Đáp án & lời giải chi tiết: Đề thi thử ĐGTD ĐHBK HN năm 2025 - Mã đề 02 — Tư duy Đọc hiểu

Đánh giá Tư duy (TSA)Môn Tư duy Đọc hiểu20 câuChuẩn GDPT mới

Tư duy Đọc hiểu

Câu 1

Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học

[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.

[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).

[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.

[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này. [4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.

[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano. [6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.

[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn … Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.

(Nguồn: “http://iasvn.org)

Diễn đạt nào dưới đây thể hiện rõ nhất ý chính của bài đọc trên?

A

Phương pháp chế tạo vật liệu nano

B

Tính chất đặc trưng của vật liệu nao

C

Giới thiệu về vật liệu nano và một số ứng dụng của vật liệu nano trong y học

D

Giới thiệu về ngành khoa học nano

Lời giải

Bước 1: Xác định nội dung chính

Bài đọc giới thiệu khái niệm, kích thước, tính chất của vật liệu nano.

Phần trọng tâm tiếp theo trình bày nhiều ứng dụng của vật liệu nano trong y học.

Bước 2: Khái quát phạm vi bài

Văn bản kết hợp phần giới thiệu vật liệu nano với các ứng dụng y học như dẫn truyền thuốc và phân tách tế bào.

Vì vậy, ý chính phải bao quát cả hai nội dung này.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn C — phương án nêu đầy đủ phần giới thiệu vật liệu nano và một số ứng dụng trong y học; A, B, D sai vì lần lượt chỉ nói về chế tạo, tính chất hoặc ngành khoa học nano.

Đáp án: C — Bao quát đầy đủ nội dung giới thiệu vật liệu nano và các ứng dụng của nó trong y học.

Câu 2

Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học

[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.

[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).

[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.

[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này. [4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.

[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano. [6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.

[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn … Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.

(Nguồn: “http://iasvn.org)

Theo bài đọc, dạng nào dưới đây KHÔNG phải là dạng vật liệu nano?

A

Nguyên tử của các nguyên tố

B

Tóc người

C

Các hạt electron

D

Chuỗi DNA

Lời giải

Bước 1: Xác định tiêu chí nano

Dạng vật liệu nano phải có ít nhất một chiều thuộc khoảng .

Bước 2: Đối chiếu các dạng

Nguyên tử, electron và chuỗi DNA đều gắn với quy mô nguyên tử, hạt hoặc phân tử rất nhỏ.

Tóc người lớn hơn vật liệu nano khoảng lần nên không thuộc dạng nano.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn B. A, C, D sai vì lần lượt gắn với quy mô nguyên tử, hạt electron và phân tử DNA; chỉ tóc người có kích thước lớn hơn rất nhiều quy mô nano.

Đáp án: B — Tóc người không phải dạng vật liệu nano vì kích thước lớn hơn quy mô rất nhiều.

Câu 3

Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học

[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.

[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).

[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.

[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này. [4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.

[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano. [6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.

[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn … Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.

(Nguồn: “http://iasvn.org)

Theo bài đọc thì khoa học nano là:

A

Ngành nghiên cứu về vật liệu tổng hợp

B

Ngành khoa học nghiên cứu về cấu trúc vật liệu

C

Ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự tác động vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử

D

Nghiên cứu ứng dụng vật liệu

Lời giải

Bước 1: Xác định định nghĩa

Đoạn nêu rõ khoa học nano nghiên cứu các hiện tượng và sự can thiệp vào vật liệu ở mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử.

Bước 2: Đối chiếu phương án

Chọn C vì diễn đạt đúng đầy đủ định nghĩa trong bài; A sai vì chỉ nói vật liệu tổng hợp, B thiếu hiện tượng và sự can thiệp ở các cấp độ đặc thù, D nhầm với hướng ứng dụng hoặc công nghệ nano.

Đáp án: C — Khoa học nano nghiên cứu các hiện tượng và sự can thiệp vào vật liệu ở mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử.

Câu 4

Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học

[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.

[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).

[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.

[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này. [4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.

[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano. [6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.

[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn … Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.

(Nguồn: “http://iasvn.org)

Cụm từ “công nghệ nano” ở đoạn [2] dùng để nói đến việc:

A

Nghiên cứu chế tạo và ứng dụng vật liệu nano

B

Nghiên cứu các tính chất điện của vật liệu nano

C

Nghiên cứu các tính chất từ của vật liệu nano

D

Nghiên cứu sự ảnh hưởng của vật liệu nano đến con người

Lời giải

Bước 1: Xác định câu định nghĩa

Đoạn định nghĩa công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích, chế tạo và ứng dụng.

Bước 2: Khái quát nội dung

Nội dung này bao quát quá trình nghiên cứu, chế tạo và ứng dụng vật liệu nano.

