Đáp án & lời giải chi tiết: Đề ôn tập ĐGNL ĐHQG TP.HCM năm 2025 - Mã đề 19 — Tiếng Việt

Đánh giá Năng lực V-ACTMôn Ngữ văn30 câuChuẩn GDPT mới

Ngôn ngữ - Tiếng Việt

Câu 1

(Lược truyện: Câu chuyện tái hiện tuổi thơ của nhân vật “tôi” sống cùng mẹ ở một vùng đồng hoang vắng mang tên “đồng Chó Ngáp”. Qua những đối thoại giản dị giữa hai mẹ con và cảm nhận của đứa trẻ trước không gian mênh mông, truyện dần hé mở nỗi bất an, mất mát và khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống quạnh hiu).

Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa. Vài cánh hoa bị gió cuốn, giần giật bay về phía bờ ao xanh những nhánh rau nhúc bập bềnh. Phía xa là cánh đồng lầy đầy cỏ, cây tạp và những dề lục bình tím ngắt như một điểm nhấn u buồn trên bức tranh màu lạnh.

Mẹ tôi đang ngồi vo gạo bên lu nước mưa hứng từ tháng tám chợt ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng. Hình như mẹ muốn nói điều gì? Tôi lên tiếng trước: “Sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”. Lúc đó tôi chỉ là một đứa bé mới bảy tá tuổi với rất nhiều thắc mắc về cánh đồng hoang dại nầy. Ở đây chỉ lác đác mươi ngôi nhà tre mái lá cách xa nhau chừng một tiếng hú. Chủ nhân của những ngôi nhà xiêu vẹo ấy là dân tứ xứ trôi dạt về đây sống hẩm hút bên mép bờ dãi đất cao lúp xúp những cây trâm bầu, sua đũa chùm lé gai.

Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó. Mẹ hiểu ý nên thường ôm choàng lấy tôi và nói thì thầm: “Đừng sợ, có mẹ đây. Đó chỉ là tiếng gió thế thôi”.

“Mẹ ơi, sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”, tôi lập lại câu hỏi. Mẹ tôi nhìn tôi ngập ngừng một lát rồi lại nhìn ra cánh đồng mông quạnh, nén một tiếng thở: “Người ta nói cánh đồng nầy rộng lắm, một con chó săn giỏi lắm chỉ chạy chưa đến nửa cánh đồng là đã thè lưỡi ngáp dài rồi. Nói thế để thấy rằng cánh đồng này xa lắm, xa đến tận chân trời...”.

Tôi tự nghĩ trong lòng: sẽ có hôm tôi đi phiêu lưu mạo hiểm qua ngang cánh đồng bao la bát ngát nầy xem thử coi nó rộng đến đâu. Nó không thể nào cứ xa mãi, xa mãi được. Phải có một chỗ nào đó nó dừng lại, chỗ có xóm làng, nhà cửa và người ta. Lẽ nào cánh đồng lầy nầy sẽ đi vào nơi vô tận cho dù người ta có đi hàng tháng hàng năm trời vẫn còn thấy cái mênh mông còn mãi mênh mông trước mặt? Lẽ nào? Tôi nói với mẹ tôi khi hai mẹ con ngồi bên bếp lửa chiều: “Sẽ có một ngày con đi băng ngang qua cánh đồng nầy, chắc chắn ở cuối đường chân trời ấy phải có một thành phố nào đó đông vui”, Mẹ tôi ngưng tay đẩy mấy thanh củi vào cái bếp lò đang cháy mắt trợn lên kinh hãi: “Con nói gì, con sẽ đi qua cánh đồng Chó Ngáp à? Trời ạ, đừng đừng, chỗ ấy có đi mà không có về đâu con trai của mẹ”. [...]

(Trương Đạm Thuỷ, trích Cánh diều mùa xuân trên đồng chó ngáp, vanchuongviet.org)

Đoạn trích trên thể hiện rõ nhất đặc trưng nào của truyện ngắn?

A

Tổ chức không gian kể chuyện làm nền cho diễn biến tâm trạng

B

Thiết lập bối cảnh và nhân vật nhằm hình thành tình huống truyện

C

Khắc họa đời sống sinh hoạt để tạo cảm giác hiện thực

D

Miêu tả cảnh sắc thiên nhiên gắn với cảm xúc chủ quan

Lời giải

Bước 1: Xác định yêu cầu

Câu hỏi yêu cầu nhận diện đặc trưng được thể hiện rõ nhất trong đoạn trích.

