Trong một hạt nhân bền, các proton và neutron có liên kết chặt chẽ với nhau.
Khi muốn phá vỡ hạt nhân để tách thành các nuclon riêng rẽ cần phải tốn một năng lượng cung cấp từ bên ngoài cho hạt nhân, năng lượng này có giá trị ít nhất phải bằng năng lượng liên kết giữa các nuclon, ta gọi là năng lượng liên kết hạt nhân.
Như vậy năng lượng liên kết hạt nhân là năng lượng có trị số bằng công cần thiết để phá hạt nhân thành các nuclon riêng biệt.
Năng lượng liên kết được kí hiệu là và được tính theo công thức:
, trong đó là độ hụt khối.
Nếu một hạt nhân có Z proton, số khối là A và khối lượng nguyên tử là thì công thức độ hụt khối là:
, với và lần lượt là khối lượng của proton và neutron.
Khi dùng đơn vị khối lượng nguyên tử thì công thức tính năng lượng liên kết là:
Năng lượng liên kết hạt nhân càng lớn thì liên kết giữa các nuclon càng mạnh.
Tuy nhiên, năng lượng liên kết hạt nhân phụ thuộc vào số nuclon trong hạt nhân thể hiện qua độ hụt khối .
Do đó, nếu dùng năng lượng liên kết hạt nhân để so sánh sự bền vững thì không hoàn toàn chính xác:
một hạt nhân nhiều nuclon có năng lượng liên kết lớn chưa hẳn đã bền hơn một hạt nhân ít nuclon có năng lượng liên kết nhỏ hơn.
Vì vậy, để so sánh độ bền vững giữa các hạt nhân, cần so sánh năng lượng liên kết trung bình cho một nuclon, được gọi là năng lượng liên kết riêng.
Như vậy, năng lượng liên kết riêng của hạt nhân, kí hiệu là , có giá trị bằng tỉ số giữa năng lượng liên kết và tổng số nuclon của hạt nhân.
Năng lượng liên kết riêng càng lớn thì hạt nhân càng bền vững.
Hình bên dưới là đồ thị biểu diễn năng lượng liên kết riêng theo số khối A của hạt nhân.

Đơn vị tính của năng lượng liên kết hạt nhân là gì?
MeV.
J.
m/s.
u.
Năng lượng liên kết được tính bằng .
Theo dữ kiện, khối lượng dùng đơn vị u nên năng lượng thu được tính bằng MeV.
Chọn A: MeV. B sai trong ngữ cảnh quy đổi đã cho; C, D lần lượt là đơn vị vận tốc và khối lượng, không phải năng lượng.
Trong một hạt nhân bền, các proton và neutron có liên kết chặt chẽ với nhau.
Khi muốn phá vỡ hạt nhân để tách thành các nuclon riêng rẽ cần phải tốn một năng lượng cung cấp từ bên ngoài cho hạt nhân, năng lượng này có giá trị ít nhất phải bằng năng lượng liên kết giữa các nuclon, ta gọi là năng lượng liên kết hạt nhân.
Như vậy năng lượng liên kết hạt nhân là năng lượng có trị số bằng công cần thiết để phá hạt nhân thành các nuclon riêng biệt.
Năng lượng liên kết được kí hiệu là và được tính theo công thức:
, trong đó là độ hụt khối.
Nếu một hạt nhân có Z proton, số khối là A và khối lượng nguyên tử là thì công thức độ hụt khối là:
, với và lần lượt là khối lượng của proton và neutron.
Khi dùng đơn vị khối lượng nguyên tử thì công thức tính năng lượng liên kết là:
Năng lượng liên kết hạt nhân càng lớn thì liên kết giữa các nuclon càng mạnh.
Tuy nhiên, năng lượng liên kết hạt nhân phụ thuộc vào số nuclon trong hạt nhân thể hiện qua độ hụt khối .
Do đó, nếu dùng năng lượng liên kết hạt nhân để so sánh sự bền vững thì không hoàn toàn chính xác:
một hạt nhân nhiều nuclon có năng lượng liên kết lớn chưa hẳn đã bền hơn một hạt nhân ít nuclon có năng lượng liên kết nhỏ hơn.