Bước n: Đối chiếu phương án

Chọn A. B, C, D sai vì lần lượt chỉ giới hạn vào tính chất điện, tính chất từ và ảnh hưởng đến con người; định nghĩa không thu hẹp như vậy.

Đáp án: A — Công nghệ nano bao gồm nghiên cứu, chế tạo và ứng dụng vật liệu nano.

Câu 5

Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học

[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.

[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).

[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.

[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này. [4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.

[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano. [6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.

[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn … Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.

(Nguồn: “http://iasvn.org)

Những tính chất khác biệt của vật liệu nano so với vật liệu khối là do nguyên nhân nào mang lại?

A

Do tính chất lượng tử của vật liệu

B

Do tính chất khối của vật liệu

C

Do kích thước rất nhỏ ở mức nanomet

D

Do trạng thái tồn tại của vật liệu

Lời giải

Bước 1: Xác định nguyên nhân

Đoạn [3] nêu tính chất thú vị bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ, tương đương các kích thước tới hạn của đặc tính hoá lí.

Nguyên nhân trực tiếp là kích thước ở mức nanomet.

Bước 2: Đối chiếu phương án

Chọn C vì phù hợp trực tiếp với ngữ liệu. A và B chỉ nêu tính chất liên quan, không phải nguyên nhân cốt lõi; D không được ngữ liệu xác định là nguyên nhân.

Đáp án: C — Những tính chất khác biệt bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ của vật liệu, ở mức nanomet.

Câu 6

Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học

[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.

[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).

[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.

[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này. [4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.

[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano. [6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.

[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn … Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.

(Nguồn: “http://iasvn.org)

Vật liệu hạt nano được ứng dụng nhiều trong sinh học là do yếu tố nào dưới đây?

A

Kích thước của vật liệu nano được so sánh tương đương với kích thước của tế bào, gen, vi khuẩn

B

Tính chất tương tác sinh học của vật liệu

C

Khả năng hoạt hóa của vật liệu

D

Khả năng cấy gép của vật liệu

Lời giải

Bước 1: Xác định dữ kiện then chốt

Đoạn văn nhấn mạnh vật liệu nano có kích thước tương đương nhiều thực thể sinh học.

Bước 2: Liên hệ với ứng dụng

Nhờ kích thước nhỏ, vật liệu nano có thể tiếp cận, thâm nhập tế bào hoặc virus và mang thuốc.

Bước 3: Đối chiếu phương án

A đúng vì nêu chính xác nguyên nhân cốt lõi là kích thước tương đương tế bào, gen và vi khuẩn. B, C, D sai vì không được ngữ liệu xác định là nguyên nhân trực tiếp của việc ứng dụng rộng rãi.

Đáp án: A — Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước tương đương các thực thể sinh học.

Câu 7

Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học

[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.

[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).

[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.

[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này. [4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.

[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano. [6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.

[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn … Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.

(Nguồn: “http://iasvn.org)

Tính chất đặc trưng của vật liệu nano dùng trong dẫn truyền thuốc là gì?

A

Tính chất hóa học

B

Tính chất từ

C

Tính chất ăn mòn

D

Tính chất thẩm thấu

Lời giải

Bước 1: Xác định cơ chế

Đoạn văn nêu thuốc liên kết với hạt nano có tính chất từ.

Từ trường được dùng để cố định hạt nano tại vị trí mong muốn.

Bước 2: Suy ra tính chất

Khả năng chịu tác động và định hướng bởi từ trường là biểu hiện của tính chất từ.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn B. Tính chất từ; A, C, D sai vì không liên quan trực tiếp đến cơ chế điều khiển hạt nano bằng từ trường.

Đáp án: B — Hạt nano có tính chất từ nên được điều khiển và cố định bằng từ trường.

Câu 8

Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học

[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.

[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).

[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.

[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này. [4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.

[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano. [6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.

[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn … Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.

(Nguồn: “http://iasvn.org)

Cụm từ “tương hợp sinh học” thuộc đoạn [7] trong bài đọc được hiểu là?

A

Khả năng thích ứng của cơ thể người với vật thể lạ được cấy vào cơ thể

B

Quá trình hình thành giới tính của con người

C

Trạng thái cảm xúc con người

D

Là trạng thái phân tách tế bào trong quá trình phát triển

Lời giải

Bước 1: Xác định ngữ cảnh

Đoạn văn nói về hạt từ nano được dùng để phân tách tế bào trong sinh dược học.

Bước 2: Giải thích thuật ngữ

“Tương hợp sinh học” chỉ khả năng vật thể lạ hòa hợp với cơ thể người khi được đưa vào cơ thể.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn A vì diễn đạt đúng khả năng thích ứng của cơ thể với vật thể lạ; B, C, D sai vì lần lượt nói về giới tính, cảm xúc và phân tách tế bào.

