(Tóm tắt bối cảnh: Câu chuyện kể về một người đàn ông sau khi về hưu, sức khỏe suy yếu, tìm niềm an ủi trong việc chụp ảnh chim. Trong quá trình ấy, ông chứng kiến và theo dõi hành trình đau đớn của một con chim hoét mái với một chân bị hoại tử không thể bay về vào dịp mùa xuân...)
Phải mất cả tuần các móng chân mới rụng hết. Thật kinh khủng. Móng chân là bộ phận hóa sừng tự nhiên của các cơ thể sống. Chúng được sinh ra để giúp cơ thể làm những việc đòi hỏi nhiều sức mạnh như đậu, bám, chạy nhảy hay bắt mồi. Và ông biết, đó cũng là bộ phận gây đau đớn nhất. Ông đã rơi nước mắt khi cái móng chân cuối cùng rụng đi. Ông tưởng tượng ra nỗi thống khổ mà nó không thể nói thành lời. Tiếng kêu từ xa của nó ông không nghe được, nhưng ông nhận ra ánh mắt đã trở nên yếu ớt, thảng thốt.
(...) Suốt tháng cuối mùa đông rồi mùa xuân, ông chẳng buồn đi nơi khác. Ông đứng yên ở đó, chôn chân cả ngày. Ông hy vọng hão huyền rằng sự hiện diện của mình sẽ chia bớt đau đớn cho chú chim. Rồi đến một ngày, ông chợt nhận ra cái chân bị thương không còn nữa. Nó đã biến mất hoàn toàn. Ông bàng hoàng ngắm đi ngắm lại, nhưng rõ ràng chỉ còn một chân. Chú chim bây giờ chỉ đứng bằng một chân. Không có chút dấu vết nào của cái chân bị thương. Có lẽ nó đã hoại tử lên tận khớp dính vào thân.
Đó là bức ảnh cuối cùng ông chụp chú chim hoét, trước khi quyết định rời đi. Và cũng từ đó, hình ảnh chú chim đứng bằng một chân ngơ ngác, cứ bám riết lấy ông không dứt.
Vì đã từng là người lính có nhiều năm lăn lộn chiến trường, trải qua bao lần sống chết, ông hiểu được một sự thật khắc nghiệt rằng, cái chết không đáng sợ bằng đau đớn. Có khi trên đời này chỉ có nỗi đau là thật.
Rồi trong những ngày bệnh, những cơn đau cũ lại hiện về, chim khuất trong muôn trùng tiếng nổ chất chứa đến ong người. Những bóng người đổ gục, máu xương trộn lẫn bùn đất. Bị thương, nhiễm trùng, cưa dần - là cái điệp khúc lặp đi lặp lại sau mỗi trận đánh. Có người bạn của ông bị cưa đến tận bẹn, và ông không quên được gương mặt đau đớn bị nhòe đi bởi bùn và thuốc súng của cậu ấy. Thỉnh thoảng, đôi mắt nhắm nghiền chịu đựng đó vẫn hiện về ám ảnh ông, sau cả ngần ấy năm. Những đôi mắt câm lặng vẫn nhìn ông từ từ phía.
(Lược trích: Bẵng đi một thời gian sức khỏe của ông hồi phục, ông lại tiếp tục các chuyến đi săn ảnh mùa thu. Sau khi được bà thuyết phục, ông cùng bà xuống vườn nhãn để tìm con chim nhưng cả ngày lang thang vẫn không thấy, đành trở về trong nỗi chán nản, không hi vọng, với nỗi buồn nặng trĩu. Và cho rằng mọi thứ đã an bài, cánh chim xa xứ đã chết khô đâu đó rồi...)
Một buổi sáng đi chợ về, bà thấy ông cũng vừa về. Giọng ông oang oang đầy hứng khởi. Tìm thấy rồi, không thể tin được, nó vẫn còn, ngay trong mấy vòm lá ở doi đất nhỏ ra sông, chỗ hôm trước mình không đến. Có người tình cờ chụp được. Nó khôn thật, lựa chỗ mát nhất để ẩn thân. Đúng là nó, không thể khác. Một chân, nhưng có vẻ khỏe mạnh. Nó là con chim thần thánh rồi. Ông cười ha hả.
