Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học
[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động
nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.
[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có
kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).
[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.
[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này.
[4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song 25 song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.
[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều 35 trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano.
[6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano 40 có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.
[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân | 45 tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn ... Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.
(Nguồn: “http://iasvn.org)
Diễn đạt nào dưới đây thể hiện rõ nhất ý chính của bài đọc trên?
Phương pháp chế tạo vật liệu nano
Tính chất đặc trưng của vật liệu nano
Giới thiệu về vật liệu nano và một số ứng dụng của vật liệu nano trong y học
Giới thiệu về ngành khoa học nano
Các đoạn giới thiệu khái niệm, đặc điểm và tính chất vật liệu nano.
Các đoạn trình bày những ứng dụng của vật liệu nano trong y học.
Bài đọc gồm hai mạch nội dung: giới thiệu vật liệu nano và nêu một số ứng dụng y học.
Vì vậy, cần chọn phương án bao quát cả hai mạch này.
Chọn C. A, B, D sai vì lần lượt chỉ nói về phương pháp chế tạo, tính chất đặc trưng hoặc ngành khoa học nano; C bao quát phần giới thiệu vật liệu nano và các ứng dụng trong y học.
Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học
[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động
nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.
[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có
kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).
[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.
[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này.
[4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song 25 song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.
[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều 35 trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano.
[6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano 40 có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.
[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân | 45 tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn ... Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.
(Nguồn: “http://iasvn.org)
Theo bài đọc, dạng nào dưới đây KHÔNG phải là dạng vật liệu nano?
Nguyên tử của các nguyên tố
Tóc người
Các hạt electron
Chuỗi DNA
Đối chiếu từng phương án với phạm vi kích thước nano và cấp độ nguyên tử, phân tử.
Chọn : tóc người có kích thước lớn, chỉ được dùng để so sánh độ nhỏ của vật liệu nano.
, , sai vì nguyên tử, electron và DNA đều gắn với cấp độ hoặc kích thước nano.
Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học
[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động
nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.
[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có
kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).
[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.
[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này.
[4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song 25 song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.
[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều 35 trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano.
[6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano 40 có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.
[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân | 45 tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn ... Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.
(Nguồn: “http://iasvn.org)
Theo bài đọc thì khoa học nano là:
Ngành nghiên cứu về vật liệu tổng hợp
Ngành khoa học nghiên cứu về cấu trúc vật liệu
Ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự tác động vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử
Nghiên cứu ứng dụng vật liệu
Đoạn [2] nêu rõ: khoa học nano nghiên cứu các hiện tượng và sự can thiệp vào vật liệu ở mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử.
Chọn C vì diễn đạt đầy đủ định nghĩa trong bài; A, B, D sai vì lần lượt nói về vật liệu tổng hợp, chỉ cấu trúc vật liệu, và ứng dụng vật liệu.
Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học
[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động
nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.
[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có
kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).
[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.
[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này.
[4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song 25 song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.
[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều 35 trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano.
[6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano 40 có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.
[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân | 45 tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn ... Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.
(Nguồn: “http://iasvn.org)
Cụm từ "công nghệ nano" ở dòng 3, đoạn [2] dùng để nói đến việc:
Nghiên cứu chế tạo và ứng dụng vật liệu nano
Nghiên cứu các tính chất điện của vật liệu nano
Nghiên cứu các tính chất từ của vật liệu nano
Nghiên cứu sự ảnh hưởng của vật liệu nano đến con người
Ở đoạn , công nghệ nano được định nghĩa bằng chuỗi hoạt động: thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng.
Các hoạt động trên đều hướng vào việc tạo ra và sử dụng những cấu trúc, thiết bị, hệ thống ở quy mô nano.
Chọn A vì bao quát việc nghiên cứu, chế tạo và ứng dụng vật liệu nano; B, C, D sai vì lần lượt chỉ giới hạn ở tính chất điện, tính chất từ hoặc ảnh hưởng đến con người.
Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học
[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động
nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.
[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có
kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).
[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.
[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này.
[4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song 25 song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.
[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều 35 trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano.
[6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano 40 có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.
[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân | 45 tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn ... Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.
(Nguồn: “http://iasvn.org)
Những tính chất khác biệt của vật liệu nano so với vật liệu khối là do nguyên nhân nào mang lại?
Do tính chất lượng tử của vật liệu
Do tính chất khối của vật liệu
Do kích thước rất nhỏ ở mức nanomet
Do trạng thái tồn tại của vật liệu
Đoạn khẳng định tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé.
Kích thước nanomet khiến vật liệu nano có tính chất khác vật liệu khối.