Vì vậy, để so sánh độ bền vững giữa các hạt nhân, cần so sánh năng lượng liên kết trung bình cho một nuclon, được gọi là năng lượng liên kết riêng.
Như vậy, năng lượng liên kết riêng của hạt nhân, kí hiệu là , có giá trị bằng tỉ số giữa năng lượng liên kết và tổng số nuclon của hạt nhân.
Năng lượng liên kết riêng càng lớn thì hạt nhân càng bền vững.
Hình bên dưới là đồ thị biểu diễn năng lượng liên kết riêng theo số khối A của hạt nhân.

Năng lượng liên kết riêng của hạt nhân có thể được tính theo công thức nào sau đây?
Năng lượng liên kết riêng bằng năng lượng liên kết chia cho tổng số nuclon .
Chọn . là công thức của , là công thức của độ hụt khối , còn thiếu thừa số .
Trong một hạt nhân bền, các proton và neutron có liên kết chặt chẽ với nhau.
Khi muốn phá vỡ hạt nhân để tách thành các nuclon riêng rẽ cần phải tốn một năng lượng cung cấp từ bên ngoài cho hạt nhân, năng lượng này có giá trị ít nhất phải bằng năng lượng liên kết giữa các nuclon, ta gọi là năng lượng liên kết hạt nhân.
Như vậy năng lượng liên kết hạt nhân là năng lượng có trị số bằng công cần thiết để phá hạt nhân thành các nuclon riêng biệt.
Năng lượng liên kết được kí hiệu là và được tính theo công thức:
, trong đó là độ hụt khối.
Nếu một hạt nhân có Z proton, số khối là A và khối lượng nguyên tử là thì công thức độ hụt khối là:
, với và lần lượt là khối lượng của proton và neutron.
Khi dùng đơn vị khối lượng nguyên tử thì công thức tính năng lượng liên kết là:
Năng lượng liên kết hạt nhân càng lớn thì liên kết giữa các nuclon càng mạnh.
Tuy nhiên, năng lượng liên kết hạt nhân phụ thuộc vào số nuclon trong hạt nhân thể hiện qua độ hụt khối .
Do đó, nếu dùng năng lượng liên kết hạt nhân để so sánh sự bền vững thì không hoàn toàn chính xác:
một hạt nhân nhiều nuclon có năng lượng liên kết lớn chưa hẳn đã bền hơn một hạt nhân ít nuclon có năng lượng liên kết nhỏ hơn.
Vì vậy, để so sánh độ bền vững giữa các hạt nhân, cần so sánh năng lượng liên kết trung bình cho một nuclon, được gọi là năng lượng liên kết riêng.
Như vậy, năng lượng liên kết riêng của hạt nhân, kí hiệu là , có giá trị bằng tỉ số giữa năng lượng liên kết và tổng số nuclon của hạt nhân.
Năng lượng liên kết riêng càng lớn thì hạt nhân càng bền vững.
Hình bên dưới là đồ thị biểu diễn năng lượng liên kết riêng theo số khối A của hạt nhân.

Phát biểu nào sau đây là đúng hoặc sai?
Năng lượng liên kết riêng là năng lượng liên kết tính cho một nuclon.
Hạt nhân có độ hụt khối càng lớn thì năng lượng liên kết càng lớn.
Hạt nhân càng bền vững khi có năng lượng liên kết càng lớn.
Năng lượng liên kết đặc trưng cho mức độ bền vững của hạt nhân.
Câu này chưa có lời giải.
Trong một hạt nhân bền, các proton và neutron có liên kết chặt chẽ với nhau.
Khi muốn phá vỡ hạt nhân để tách thành các nuclon riêng rẽ cần phải tốn một năng lượng cung cấp từ bên ngoài cho hạt nhân, năng lượng này có giá trị ít nhất phải bằng năng lượng liên kết giữa các nuclon, ta gọi là năng lượng liên kết hạt nhân.