Đêm đó họ chỉ nói chuyện về chú chim. Chuyện nọ kéo theo chuyện khác, miên man. Thực ra ông giành nói suốt, làm bà ngạc nhiên vì chưa thấy ông nói nhiều như thế bao giờ. Ông khẳng định nó có cơ hội quay về cố hương rồi. Bà nói sao nó không ở lại, thích nghi rồi, ở lại cho an toàn, còn một chân làm sao bay xa được. Nhưng ông lại nghĩ khác. Cũng giống con người thôi, quê hương chôn nhau cắt rốn vẫn là một thứ gì đó dai dẳng và đau đớn nhất trong tâm hồn, chẳng ai có thể quên, và chẳng thứ gì có thể ngăn cản nổi nó bay về. Ông tin, với đà thời tiết ngày càng mát, chú chim sẽ hoàn toàn bình phục, và nó sẽ làm quen được với một chân, rồi nó sẽ bay vững vàng như khi hai chân thôi. Loài chim cũng như mình, thường thích nghi rất tốt với cơ thể để tồn tại.
Sau cùng bà cũng tin như vậy. Chắc mùa xuân đến nó sẽ bay về. Có quá nhiều thứ quen thuộc, ruột rà đang chờ đợi nó. Bà tưởng tượng ra cảnh sum vầy mà thấy ấm cả lòng. Rồi mỉm cười trong bóng đêm
Câu này chưa có lời giải.
(Tóm tắt bối cảnh: Câu chuyện kể về một người đàn ông sau khi về hưu, sức khỏe suy yếu, tìm niềm an ủi trong việc chụp ảnh chim. Trong quá trình ấy, ông chứng kiến và theo dõi hành trình đau đớn của một con chim hoét mái với một chân bị hoại tử không thể bay về vào dịp mùa xuân...)
Phải mất cả tuần các móng chân mới rụng hết. Thật kinh khủng. Móng chân là bộ phận hóa sừng tự nhiên của các cơ thể sống. Chúng được sinh ra để giúp cơ thể làm những việc đòi hỏi nhiều sức mạnh như đậu, bám, chạy nhảy hay bắt mồi. Và ông biết, đó cũng là bộ phận gây đau đớn nhất. Ông đã rơi nước mắt khi cái móng chân cuối cùng rụng đi. Ông tưởng tượng ra nỗi thống khổ mà nó không thể nói thành lời. Tiếng kêu từ xa của nó ông không nghe được, nhưng ông nhận ra ánh mắt đã trở nên yếu ớt, thảng thốt.
(...) Suốt tháng cuối mùa đông rồi mùa xuân, ông chẳng buồn đi nơi khác. Ông đứng yên ở đó, chôn chân cả ngày. Ông hy vọng hão huyền rằng sự hiện diện của mình sẽ chia bớt đau đớn cho chú chim. Rồi đến một ngày, ông chợt nhận ra cái chân bị thương không còn nữa. Nó đã biến mất hoàn toàn. Ông bàng hoàng ngắm đi ngắm lại, nhưng rõ ràng chỉ còn một chân. Chú chim bây giờ chỉ đứng bằng một chân. Không có chút dấu vết nào của cái chân bị thương. Có lẽ nó đã hoại tử lên tận khớp dính vào thân.
Đó là bức ảnh cuối cùng ông chụp chú chim hoét, trước khi quyết định rời đi. Và cũng từ đó, hình ảnh chú chim đứng bằng một chân ngơ ngác, cứ bám riết lấy ông không dứt.
Vì đã từng là người lính có nhiều năm lăn lộn chiến trường, trải qua bao lần sống chết, ông hiểu được một sự thật khắc nghiệt rằng, cái chết không đáng sợ bằng đau đớn. Có khi trên đời này chỉ có nỗi đau là thật.
Rồi trong những ngày bệnh, những cơn đau cũ lại hiện về, chim khuất trong muôn trùng tiếng nổ chất chứa đến ong người. Những bóng người đổ gục, máu xương trộn lẫn bùn đất. Bị thương, nhiễm trùng, cưa dần - là cái điệp khúc lặp đi lặp lại sau mỗi trận đánh. Có người bạn của ông bị cưa đến tận bẹn, và ông không quên được gương mặt đau đớn bị nhòe đi bởi bùn và thuốc súng của cậu ấy. Thỉnh thoảng, đôi mắt nhắm nghiền chịu đựng đó vẫn hiện về ám ảnh ông, sau cả ngần ấy năm. Những đôi mắt câm lặng vẫn nhìn ông từ từ phía.