Đáp án: A — “Tương hợp sinh học” là khả năng cơ thể người thích ứng với vật thể lạ được đưa vào cơ thể.

Câu 9

Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học

[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.

[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).

[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.

[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này. [4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.

[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano. [6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.

[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn … Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.

(Nguồn: “http://iasvn.org)

Từ nội dung văn bản, thì khái niệm vật liệu nano được cho là mối liên kết chặt chẽ giữa khoa học nano và công nghệ nano. Đúng hay Sai?

A

Đúng

B

Sai

Lời giải

Bước 1: Xác định nội dung liên quan

Đoạn [1] giới thiệu vật liệu nano và đặc điểm kích thước rất nhỏ.

Đoạn [2] phân biệt khoa học nano với công nghệ nano.

Bước 2: Xác lập mối liên hệ

Vật liệu nano vừa là đối tượng nghiên cứu của khoa học nano, vừa là sản phẩm ứng dụng của công nghệ nano.

Vì thế, vật liệu nano giữ vai trò liên kết chặt chẽ giữa hai lĩnh vực.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn A. Đúng vì nhận định phù hợp với mối quan hệ giữa vật liệu nano, khoa học nano và công nghệ nano.

B sai vì phủ nhận mối liên hệ được xác định trong văn bản.

Đáp án: A — Đúng vì vật liệu nano liên kết chặt chẽ khoa học nano với công nghệ nano.

Câu 10

Tương lai sẽ như thế nào với virut corona

[0] Trước tình hình như hiện nay, nhiều người đặt câu hỏi về tương lai của loại virut corona mới đã lây lan trên toàn thế giới. Liệu một chiến dịch tiêm chủng quốc tế, như chiến dịch chống bệnh đậu mùa trước đây sẽ ngăn chặn hoàn toàn virus hay không? Liệu vắc xin có hoạt động trên các biến thể mới không? Hay vi-rút sẽ tồn tại trong chúng ta một thời gian dài và chuyển thành một bệnh nhẹ, như cảm lạnh thông thường? Gần đây, một nhóm các chuyên gia quốc tế đã chia sẻ ý kiến, dự đoán và mối quan tâm của họ với giới báo chí.

[1] Bác sĩ T. Jacob John nghiên cứu về vi rút và là người lãnh đạo các nỗ lực của Ấn Độ nhằm chống lại các bệnh do vi rút gây ra, bại liệt và HIV / AIDS. Ông dự đoán rằng loại virus có tên SARS-CoV-2 sẽ trở thành một căn bệnh truyền nhiễm khác mà nhân loại phải học cách chung sống.

[2] Virut corona đang thay đổi một cách nhanh chóng. Các biến thể mới đang xuất hiện ở các quốc gia khác nhau và tiềm ẩn những rủi ro mới. Liệu vắc-xin có hoạt động trên các biến thể mới không? Các chuyên gia nói rằng virut càng lây lan nhiều thì càng có nhiều khả năng là một biến thể mới khó điều trị hoặc không thể xác định được. Một số loại vắc-xin được phát triển gần đây dường như kém hiệu quả hơn đối với các biến thể mới của vi rút. Ví dụ, công ty Novavax gần đây đã phát hiện ra rằng vắc-xin của họ không hoạt động tốt trong việc chống lại các phiên bản đột biến của vi-rút được tìm thấy ở Anh và Nam Phi. Ashley St. John là một người nghiên cứu về hệ thống miễn dịch tại Trường Y Duke-NUS ở Singapore cho biết: “các mũi tiêm sẽ cung cấp thêm một biện pháp bảo vệ, nên vắc xin vẫn có thể được sử dụng để làm chậm hoặc ngăn vi rút lây lan”. Hiện tại, các nhà khoa học đồng ý rằng việc tiêm chủng càng nhanh càng tốt cho nhiều người là rất quan trọng.