Như vậy năng lượng liên kết hạt nhân là năng lượng có trị số bằng công cần thiết để phá hạt nhân thành các nuclon riêng biệt.
Năng lượng liên kết được kí hiệu là và được tính theo công thức:
, trong đó là độ hụt khối.
Nếu một hạt nhân có Z proton, số khối là A và khối lượng nguyên tử là thì công thức độ hụt khối là:
, với và lần lượt là khối lượng của proton và neutron.
Khi dùng đơn vị khối lượng nguyên tử thì công thức tính năng lượng liên kết là:
Năng lượng liên kết hạt nhân càng lớn thì liên kết giữa các nuclon càng mạnh.
Tuy nhiên, năng lượng liên kết hạt nhân phụ thuộc vào số nuclon trong hạt nhân thể hiện qua độ hụt khối .
Do đó, nếu dùng năng lượng liên kết hạt nhân để so sánh sự bền vững thì không hoàn toàn chính xác:
một hạt nhân nhiều nuclon có năng lượng liên kết lớn chưa hẳn đã bền hơn một hạt nhân ít nuclon có năng lượng liên kết nhỏ hơn.
Vì vậy, để so sánh độ bền vững giữa các hạt nhân, cần so sánh năng lượng liên kết trung bình cho một nuclon, được gọi là năng lượng liên kết riêng.
Như vậy, năng lượng liên kết riêng của hạt nhân, kí hiệu là , có giá trị bằng tỉ số giữa năng lượng liên kết và tổng số nuclon của hạt nhân.
Năng lượng liên kết riêng càng lớn thì hạt nhân càng bền vững.
Hình bên dưới là đồ thị biểu diễn năng lượng liên kết riêng theo số khối A của hạt nhân.

Năng lượng liên kết riêng của hạt nhân là (1) MeV/nuclon.
Dùng khối lượng nguyên tử hiđrô và sắt: , , .
Đổi độ hụt khối sang năng lượng liên kết bằng hệ thức .
Chia năng lượng liên kết cho tổng số nuclon .
Trong một hạt nhân bền, các proton và neutron có liên kết chặt chẽ với nhau.
Khi muốn phá vỡ hạt nhân để tách thành các nuclon riêng rẽ cần phải tốn một năng lượng cung cấp từ bên ngoài cho hạt nhân, năng lượng này có giá trị ít nhất phải bằng năng lượng liên kết giữa các nuclon, ta gọi là năng lượng liên kết hạt nhân.
Như vậy năng lượng liên kết hạt nhân là năng lượng có trị số bằng công cần thiết để phá hạt nhân thành các nuclon riêng biệt.
Năng lượng liên kết được kí hiệu là và được tính theo công thức:
, trong đó là độ hụt khối.
Nếu một hạt nhân có Z proton, số khối là A và khối lượng nguyên tử là thì công thức độ hụt khối là:
, với và lần lượt là khối lượng của proton và neutron.
Khi dùng đơn vị khối lượng nguyên tử thì công thức tính năng lượng liên kết là:
Năng lượng liên kết hạt nhân càng lớn thì liên kết giữa các nuclon càng mạnh.
Tuy nhiên, năng lượng liên kết hạt nhân phụ thuộc vào số nuclon trong hạt nhân thể hiện qua độ hụt khối .
Do đó, nếu dùng năng lượng liên kết hạt nhân để so sánh sự bền vững thì không hoàn toàn chính xác:
một hạt nhân nhiều nuclon có năng lượng liên kết lớn chưa hẳn đã bền hơn một hạt nhân ít nuclon có năng lượng liên kết nhỏ hơn.
Vì vậy, để so sánh độ bền vững giữa các hạt nhân, cần so sánh năng lượng liên kết trung bình cho một nuclon, được gọi là năng lượng liên kết riêng.
Như vậy, năng lượng liên kết riêng của hạt nhân, kí hiệu là , có giá trị bằng tỉ số giữa năng lượng liên kết và tổng số nuclon của hạt nhân.
Năng lượng liên kết riêng càng lớn thì hạt nhân càng bền vững.