(Lược trích: Bẵng đi một thời gian sức khỏe của ông hồi phục, ông lại tiếp tục các chuyến đi săn ảnh mùa thu. Sau khi được bà thuyết phục, ông cùng bà xuống vườn nhãn để tìm con chim nhưng cả ngày lang thang vẫn không thấy, đành trở về trong nỗi chán nản, không hi vọng, với nỗi buồn nặng trĩu. Và cho rằng mọi thứ đã an bài, cánh chim xa xứ đã chết khô đâu đó rồi...)
Một buổi sáng đi chợ về, bà thấy ông cũng vừa về. Giọng ông oang oang đầy hứng khởi. Tìm thấy rồi, không thể tin được, nó vẫn còn, ngay trong mấy vòm lá ở doi đất nhỏ ra sông, chỗ hôm trước mình không đến. Có người tình cờ chụp được. Nó khôn thật, lựa chỗ mát nhất để ẩn thân. Đúng là nó, không thể khác. Một chân, nhưng có vẻ khỏe mạnh. Nó là con chim thần thánh rồi. Ông cười ha hả.
Đêm đó họ chỉ nói chuyện về chú chim. Chuyện nọ kéo theo chuyện khác, miên man. Thực ra ông giành nói suốt, làm bà ngạc nhiên vì chưa thấy ông nói nhiều như thế bao giờ. Ông khẳng định nó có cơ hội quay về cố hương rồi. Bà nói sao nó không ở lại, thích nghi rồi, ở lại cho an toàn, còn một chân làm sao bay xa được. Nhưng ông lại nghĩ khác. Cũng giống con người thôi, quê hương chôn nhau cắt rốn vẫn là một thứ gì đó dai dẳng và đau đớn nhất trong tâm hồn, chẳng ai có thể quên, và chẳng thứ gì có thể ngăn cản nổi nó bay về. Ông tin, với đà thời tiết ngày càng mát, chú chim sẽ hoàn toàn bình phục, và nó sẽ làm quen được với một chân, rồi nó sẽ bay vững vàng như khi hai chân thôi. Loài chim cũng như mình, thường thích nghi rất tốt với cơ thể để tồn tại.
Sau cùng bà cũng tin như vậy. Chắc mùa xuân đến nó sẽ bay về. Có quá nhiều thứ quen thuộc, ruột rà đang chờ đợi nó. Bà tưởng tượng ra cảnh sum vầy mà thấy ấm cả lòng. Rồi mỉm cười trong bóng đêm
Câu này chưa có lời giải.
(Tóm tắt bối cảnh: Câu chuyện kể về một người đàn ông sau khi về hưu, sức khỏe suy yếu, tìm niềm an ủi trong việc chụp ảnh chim. Trong quá trình ấy, ông chứng kiến và theo dõi hành trình đau đớn của một con chim hoét mái với một chân bị hoại tử không thể bay về vào dịp mùa xuân...)
Phải mất cả tuần các móng chân mới rụng hết. Thật kinh khủng. Móng chân là bộ phận hóa sừng tự nhiên của các cơ thể sống. Chúng được sinh ra để giúp cơ thể làm những việc đòi hỏi nhiều sức mạnh như đậu, bám, chạy nhảy hay bắt mồi. Và ông biết, đó cũng là bộ phận gây đau đớn nhất. Ông đã rơi nước mắt khi cái móng chân cuối cùng rụng đi. Ông tưởng tượng ra nỗi thống khổ mà nó không thể nói thành lời. Tiếng kêu từ xa của nó ông không nghe được, nhưng ông nhận ra ánh mắt đã trở nên yếu ớt, thảng thốt.
(...) Suốt tháng cuối mùa đông rồi mùa xuân, ông chẳng buồn đi nơi khác. Ông đứng yên ở đó, chôn chân cả ngày. Ông hy vọng hão huyền rằng sự hiện diện của mình sẽ chia bớt đau đớn cho chú chim. Rồi đến một ngày, ông chợt nhận ra cái chân bị thương không còn nữa. Nó đã biến mất hoàn toàn. Ông bàng hoàng ngắm đi ngắm lại, nhưng rõ ràng chỉ còn một chân. Chú chim bây giờ chỉ đứng bằng một chân. Không có chút dấu vết nào của cái chân bị thương. Có lẽ nó đã hoại tử lên tận khớp dính vào thân.