Chọn C vì nêu đúng nguyên nhân là kích thước rất nhỏ ở mức nanomet; A, B, D sai vì lần lượt chỉ nêu tính chất lượng tử, tính chất khối và trạng thái tồn tại, không phải nguyên nhân trực tiếp.
Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học
[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động
nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.
[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có
kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).
[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.
[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này.
[4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song 25 song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.
[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều 35 trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano.
[6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano 40 có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.
[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân | 45 tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn ... Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.
(Nguồn: “http://iasvn.org)
Vật liệu hạt nano được ứng dụng nhiều trong sinh học là do yếu tố nào dưới đây?
Kích thước của vật liệu nano được so sánh tương đương với kích thước của tế bào, gen, vi khuẩn
Tính chất tương tác sinh học của vật liệu
Khả năng hoạt hóa của vật liệu
Khả năng cấy ghép của vật liệu
Đoạn văn giải thích vật liệu nano được dùng nhiều vì kích thước của nó so sánh được với tế bào, virus, protein và gen.
Kích thước tương đương giúp vật liệu nano dễ “ngụy trang” và thâm nhập vào tế bào hoặc virus.
Chọn A vì nêu đúng nguyên nhân cốt lõi là sự tương đương về kích thước với các đối tượng sinh học.
B, C, D sai vì không được đoạn văn dùng làm nguyên nhân chính: B nêu chung chung, C và D không có căn cứ.
Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học
[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động
nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.
[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có
kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).
[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.
[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này.
[4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song 25 song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.
[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều 35 trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano.
[6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano 40 có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.
[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân | 45 tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn ... Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.
(Nguồn: “http://iasvn.org)
Tính chất đặc trưng của vật liệu nano dùng trong dẫn truyền thuốc là gì?
Tính chất hóa học
Tính chất từ
Tính chất ăn mòn
Tính chất thẩm thấu
Đoạn văn nêu thuốc được liên kết với hạt nano có tính chất từ.
Từ trường giữ hạt nano tại vị trí cần dẫn thuốc.
Chọn B. Tính chất từ; A, C, D sai vì ngữ liệu không xác định tính chất hóa học, ăn mòn hoặc thẩm thấu là đặc trưng của ứng dụng này.
Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học
[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động
nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.
[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có
kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).
[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.
[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này.
[4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song 25 song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.
[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều 35 trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano.
[6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano 40 có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.
[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân | 45 tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn ... Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.
(Nguồn: “http://iasvn.org)
Cụm từ “tương hợp sinh học” thuộc dòng 45, đoạn [7] trong bài đọc được hiểu là?
Khả năng thích ứng của cơ thể người với vật thể lạ được cấy vào cơ thể
Quá trình hình thành giới tính của con người
Trạng thái cảm xúc con người
Là trạng thái phân tách tế bào trong quá trình phát triển
Đoạn văn nói về hạt nano từ được đưa vào quá trình phân tách tế bào.
Vì vậy, “tương hợp sinh học” phải liên quan đến mức độ phù hợp với cơ thể người.
“Tương hợp” là phù hợp, thích ứng; “sinh học” là thuộc cơ thể sống.
Cụm từ chỉ khả năng cơ thể người thích ứng với vật thể lạ được đưa vào cơ thể.
Chọn A: Khả năng thích ứng của cơ thể người với vật thể lạ được cấy vào cơ thể.
B, C, D sai vì lần lượt nói về giới tính, cảm xúc và phân tách tế bào, không giải thích sự tương thích giữa vật thể với cơ thể.
Vật liệu nano và ứng dụng vật liệu nano trong y học
[0] Vật liệu nano (nano materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động
nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ.
[1] Vật liệu nano là một loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, ống, hay các tấm mỏng,.. Có
kích thước rất nhỏ khoảng từ 1 – 100 nanomet theo ít nhất một chiều (1 nanomét = 1 phần tỷ mét, tức là mảnh hơn sợi tóc người từ 50.000 - 100.000 lần). Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano (nanoscience) và công nghệ nano (nanotechnology).
[2] Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở các mức độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các mức độ đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các mức độ lớn hơn. Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.
[3] Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano thuộc một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước rất nhỏ bé của chúng, có thể so sánh với các kích thước tới hạn của đặc tính hóa lí của vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất lạ bắt đầu từ nguyên nhân này.
[4] Ví dụ: Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men (domain) từ, trong lòng một đô men các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song 25 song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.
[5] Có thể nói y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano. Vật liệu nano được ứng dụng nhiều trong sinh học vì kích thước của nó so sánh được với kích thước của tế bào (10- 100 nm), virus (20-450 nm), protein (5-50 nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Vật liệu từ nano trong sinh học được sử dụng nhiều 35 trong phân tách tế bào (magnetic cell separation), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano.