Hình bên dưới là đồ thị biểu diễn năng lượng liên kết riêng theo số khối A của hạt nhân.

Cho các hạt nhân sau:
Sắp xếp các hạt nhân theo thứ tự tăng dần độ bền vững của hạt nhân là:
Độ bền vững được đánh giá bằng năng lượng liên kết riêng , không phải năng lượng liên kết toàn phần.
Theo đồ thị, các giá trị năng lượng liên kết riêng tăng theo thứ tự của các hạt nhân dưới đây.
Thứ tự tăng dần độ bền vững là . B, C, D sai vì lần lượt đảo vị trí các hạt nhân, không khớp thứ tự đọc từ đồ thị.
Trong một hạt nhân bền, các proton và neutron có liên kết chặt chẽ với nhau.
Khi muốn phá vỡ hạt nhân để tách thành các nuclon riêng rẽ cần phải tốn một năng lượng cung cấp từ bên ngoài cho hạt nhân, năng lượng này có giá trị ít nhất phải bằng năng lượng liên kết giữa các nuclon, ta gọi là năng lượng liên kết hạt nhân.
Như vậy năng lượng liên kết hạt nhân là năng lượng có trị số bằng công cần thiết để phá hạt nhân thành các nuclon riêng biệt.
Năng lượng liên kết được kí hiệu là và được tính theo công thức:
, trong đó là độ hụt khối.
Nếu một hạt nhân có Z proton, số khối là A và khối lượng nguyên tử là thì công thức độ hụt khối là:
, với và lần lượt là khối lượng của proton và neutron.
Khi dùng đơn vị khối lượng nguyên tử thì công thức tính năng lượng liên kết là:
Năng lượng liên kết hạt nhân càng lớn thì liên kết giữa các nuclon càng mạnh.
Tuy nhiên, năng lượng liên kết hạt nhân phụ thuộc vào số nuclon trong hạt nhân thể hiện qua độ hụt khối .
Do đó, nếu dùng năng lượng liên kết hạt nhân để so sánh sự bền vững thì không hoàn toàn chính xác:
một hạt nhân nhiều nuclon có năng lượng liên kết lớn chưa hẳn đã bền hơn một hạt nhân ít nuclon có năng lượng liên kết nhỏ hơn.
Vì vậy, để so sánh độ bền vững giữa các hạt nhân, cần so sánh năng lượng liên kết trung bình cho một nuclon, được gọi là năng lượng liên kết riêng.
Như vậy, năng lượng liên kết riêng của hạt nhân, kí hiệu là , có giá trị bằng tỉ số giữa năng lượng liên kết và tổng số nuclon của hạt nhân.
Năng lượng liên kết riêng càng lớn thì hạt nhân càng bền vững.
Hình bên dưới là đồ thị biểu diễn năng lượng liên kết riêng theo số khối A của hạt nhân.

Biết khối lượng nghỉ của proton, neutron, và electron lần lượt là 1,00728u; 1,00866u và 5,486.10^-4u.
Khối lượng của nguyên tử có giá trị là:
14,0027 u.
13,99886 u.
0,11272 u.
14,11158 u.
Với , có proton, neutron và electron.
Thay các giá trị khối lượng và độ hụt khối tương ứng của hạt nhân vào công thức.
Chọn A: ; B, C, D sai vì lần lượt cho kết quả khác, biểu diễn độ hụt khối, và chưa trừ độ hụt khối liên kết.
Trong một hạt nhân bền, các proton và neutron có liên kết chặt chẽ với nhau.
Khi muốn phá vỡ hạt nhân để tách thành các nuclon riêng rẽ cần phải tốn một năng lượng cung cấp từ bên ngoài cho hạt nhân, năng lượng này có giá trị ít nhất phải bằng năng lượng liên kết giữa các nuclon, ta gọi là năng lượng liên kết hạt nhân.
Như vậy năng lượng liên kết hạt nhân là năng lượng có trị số bằng công cần thiết để phá hạt nhân thành các nuclon riêng biệt.