Đó là bức ảnh cuối cùng ông chụp chú chim hoét, trước khi quyết định rời đi. Và cũng từ đó, hình ảnh chú chim đứng bằng một chân ngơ ngác, cứ bám riết lấy ông không dứt.
Vì đã từng là người lính có nhiều năm lăn lộn chiến trường, trải qua bao lần sống chết, ông hiểu được một sự thật khắc nghiệt rằng, cái chết không đáng sợ bằng đau đớn. Có khi trên đời này chỉ có nỗi đau là thật.
Rồi trong những ngày bệnh, những cơn đau cũ lại hiện về, chim khuất trong muôn trùng tiếng nổ chất chứa đến ong người. Những bóng người đổ gục, máu xương trộn lẫn bùn đất. Bị thương, nhiễm trùng, cưa dần - là cái điệp khúc lặp đi lặp lại sau mỗi trận đánh. Có người bạn của ông bị cưa đến tận bẹn, và ông không quên được gương mặt đau đớn bị nhòe đi bởi bùn và thuốc súng của cậu ấy. Thỉnh thoảng, đôi mắt nhắm nghiền chịu đựng đó vẫn hiện về ám ảnh ông, sau cả ngần ấy năm. Những đôi mắt câm lặng vẫn nhìn ông từ từ phía.
(Lược trích: Bẵng đi một thời gian sức khỏe của ông hồi phục, ông lại tiếp tục các chuyến đi săn ảnh mùa thu. Sau khi được bà thuyết phục, ông cùng bà xuống vườn nhãn để tìm con chim nhưng cả ngày lang thang vẫn không thấy, đành trở về trong nỗi chán nản, không hi vọng, với nỗi buồn nặng trĩu. Và cho rằng mọi thứ đã an bài, cánh chim xa xứ đã chết khô đâu đó rồi...)
Một buổi sáng đi chợ về, bà thấy ông cũng vừa về. Giọng ông oang oang đầy hứng khởi. Tìm thấy rồi, không thể tin được, nó vẫn còn, ngay trong mấy vòm lá ở doi đất nhỏ ra sông, chỗ hôm trước mình không đến. Có người tình cờ chụp được. Nó khôn thật, lựa chỗ mát nhất để ẩn thân. Đúng là nó, không thể khác. Một chân, nhưng có vẻ khỏe mạnh. Nó là con chim thần thánh rồi. Ông cười ha hả.
Đêm đó họ chỉ nói chuyện về chú chim. Chuyện nọ kéo theo chuyện khác, miên man. Thực ra ông giành nói suốt, làm bà ngạc nhiên vì chưa thấy ông nói nhiều như thế bao giờ. Ông khẳng định nó có cơ hội quay về cố hương rồi. Bà nói sao nó không ở lại, thích nghi rồi, ở lại cho an toàn, còn một chân làm sao bay xa được. Nhưng ông lại nghĩ khác. Cũng giống con người thôi, quê hương chôn nhau cắt rốn vẫn là một thứ gì đó dai dẳng và đau đớn nhất trong tâm hồn, chẳng ai có thể quên, và chẳng thứ gì có thể ngăn cản nổi nó bay về. Ông tin, với đà thời tiết ngày càng mát, chú chim sẽ hoàn toàn bình phục, và nó sẽ làm quen được với một chân, rồi nó sẽ bay vững vàng như khi hai chân thôi. Loài chim cũng như mình, thường thích nghi rất tốt với cơ thể để tồn tại.
Sau cùng bà cũng tin như vậy. Chắc mùa xuân đến nó sẽ bay về. Có quá nhiều thứ quen thuộc, ruột rà đang chờ đợi nó. Bà tưởng tượng ra cảnh sum vầy mà thấy ấm cả lòng. Rồi mỉm cười trong bóng đêm
Câu này chưa có lời giải.
(Tóm tắt bối cảnh: Câu chuyện kể về một người đàn ông sau khi về hưu, sức khỏe suy yếu, tìm niềm an ủi trong việc chụp ảnh chim. Trong quá trình ấy, ông chứng kiến và theo dõi hành trình đau đớn của một con chim hoét mái với một chân bị hoại tử không thể bay về vào dịp mùa xuân...)