[6] Sử dụng vật liệu nano dạng hạt để dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ứng dụng của vật liệu nano, thuốc được liên kết với hạt nano 40 có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.
[7] Trong sinh dược học, khi cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) được sử dụng. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân | 45 tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào theo cơ chế giống như ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn ... Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.
(Nguồn: “http://iasvn.org)
Từ nội dung đoạn [1] và [2], thì khái niệm vật liệu nano được cho là mối liên kết chặt chẽ giữa khoa học nano và công nghệ nano. Đúng hay sai?
Đúng
Sai
Đoạn [1] cho biết muốn hiểu vật liệu nano cần biết khoa học nano và công nghệ nano.
Đoạn [2] lần lượt giải thích nội dung của hai lĩnh vực này.
Vật liệu nano được đặt trong mối quan hệ với cả hai lĩnh vực: khoa học nano nghiên cứu, còn công nghệ nano chế tạo và ứng dụng.
Vì vậy, nhận định vật liệu nano là mối liên kết giữa hai lĩnh vực là phù hợp.
Chọn A. B sai vì phủ định mối liên hệ chặt chẽ giữa vật liệu nano với khoa học nano và công nghệ nano.
Tương lai sẽ như thế nào với virut corona
[0] Trước tình hình như hiện nay, nhiều người đặt câu hỏi về tương lai của loại virut corona mới đã lây lan trên toàn thế giới. Liệu một chiến dịch tiêm chủng quốc tế, như chiến dịch chống bệnh đậu mùa trước đây sẽ ngăn chặn hoàn toàn virus hay không? Liệu vắc xin có hoạt động trên các biến thể mới không? Hay vi-rút sẽ tồn tại trong chúng ta một thời gian dài và chuyển thành một bệnh nhẹ, như cảm lạnh thông thường? Gần đây, một nhóm các chuyên gia quốc tế đã chia sẻ ý kiến, dự đoán và mối quan tâm của họ với giới báo chí.
[1] Bác sĩ T. Jacob John nghiên cứu về vi rút và là người lãnh đạo các nỗ lực của Ấn Độ nhằm chống lại các bệnh do vi rút gây ra, bại liệt và HIV / AIDS. Ông dự đoán rằng loại virus có tên SARS-CoV-2 sẽ trở thành một căn bệnh truyền nhiễm khác mà nhân loại phải học cách chung 10 sống.
[2] Virut corona đang thay đổi một cách nhanh chóng. Các biến thể mới đang xuất hiện ở các quốc gia khác nhau và tiềm ẩn những rủi ro mới. Liệu vắc-xin có hoạt động trên các biến thể mới không? Các chuyên gia nói rằng virut càng lây lan nhiều thì càng có nhiều khả năng là một biến thể mới khó điều trị hoặc không thể xác định được. Một số loại vắc-xin được phát triển gần đây dường như kém hiệu quả hơn đối với các biến thể mới của vi rút. Ví dụ, công ty Novavax gần đây đã phát hiện ra rằng vắc-xin của họ không hoạt động tốt trong việc chống lại các phiên bản đột biến của vi-rút được tìm thấy ở Anh và Nam Phi. Ashley St. John là một người nghiên cứu về hệ thống miễn dịch tại Trường Y Duke-NUS ở Singapore cho biết: “các mũi tiêm sẽ cung cấp thêm một biện pháp bảo vệ, nên vắc xin vẫn có thể được sử dụng để làm chậm hoặc ngăn vi rút lây lan”. Hiện tại, các nhà khoa học đồng ý rằng việc tiêm chủng càng.
Câu nào dưới đây thể hiện rõ nhất ý chính của bài đọc trên?
Ý kiến của giới khoa học về sự biến đổi của virus corona.
Tình hình tiêm chủng vắc-xin chống virus corona trên thế giới.
Sự ảnh hưởng của virus corona đến Việt Nam.
Khả năng kiểm soát virus corona của con người.
Bài đọc tập trung vào tương lai của vi-rút corona qua dự đoán, ý kiến và mối quan tâm của các chuyên gia.
Các đoạn triển khai sự biến đổi của vi-rút, sự xuất hiện của biến thể mới và khả năng đáp ứng của vắc-xin.
Vì vậy, trọng tâm là ý kiến giới khoa học về sự biến đổi của vi-rút corona.
Chọn A. B sai vì chỉ tập trung vào tình hình tiêm chủng; C sai vì bài không nói riêng về Việt Nam; D sai vì khái quát sang khả năng kiểm soát, không nêu đúng trọng tâm biến đổi và nhận định khoa học.
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đáp án | C | B | C | A | C | A | B | A | A | A |
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 20 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.
Đăng nhập để làm bài