Năng lượng liên kết được kí hiệu là và được tính theo công thức:
, trong đó là độ hụt khối.
Nếu một hạt nhân có Z proton, số khối là A và khối lượng nguyên tử là thì công thức độ hụt khối là:
, với và lần lượt là khối lượng của proton và neutron.
Khi dùng đơn vị khối lượng nguyên tử thì công thức tính năng lượng liên kết là:
Năng lượng liên kết hạt nhân càng lớn thì liên kết giữa các nuclon càng mạnh.
Tuy nhiên, năng lượng liên kết hạt nhân phụ thuộc vào số nuclon trong hạt nhân thể hiện qua độ hụt khối .
Do đó, nếu dùng năng lượng liên kết hạt nhân để so sánh sự bền vững thì không hoàn toàn chính xác:
một hạt nhân nhiều nuclon có năng lượng liên kết lớn chưa hẳn đã bền hơn một hạt nhân ít nuclon có năng lượng liên kết nhỏ hơn.
Vì vậy, để so sánh độ bền vững giữa các hạt nhân, cần so sánh năng lượng liên kết trung bình cho một nuclon, được gọi là năng lượng liên kết riêng.
Như vậy, năng lượng liên kết riêng của hạt nhân, kí hiệu là , có giá trị bằng tỉ số giữa năng lượng liên kết và tổng số nuclon của hạt nhân.
Năng lượng liên kết riêng càng lớn thì hạt nhân càng bền vững.
Hình bên dưới là đồ thị biểu diễn năng lượng liên kết riêng theo số khối A của hạt nhân.

Hãy hoàn thành đoạn sau bằng cách kéo thả các từ vào đúng vị trí.
Hãy hoàn thành đoạn sau bằng cách kéo thả các từ vào đúng vị trí.
Ngoại trừ các hạt sơ cấp riêng rẽ (như proton, neutron, electron), hạt nhân có năng lượng liên kết riêng càng lớn thì càng . Thực nghiệm cho thấy những hạt nhân có số khối lớn hơn hoặc số khối nhỏ hơn thì kém bền vững, còn những hạt nhân có số khối thì rất bền vững.
bền vững
kém bền vững
200
20
50 < A < 80
Năng lượng liên kết riêng càng lớn thì hạt nhân càng bền vững.
Hạt nhân có hoặc kém bền vững.
Hạt nhân có rất bền vững.
Bốn chỗ trống lần lượt cần: bền vững, , , .
Theo phương án, thứ tự là , , , .
Điện có thể được định nghĩa là sự chuyển động của các điện tử. Ba trong số các khái niệm quan trọng nhất cần hiểu về điện là điện áp (điện thế), dòng điện và điện trở.
Điện áp (đo bằng vôn (V)) mô tả lượng thế năng giữa hai điểm trên một mạch điện và được tạo ra bởi sự chênh lệch điện tích giữa hai điểm đó.
Dòng điện (được đo bằng Ampe (A)) là tốc độ mà các electron chạy qua một mạch điện. Tốc độ của một ampe tương đương với 1 coulomb (đơn vị điện tích tiêu chuẩn) mỗi giây.
Điện trở (được đo bằng ôm (Ω)) là phép đo mức độ vật liệu chống lại dòng điện chạy qua vật liệu. Vật liệu có điện trở cao được gọi là chất cách điện, trong khi vật liệu có điện trở thấp được gọi là chất dẫn điện. Các sinh viên trong một khóa học vật lý đã tiến hành một số thí nghiệm để điều tra mối quan hệ giữa ba tính chất điện này.
Thí nghiệm 1
Học sinh được cung cấp nhiều loại pin, điện trở và ampe kế , cùng với dây điện và đầu nối. Học sinh xây dựng mạch điện dựa trên sơ đồ mạch điện bên dưới và đo cường độ dòng điện trong mỗi mạch. Bảng 1 cho thấy kết quả của họ.