Phải mất cả tuần các móng chân mới rụng hết. Thật kinh khủng. Móng chân là bộ phận hóa sừng tự nhiên của các cơ thể sống. Chúng được sinh ra để giúp cơ thể làm những việc đòi hỏi nhiều sức mạnh như đậu, bám, chạy nhảy hay bắt mồi. Và ông biết, đó cũng là bộ phận gây đau đớn nhất. Ông đã rơi nước mắt khi cái móng chân cuối cùng rụng đi. Ông tưởng tượng ra nỗi thống khổ mà nó không thể nói thành lời. Tiếng kêu từ xa của nó ông không nghe được, nhưng ông nhận ra ánh mắt đã trở nên yếu ớt, thảng thốt.
(...) Suốt tháng cuối mùa đông rồi mùa xuân, ông chẳng buồn đi nơi khác. Ông đứng yên ở đó, chôn chân cả ngày. Ông hy vọng hão huyền rằng sự hiện diện của mình sẽ chia bớt đau đớn cho chú chim. Rồi đến một ngày, ông chợt nhận ra cái chân bị thương không còn nữa. Nó đã biến mất hoàn toàn. Ông bàng hoàng ngắm đi ngắm lại, nhưng rõ ràng chỉ còn một chân. Chú chim bây giờ chỉ đứng bằng một chân. Không có chút dấu vết nào của cái chân bị thương. Có lẽ nó đã hoại tử lên tận khớp dính vào thân.
Đó là bức ảnh cuối cùng ông chụp chú chim hoét, trước khi quyết định rời đi. Và cũng từ đó, hình ảnh chú chim đứng bằng một chân ngơ ngác, cứ bám riết lấy ông không dứt.
Vì đã từng là người lính có nhiều năm lăn lộn chiến trường, trải qua bao lần sống chết, ông hiểu được một sự thật khắc nghiệt rằng, cái chết không đáng sợ bằng đau đớn. Có khi trên đời này chỉ có nỗi đau là thật.
Rồi trong những ngày bệnh, những cơn đau cũ lại hiện về, chim khuất trong muôn trùng tiếng nổ chất chứa đến ong người. Những bóng người đổ gục, máu xương trộn lẫn bùn đất. Bị thương, nhiễm trùng, cưa dần - là cái điệp khúc lặp đi lặp lại sau mỗi trận đánh. Có người bạn của ông bị cưa đến tận bẹn, và ông không quên được gương mặt đau đớn bị nhòe đi bởi bùn và thuốc súng của cậu ấy. Thỉnh thoảng, đôi mắt nhắm nghiền chịu đựng đó vẫn hiện về ám ảnh ông, sau cả ngần ấy năm. Những đôi mắt câm lặng vẫn nhìn ông từ từ phía.
(Lược trích: Bẵng đi một thời gian sức khỏe của ông hồi phục, ông lại tiếp tục các chuyến đi săn ảnh mùa thu. Sau khi được bà thuyết phục, ông cùng bà xuống vườn nhãn để tìm con chim nhưng cả ngày lang thang vẫn không thấy, đành trở về trong nỗi chán nản, không hi vọng, với nỗi buồn nặng trĩu. Và cho rằng mọi thứ đã an bài, cánh chim xa xứ đã chết khô đâu đó rồi...)
Một buổi sáng đi chợ về, bà thấy ông cũng vừa về. Giọng ông oang oang đầy hứng khởi. Tìm thấy rồi, không thể tin được, nó vẫn còn, ngay trong mấy vòm lá ở doi đất nhỏ ra sông, chỗ hôm trước mình không đến. Có người tình cờ chụp được. Nó khôn thật, lựa chỗ mát nhất để ẩn thân. Đúng là nó, không thể khác. Một chân, nhưng có vẻ khỏe mạnh. Nó là con chim thần thánh rồi. Ông cười ha hả.
