hình ảnh “cái vườn” từ cơ hội sống, “tổ ấm” và hy vọng thành cái giá phải trả cho lòng tham, sự yếu đuối.

Bước 3: Khái quát ý nghĩa

Khẳng định đoạn trích phản ánh xã hội bất công, nơi cái nghèo bào mòn ý chí và đẩy con người vào lựa chọn sai lầm.

Nêu sự xót xa của Nam Cao trước số phận bị dồn ép, đồng thời phê phán thói cờ bạc.

Đáp án: Đoạn trích thể hiện bi kịch tha hóa của người nông dân nghèo — qua Thai và hình ảnh cái vườn, Nam Cao phản ánh xã hội bất công cùng nỗi xót xa trước số phận con người.

Câu 7

Trong cuốn sách “Yêu những điều không hoàn hảo”, đại đức Hae Min chia sẻ: Chúng ta đừng ghét bỏ những gì mình còn thiếu sót, mà hãy một lần nhìn nhận chúng với sự biết ơn.
Từ quan điểm trên, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề: Hoàn thiện bản thân từ những thiếu sót

Lời giải

Bước 1: Mở bài nêu vấn đề

Dẫn dắt từ quan điểm: không ghét bỏ điều chưa hoàn hảo mà nhìn nhận bằng sự biết ơn.

Nêu ý nghĩa của việc hoàn thiện bản thân từ những thiếu sót.

Bước 2: Giải thích khái niệm

Thiếu sót là những hạn chế, điểm yếu, sai lầm của mỗi người.

Hoàn thiện bản thân từ thiếu sót là biết chấp nhận, nhận diện và nỗ lực khắc phục để phát triển.

Bước 3: Bàn luận và liên hệ

Thiếu sót giúp con người hiểu rõ bản thân, nhận ra giới hạn, có động lực phát triển, rèn sự khiêm tốn, bản lĩnh và tinh thần cầu tiến.

Cần phê phán việc né tránh, đổ lỗi, chạy theo hình ảnh hoàn hảo; liên hệ bản thân bằng thái độ chủ động sửa đổi và hoàn thiện.

Bước 4: Mở rộng và kết bài

Nếu không thay đổi, con người dễ ảo tưởng, trì trệ và không tiến bộ; chấp nhận thiếu sót không phải là buông xuôi hay lười biếng.

Khẳng định thiếu sót là điều tất yếu, đồng thời là cơ hội trưởng thành; mỗi người cần dũng cảm đối diện, biết ơn và không ngừng hoàn thiện.

Đáp án: Hoàn thiện bản thân từ thiếu sót — biết nhận diện, sửa chữa khuyết điểm để trưởng thành và tiến bộ.
Bảng tra cứu nhanh đáp án trọn bộ 7 câu hỏiNhấn để đóng / mở
Câu1234567
Đáp ánNgôi kể thứ ba; người kể chuyện giấu mình, gọi nhân vật là “hắn”, “Thai”.Thai sung sướng vì hắn không có của cải nên không bị thiệt hại sau bão (“những thằng không có của không bao giờ mất của”).Câu hỏi tu từ thể hiện sự bế tắc, tuyệt vọng của nhân vật; nhấn mạnh hoàn cảnh không lối thoát khi không thể xoay tiền; góp phần làm nổi bật bi kịch của người nông dân nghèo.Thai sa vào cờ bạc, nợ nần và bị kẻ khác lợi dụng; hoàn cảnh nghèo túng, thiếu hiểu biết. Qua đó phản ánh hiện thực xã hội bất công, người nghèo dễ bị bóc lột và rơi vào vòng xoáy tha hóa.Con người khi rơi vào hoàn cảnh túng quẫn rất dễ đánh mất bản thân và bị xã hội đẩy vào bi kịch. Điều này đúng vì Thai vì nghèo túng và ham gỡ gạc đã sa vào cờ bạc, còn Chí Phèo bị xã hội cự tuyệt đến mức tuyệt vọng. Cả hai đều cho thấy con người không chỉ bị hoàn cảnh chi phối mà còn bị xã hội đẩy vào đường cùng. Vì vậy, mỗi người cần giữ vững bản lĩnh, tránh xa cám dỗ và sống có trách nhiệm. Bản thân tôi sẽ ý thức rèn luyện bản thân, biết kiểm soát hành vi và trân trọng những giá trị chân chính trong cuộc sống.--
Đáp án & Lời giải chi tiết: Đề thi thử tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn THPT Lam Kinh Sở GD&ĐT Thanh Hóa năm 2026 môn Ngữ văn 2026 (Thi Tốt nghiệp THPT) | 9Study - 9Study