[3] Virut sẽ ở lại với chúng ta hay không? Vi rút sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến con người trong bao lâu sẽ phụ thuộc chủ yếu vào sức mạnh của khả năng miễn dịch được cung cấp bởi vắc xin và các bệnh nhiễm trùng tự nhiên.Với câu hỏi "Có phải mọi người sẽ thường xuyên bị nhiễm trùng lặp lại không?". Jeffrey Shaman Nhà nghiên cứu của Đại học Columbia không có thông tin để trả lời câu hỏi đó. Giống như nhiều nhà nghiên cứu, ông cho biết cơ hội là rất nhỏ về việc vắc xin sẽ cung cấp khả năng miễn dịch suốt đời. Vì vậy, mọi người có thể phải học cách sống chung với COVID-19. Nhưng tình trạng đó sẽ phụ thuộc vào thời gian miễn dịch kéo dài và cũng như cách vi-rút phát triển. Trả lời cho câu hỏi về điều gì sẽ xảy ra tiếp theo, Jennie Lavine, một nhà nghiên cứu virus tại Đại học Emory, đồng tác giả của một nghiên cứu gần đây trên ấn phẩm Khoa học đã đưa ra một dự đoán khả quan: “Sau khi hầu hết mọi người đã tiếp xúc với vi-rút (qua tiêm chủng hoặc bị nhiễm vi-rút), vi-rút sẽ tiếp tục lưu hành, nhưng chủ yếu chỉ gây ra bệnh nhẹ, giống như cảm lạnh thông thường”. Đồng tác giả của nghiên cứu là Ottar Bjornstad. Ông nghiên cứu virus tại Đại học Bang Pennsylvania. Ông cho biết những người bị tái nhiễm với loại coronavirus mới thường có biểu hiện dạng bệnh yếu hơn. Dự đoán trong nghiên cứu của Lavin và Bjornsad dựa trên các nghiên cứu về cách các virut corona hoạt động theo thời gian. Các nhà nghiên cứu khẳng định SAR-CoV-2 sẽ tiếp tục phát triển, nhưng không nhanh chóng hoặc theo những cách khác nhau.

[4] Từ đại dịch cúm năm 1918 có thể giúp dự đoán cách thức COVID-19 sẽ hoạt động như thế nào?. Vào thời điểm đó, không có vắc xin nào có sẵn. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ ước tính rằng một phần ba dân số thế giới đã bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên, sau khi những người bị nhiễm chết hoặc đã phát triển khả năng miễn dịch, vi rút ngừng lây lan nhanh chóng. Sau đó, nó biến đổi thành một dạng ít nghiêm trọng hơn, mà các chuyên gia cho rằng vẫn tiếp tục lưu hành theo mùa.

[5] Bác sĩ Gagandeep Kang là một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm tại Trường Cao đẳng Y tế Christian tại Vellore ở miền nam Ấn Độ. Kang nói rằng sự phát triển của virus đặt ra nhiều câu hỏi. Virus trở thành phiên bản mới ở giai đoạn nào? Các quốc gia sẽ cần phải tiêm chủng lại hay không? Hoặc có thể tiêm bổ sung? "Đây là những câu hỏi mà bạn sẽ phải giải quyết trong tương lai". Một số bệnh truyền nhiễm cao đã được kiểm soát bằng vắc-xin và cung cấp khả năng miễn dịch suốt đời - chẳng hạn như bệnh sởi. Sự lây lan của bệnh sởi giảm sau khi nhiều người đã được chủng ngừa. Tuy nhiên, không giống như bệnh sởi, trẻ em bị nhiễm COVID-19 không phải lúc nào cũng có dấu hiệu nhiễm trùng rõ ràng. Do dó, họ vẫn có thể lây nhiễm cho người khác. Điều đó có nghĩa là, các quốc gia không thể lơ là trong việc theo dõi diễn biến của loại vi-rút này.

(Nguồn: Associated Press; the Health & Lifestyle Report, VOA)

Câu nào dưới đây thể hiện rõ nhất ý chính của bài đọc trên?

A

Ý kiến của giới khoa học về sự biến đổi của virut corona.

B

Tình hình tiêm chủng vac xin chống virut corona trên thế giới.

C

Sự ảnh hưởng của vi rút corona đến Việt Nam

D

Khả năng kiểm soát virut corona của con người.

Lời giải

Bước 1: Xác định chủ đề

Bài đọc tập trung vào dự báo của các chuyên gia về tương lai và sự biến đổi của virút corona.

Bước 2: Khái quát nội dung

Các ý kiến đề cập đến biến thể mới, hiệu quả vắc xin, khả năng miễn dịch và xu hướng virút trở thành bệnh nhẹ hơn.

Bước 3: Đối chiếu phương án

A đúng vì khái quát ý kiến giới khoa học về sự biến đổi và tương lai của virút corona; B, C, D sai vì lần lượt chỉ nói về tiêm chủng, Việt Nam và khả năng kiểm soát virút, đều hẹp hơn nội dung bài.

Đáp án: A — Bài đọc khái quát ý kiến của giới khoa học về sự biến đổi và tương lai của virút corona.
Bảng tra cứu nhanh đáp án trọn bộ 10 câu hỏiNhấn để đóng / mở
Câu12345678910
Đáp ánCBCACABAAA

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 20 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.

Đăng nhập để làm bài
Đáp án & Lời giải chi tiết: Đề thi thử ĐGTD ĐHBK HN năm 2025 - Mã đề 02 — Tư duy Đọc hiểu môn Tư duy Đọc hiểu (Đánh giá Tư duy (TSA)) | 9Study - 9Study