Đêm đó họ chỉ nói chuyện về chú chim. Chuyện nọ kéo theo chuyện khác, miên man. Thực ra ông giành nói suốt, làm bà ngạc nhiên vì chưa thấy ông nói nhiều như thế bao giờ. Ông khẳng định nó có cơ hội quay về cố hương rồi. Bà nói sao nó không ở lại, thích nghi rồi, ở lại cho an toàn, còn một chân làm sao bay xa được. Nhưng ông lại nghĩ khác. Cũng giống con người thôi, quê hương chôn nhau cắt rốn vẫn là một thứ gì đó dai dẳng và đau đớn nhất trong tâm hồn, chẳng ai có thể quên, và chẳng thứ gì có thể ngăn cản nổi nó bay về. Ông tin, với đà thời tiết ngày càng mát, chú chim sẽ hoàn toàn bình phục, và nó sẽ làm quen được với một chân, rồi nó sẽ bay vững vàng như khi hai chân thôi. Loài chim cũng như mình, thường thích nghi rất tốt với cơ thể để tồn tại.
Sau cùng bà cũng tin như vậy. Chắc mùa xuân đến nó sẽ bay về. Có quá nhiều thứ quen thuộc, ruột rà đang chờ đợi nó. Bà tưởng tượng ra cảnh sum vầy mà thấy ấm cả lòng. Rồi mỉm cười trong bóng đêm
Nêu vai trò của chi tiết Chú chim hoét bây giờ chỉ còn đứng bằng một chân trong việc thể hiện nội dung văn bản.
Câu này chưa có lời giải.
(Tóm tắt bối cảnh: Câu chuyện kể về một người đàn ông sau khi về hưu, sức khỏe suy yếu, tìm niềm an ủi trong việc chụp ảnh chim. Trong quá trình ấy, ông chứng kiến và theo dõi hành trình đau đớn của một con chim hoét mái với một chân bị hoại tử không thể bay về vào dịp mùa xuân...)
Phải mất cả tuần các móng chân mới rụng hết. Thật kinh khủng. Móng chân là bộ phận hóa sừng tự nhiên của các cơ thể sống. Chúng được sinh ra để giúp cơ thể làm những việc đòi hỏi nhiều sức mạnh như đậu, bám, chạy nhảy hay bắt mồi. Và ông biết, đó cũng là bộ phận gây đau đớn nhất. Ông đã rơi nước mắt khi cái móng chân cuối cùng rụng đi. Ông tưởng tượng ra nỗi thống khổ mà nó không thể nói thành lời. Tiếng kêu từ xa của nó ông không nghe được, nhưng ông nhận ra ánh mắt đã trở nên yếu ớt, thảng thốt.
(...) Suốt tháng cuối mùa đông rồi mùa xuân, ông chẳng buồn đi nơi khác. Ông đứng yên ở đó, chôn chân cả ngày. Ông hy vọng hão huyền rằng sự hiện diện của mình sẽ chia bớt đau đớn cho chú chim. Rồi đến một ngày, ông chợt nhận ra cái chân bị thương không còn nữa. Nó đã biến mất hoàn toàn. Ông bàng hoàng ngắm đi ngắm lại, nhưng rõ ràng chỉ còn một chân. Chú chim bây giờ chỉ đứng bằng một chân. Không có chút dấu vết nào của cái chân bị thương. Có lẽ nó đã hoại tử lên tận khớp dính vào thân.
Đó là bức ảnh cuối cùng ông chụp chú chim hoét, trước khi quyết định rời đi. Và cũng từ đó, hình ảnh chú chim đứng bằng một chân ngơ ngác, cứ bám riết lấy ông không dứt.
Vì đã từng là người lính có nhiều năm lăn lộn chiến trường, trải qua bao lần sống chết, ông hiểu được một sự thật khắc nghiệt rằng, cái chết không đáng sợ bằng đau đớn. Có khi trên đời này chỉ có nỗi đau là thật.
Rồi trong những ngày bệnh, những cơn đau cũ lại hiện về, chim khuất trong muôn trùng tiếng nổ chất chứa đến ong người. Những bóng người đổ gục, máu xương trộn lẫn bùn đất. Bị thương, nhiễm trùng, cưa dần - là cái điệp khúc lặp đi lặp lại sau mỗi trận đánh. Có người bạn của ông bị cưa đến tận bẹn, và ông không quên được gương mặt đau đớn bị nhòe đi bởi bùn và thuốc súng của cậu ấy. Thỉnh thoảng, đôi mắt nhắm nghiền chịu đựng đó vẫn hiện về ám ảnh ông, sau cả ngần ấy năm. Những đôi mắt câm lặng vẫn nhìn ông từ từ phía.