(Xem hình bảng 1 bên dưới)
Thí nghiệm 2
Để nghiên cứu sâu hơn về tính chất của điện trở, học sinh đã thay thế điện trở trong mạch của mình bằng các cuộn dây niken có độ dài khác nhau. Học sinh dùng một nguồn điện biến đổi để điều chỉnh hiệu điện thế cho đến khi cường độ dòng điện bằng 1 A. Sau đó, sau đó sử dụng mối liên hệ giữa hiệu điện thế, cường độ dòng điện và điện trở đã xác định ở Thí nghiệm 1 để tính điện trở của cuộn dây. Kết quả của họ được biểu thị trong Hình 2.
(Xem hình bảng 2 bên dưới)
Thí nghiệm 3
Học sinh lặp lại quy trình từ Thí nghiệm 2 bằng cách sử dụng cuộn dây dài 1 mét bằng nhiều loại kim loại khác. Kết quả của họ được đưa ra trong Bảng 2.
(Xem hình bảng 3 bên dưới)

Dựa vào dữ liệu trong Thí nghiệm 1, biểu thức nào sau đây mô tả đúng nhất mối quan hệ giữa cường độ dòng điện, hiệu điện thế và điện trở? Cường độ dòng điện:
tăng khi tăng hiệu điện thế (V) và tăng khi tăng điện trở ().
tăng khi tăng hiệu điện thế (V) và giảm khi tăng điện trở ().
giảm khi tăng hiệu điện thế (V) và tăng khi tăng điện trở ().
giảm khi tăng hiệu điện thế (V) và giảm khi tăng điện trở ().
Cường độ dòng điện được tính bằng hiệu điện thế chia cho điện trở.
Theo , tăng làm tăng, còn tăng làm giảm. Chọn B; A, C, D sai vì lần lượt cho rằng tăng theo , giảm theo , hoặc đồng thời giảm theo và .
Điện có thể được định nghĩa là sự chuyển động của các điện tử. Ba trong số các khái niệm quan trọng nhất cần hiểu về điện là điện áp (điện thế), dòng điện và điện trở.
Điện áp (đo bằng vôn (V)) mô tả lượng thế năng giữa hai điểm trên một mạch điện và được tạo ra bởi sự chênh lệch điện tích giữa hai điểm đó.
Dòng điện (được đo bằng Ampe (A)) là tốc độ mà các electron chạy qua một mạch điện. Tốc độ của một ampe tương đương với 1 coulomb (đơn vị điện tích tiêu chuẩn) mỗi giây.
Điện trở (được đo bằng ôm (Ω)) là phép đo mức độ vật liệu chống lại dòng điện chạy qua vật liệu. Vật liệu có điện trở cao được gọi là chất cách điện, trong khi vật liệu có điện trở thấp được gọi là chất dẫn điện. Các sinh viên trong một khóa học vật lý đã tiến hành một số thí nghiệm để điều tra mối quan hệ giữa ba tính chất điện này.
Thí nghiệm 1
Học sinh được cung cấp nhiều loại pin, điện trở và ampe kế , cùng với dây điện và đầu nối. Học sinh xây dựng mạch điện dựa trên sơ đồ mạch điện bên dưới và đo cường độ dòng điện trong mỗi mạch. Bảng 1 cho thấy kết quả của họ.
(Xem hình bảng 1 bên dưới)
Thí nghiệm 2
Để nghiên cứu sâu hơn về tính chất của điện trở, học sinh đã thay thế điện trở trong mạch của mình bằng các cuộn dây niken có độ dài khác nhau. Học sinh dùng một nguồn điện biến đổi để điều chỉnh hiệu điện thế cho đến khi cường độ dòng điện bằng 1 A. Sau đó, sau đó sử dụng mối liên hệ giữa hiệu điện thế, cường độ dòng điện và điện trở đã xác định ở Thí nghiệm 1 để tính điện trở của cuộn dây. Kết quả của họ được biểu thị trong Hình 2.
(Xem hình bảng 2 bên dưới)
Thí nghiệm 3
Học sinh lặp lại quy trình từ Thí nghiệm 2 bằng cách sử dụng cuộn dây dài 1 mét bằng nhiều loại kim loại khác. Kết quả của họ được đưa ra trong Bảng 2.