(Lược trích: Bẵng đi một thời gian sức khỏe của ông hồi phục, ông lại tiếp tục các chuyến đi săn ảnh mùa thu. Sau khi được bà thuyết phục, ông cùng bà xuống vườn nhãn để tìm con chim nhưng cả ngày lang thang vẫn không thấy, đành trở về trong nỗi chán nản, không hi vọng, với nỗi buồn nặng trĩu. Và cho rằng mọi thứ đã an bài, cánh chim xa xứ đã chết khô đâu đó rồi...)
Một buổi sáng đi chợ về, bà thấy ông cũng vừa về. Giọng ông oang oang đầy hứng khởi. Tìm thấy rồi, không thể tin được, nó vẫn còn, ngay trong mấy vòm lá ở doi đất nhỏ ra sông, chỗ hôm trước mình không đến. Có người tình cờ chụp được. Nó khôn thật, lựa chỗ mát nhất để ẩn thân. Đúng là nó, không thể khác. Một chân, nhưng có vẻ khỏe mạnh. Nó là con chim thần thánh rồi. Ông cười ha hả.
Đêm đó họ chỉ nói chuyện về chú chim. Chuyện nọ kéo theo chuyện khác, miên man. Thực ra ông giành nói suốt, làm bà ngạc nhiên vì chưa thấy ông nói nhiều như thế bao giờ. Ông khẳng định nó có cơ hội quay về cố hương rồi. Bà nói sao nó không ở lại, thích nghi rồi, ở lại cho an toàn, còn một chân làm sao bay xa được. Nhưng ông lại nghĩ khác. Cũng giống con người thôi, quê hương chôn nhau cắt rốn vẫn là một thứ gì đó dai dẳng và đau đớn nhất trong tâm hồn, chẳng ai có thể quên, và chẳng thứ gì có thể ngăn cản nổi nó bay về. Ông tin, với đà thời tiết ngày càng mát, chú chim sẽ hoàn toàn bình phục, và nó sẽ làm quen được với một chân, rồi nó sẽ bay vững vàng như khi hai chân thôi. Loài chim cũng như mình, thường thích nghi rất tốt với cơ thể để tồn tại.
Sau cùng bà cũng tin như vậy. Chắc mùa xuân đến nó sẽ bay về. Có quá nhiều thứ quen thuộc, ruột rà đang chờ đợi nó. Bà tưởng tượng ra cảnh sum vầy mà thấy ấm cả lòng. Rồi mỉm cười trong bóng đêm
Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng nào về ý nghĩa?
- Những bóng người đổ gục, máu xương trộn lẫn bùn đất. Bị thương, nhiễm trùng, cưa dần - là cái điệp khúc lặp đi lặp lại sau mỗi trận đánh... Thỉnh thoảng, đôi mắt nhắm nghiền chịu đựng đó vẫn hiện về ám ảnh ông, sau cả ngần ấy năm. Những đôi mắt câm lặng vẫn nhìn ông từ từ phía.
(Chim hoét một chân – Trà Đóa)
- Trở về sau chiến tranh, cho đến tận bây giờ, tôi đã phải chịu đựng hết hồi ức này đến hồi ức khác, ngày này qua ngày khác, đêm thâu này thâu đêm thâu kia thử hỏi đã bao năm ròng?
(Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh)
Câu này chưa có lời giải.
Nhân vật đau đớn, xót xa, ám ảnh khi chứng kiến chú chim hoét rụng từng chiếc móng, chỉ còn đứng bằng một chân.
Nỗi đau của chú chim đánh thức những chấn thương tâm lý hậu chiến trong ông.
Hình ảnh chú chim gợi lại kí ức chiến tranh với mất mát, máu xương và những đồng đội bị thương tật.
Ông vừa thương cảm cho số phận chú chim, vừa đồng cảm với những nỗi đau con người phải chịu đựng sau chiến tranh.
Tâm trạng ông chuyển từ đau buồn, tuyệt vọng sang vui mừng, hi vọng khi biết chú chim vẫn sống và thích nghi mạnh mẽ với nghịch cảnh.
Qua đó, tác giả cảm thương sâu sắc những tổn thương hậu chiến và ca ngợi nghị lực sống của con người, muôn loài.
Từ kết quả đọc hiểu văn bản Chim hoét một chân và những hiểu biết về những mất mát, tổn thương mà con người phải gánh chịu sau chiến tranh cũng như trong đời sống hiện đại, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) với chủ đề: sự thích nghi và nghị lực sống trước nghịch cảnh.
Giới thiệu những khó khăn, mất mát con người phải đối mặt trong cuộc sống.
Nêu sự cần thiết của khả năng thích nghi và nghị lực sống để vượt qua nghịch cảnh.
Thích nghi là chấp nhận hoàn cảnh, thay đổi để phù hợp và tồn tại; nghị lực sống là ý chí, bản lĩnh giúp con người không gục ngã.
Chiến tranh và đời sống hiện đại gây nhiều tổn thương thể xác, tinh thần. Hình ảnh chú chim hoét một chân vẫn tồn tại, khao khát bay về quê hương biểu tượng cho sức sống mãnh liệt.
Người có nghị lực biết đứng dậy sau thất bại, vượt giới hạn và tìm ý nghĩa cuộc đời trong khó khăn; Nguyễn Ngọc Ký, Nick Vujicic là những minh chứng tiêu biểu.
Phê phán lối sống bi quan, buông xuôi, mất niềm tin. Người trẻ cần rèn bản lĩnh, sống tích cực, biết vượt thử thách và sẻ chia.
Khẳng định sự thích nghi và nghị lực sống là sức mạnh giúp con người vượt đau thương, hướng tới tương lai tốt đẹp.
Những vết thương có thể còn đó, nhưng nghị lực giúp con người tìm đường bay về phía tự do và hạnh phúc.
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đáp án | Văn bản được kể theo ngôi thứ ba. Dấu hiệu: người kể chuyện giấu mình, gọi nhân vật bằng các từ “ông”, “bà”, “chú chim”. | Hai chi tiết cho thấy nỗi đau đớn mà con chim hoét phải chịu đựng: - “Ông đã rơi nước mắt khi cái móng chân cuối cùng rụng đi.” - “Ông nhận ra ánh mắt đã trở nên yếu ớt, thảng thốt.” | Biện pháp tu từ so sánh “Cũng giống con người thôi…” giúp tác giả làm nổi bật sự tương đồng giữa loài chim và con người trong tình cảm gắn bó với quê hương. Qua đó, câu văn nhấn mạnh quê hương là nơi thiêng liêng, luôn có sức níu giữ mạnh mẽ trong tâm hồn mỗi sinh thể. Đồng thời, phép so sánh còn làm cho hình ảnh chú chim hoét trở nên gần gũi, giàu ý nghĩa biểu tượng, góp phần thể hiện khát vọng trở về cội nguồn và sức sống mãnh liệt trước nghịch cảnh. | Chi tiết “Chú chim hoét bây giờ chỉ còn đứng bằng một chân” có vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung văn bản. Đây là chi tiết cho thấy hậu quả đau đớn, khốc liệt mà chú chim phải gánh chịu sau tổn thương thể xác. Đồng thời, hình ảnh ấy còn gợi liên tưởng đến những mất mát, thương tích và ám ảnh chiến tranh mà con người phải mang theo suốt đời. Tuy vậy, chú chim vẫn tồn tại, thích nghi và tiếp tục hướng về quê hương, qua đó làm nổi bật nghị lực sống bền bỉ của muôn loài trước nghịch cảnh. Chi tiết này cũng giúp nhân vật người đàn ông soi chiếu lại những kí ức chiến tranh đau thương của chính mình. | Hai ngữ liệu đều thể hiện nỗi ám ảnh dai dẳng mà chiến tranh để lại trong tâm hồn con người sau khi cuộc chiến đã qua đi. Những hình ảnh đau thương như “máu xương trộn lẫn bùn đất”, “đôi mắt nhắm nghiền chịu đựng” hay những hồi ức kéo dài “ngày này qua ngày khác” cho thấy chiến tranh không chỉ gây tổn thương thể xác mà còn để lại vết thương tinh thần sâu nặng. Cả hai ngữ liệu đều khắc họa nỗi đau hậu chiến luôn âm ỉ, ám ảnh con người suốt nhiều năm tháng. Qua đó, các tác giả bày tỏ sự cảm thương sâu sắc đối với số phận con người và lên án sự tàn khốc của chiến tranh. | - | - |