(Xem hình bảng 3 bên dưới)

Trong một thí nghiệm bổ sung, các học sinh mắc một mạch điện tương tự như thử nghiệm 1, chỉ khác là sử dụng một pin và một điện trở , thì thấy cường độ dòng điện đo được trong mạch này là . Cường độ dòng điện phải là bao nhiêu, nếu học sinh mong đợi để họ tăng gấp đôi cả điện áp và điện trở?
.
.
.
.
Khi tăng gấp đôi, điện áp mới là , điện trở mới là .
Áp dụng định luật Ôm cho mạch mới.
Chọn phương án B: . A, C, D sai vì lần lượt làm giảm một nửa, tăng gấp đôi hoặc tăng gấp bốn cường độ dòng điện.
Điện có thể được định nghĩa là sự chuyển động của các điện tử. Ba trong số các khái niệm quan trọng nhất cần hiểu về điện là điện áp (điện thế), dòng điện và điện trở.
Điện áp (đo bằng vôn (V)) mô tả lượng thế năng giữa hai điểm trên một mạch điện và được tạo ra bởi sự chênh lệch điện tích giữa hai điểm đó.
Dòng điện (được đo bằng Ampe (A)) là tốc độ mà các electron chạy qua một mạch điện. Tốc độ của một ampe tương đương với 1 coulomb (đơn vị điện tích tiêu chuẩn) mỗi giây.
Điện trở (được đo bằng ôm (Ω)) là phép đo mức độ vật liệu chống lại dòng điện chạy qua vật liệu. Vật liệu có điện trở cao được gọi là chất cách điện, trong khi vật liệu có điện trở thấp được gọi là chất dẫn điện. Các sinh viên trong một khóa học vật lý đã tiến hành một số thí nghiệm để điều tra mối quan hệ giữa ba tính chất điện này.
Thí nghiệm 1
Học sinh được cung cấp nhiều loại pin, điện trở và ampe kế , cùng với dây điện và đầu nối. Học sinh xây dựng mạch điện dựa trên sơ đồ mạch điện bên dưới và đo cường độ dòng điện trong mỗi mạch. Bảng 1 cho thấy kết quả của họ.
(Xem hình bảng 1 bên dưới)
Thí nghiệm 2
Để nghiên cứu sâu hơn về tính chất của điện trở, học sinh đã thay thế điện trở trong mạch của mình bằng các cuộn dây niken có độ dài khác nhau. Học sinh dùng một nguồn điện biến đổi để điều chỉnh hiệu điện thế cho đến khi cường độ dòng điện bằng 1 A. Sau đó, sau đó sử dụng mối liên hệ giữa hiệu điện thế, cường độ dòng điện và điện trở đã xác định ở Thí nghiệm 1 để tính điện trở của cuộn dây. Kết quả của họ được biểu thị trong Hình 2.
(Xem hình bảng 2 bên dưới)
Thí nghiệm 3
Học sinh lặp lại quy trình từ Thí nghiệm 2 bằng cách sử dụng cuộn dây dài 1 mét bằng nhiều loại kim loại khác. Kết quả của họ được đưa ra trong Bảng 2.
(Xem hình bảng 3 bên dưới)

Bạc dẫn điện tốt hơn đồng một chút. Xem xét dữ liệu từ Thí nghiệm 3, giá trị nào sau đây có thể là điện trở của cuộn dây bạc dài 1 m?
.
.
.
.
Bạc dẫn điện tốt hơn đồng nên điện trở cuộn bạc phải nhỏ hơn điện trở cuộn đồng.
Từ Bảng , ; giá trị bạc cần nhỏ hơn và xấp xỉ mức này.
Chọn vì nhỏ hơn điện trở đồng và gần nhất; B, C, D sai vì lần lượt lớn hơn điện trở đồng, tương ứng khả năng dẫn điện kém hơn đồng.
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đáp án | A | A | A | ^{56}_{26}\text{Fe} | B | A | - | B | B | A |
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 40 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.
Đăng nhập để làm bài