Cần phân biệt chức năng chính với những yếu tố chỉ giữ vai trò hỗ trợ.

Bước 2: Xác định chức năng đoạn trích

Đoạn trích giới thiệu đồng Chó Ngáp, mẹ và nhân vật “tôi”, đồng thời tạo đối thoại giữa hai mẹ con.

Đối thoại hé mở xung đột giữa khát vọng đi xa của đứa trẻ và nỗi lo sợ của người mẹ.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn B vì đoạn trích thiết lập bối cảnh và nhân vật nhằm hình thành tình huống truyện; A, C, D sai vì lần lượt chỉ nhấn vào không gian và tâm trạng, sinh hoạt hiện thực, hoặc cảnh sắc thiên nhiên gắn cảm xúc, chưa bao quát chức năng chính.

Đáp án: B — Đoạn trích thiết lập bối cảnh, nhân vật và mâu thuẫn ban đầu để hình thành tình huống truyện.

Câu 2

(Lược truyện: Câu chuyện tái hiện tuổi thơ của nhân vật “tôi” sống cùng mẹ ở một vùng đồng hoang vắng mang tên “đồng Chó Ngáp”. Qua những đối thoại giản dị giữa hai mẹ con và cảm nhận của đứa trẻ trước không gian mênh mông, truyện dần hé mở nỗi bất an, mất mát và khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống quạnh hiu).

Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa. Vài cánh hoa bị gió cuốn, giần giật bay về phía bờ ao xanh những nhánh rau nhúc bập bềnh. Phía xa là cánh đồng lầy đầy cỏ, cây tạp và những dề lục bình tím ngắt như một điểm nhấn u buồn trên bức tranh màu lạnh.

Mẹ tôi đang ngồi vo gạo bên lu nước mưa hứng từ tháng tám chợt ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng. Hình như mẹ muốn nói điều gì? Tôi lên tiếng trước: “Sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”. Lúc đó tôi chỉ là một đứa bé mới bảy tá tuổi với rất nhiều thắc mắc về cánh đồng hoang dại nầy. Ở đây chỉ lác đác mươi ngôi nhà tre mái lá cách xa nhau chừng một tiếng hú. Chủ nhân của những ngôi nhà xiêu vẹo ấy là dân tứ xứ trôi dạt về đây sống hẩm hút bên mép bờ dãi đất cao lúp xúp những cây trâm bầu, sua đũa chùm lé gai.

Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó. Mẹ hiểu ý nên thường ôm choàng lấy tôi và nói thì thầm: “Đừng sợ, có mẹ đây. Đó chỉ là tiếng gió thế thôi”.

“Mẹ ơi, sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”, tôi lập lại câu hỏi. Mẹ tôi nhìn tôi ngập ngừng một lát rồi lại nhìn ra cánh đồng mông quạnh, nén một tiếng thở: “Người ta nói cánh đồng nầy rộng lắm, một con chó săn giỏi lắm chỉ chạy chưa đến nửa cánh đồng là đã thè lưỡi ngáp dài rồi. Nói thế để thấy rằng cánh đồng này xa lắm, xa đến tận chân trời...”.

Tôi tự nghĩ trong lòng: sẽ có hôm tôi đi phiêu lưu mạo hiểm qua ngang cánh đồng bao la bát ngát nầy xem thử coi nó rộng đến đâu. Nó không thể nào cứ xa mãi, xa mãi được. Phải có một chỗ nào đó nó dừng lại, chỗ có xóm làng, nhà cửa và người ta. Lẽ nào cánh đồng lầy nầy sẽ đi vào nơi vô tận cho dù người ta có đi hàng tháng hàng năm trời vẫn còn thấy cái mênh mông còn mãi mênh mông trước mặt? Lẽ nào? Tôi nói với mẹ tôi khi hai mẹ con ngồi bên bếp lửa chiều: “Sẽ có một ngày con đi băng ngang qua cánh đồng nầy, chắc chắn ở cuối đường chân trời ấy phải có một thành phố nào đó đông vui”, Mẹ tôi ngưng tay đẩy mấy thanh củi vào cái bếp lò đang cháy mắt trợn lên kinh hãi: “Con nói gì, con sẽ đi qua cánh đồng Chó Ngáp à? Trời ạ, đừng đừng, chỗ ấy có đi mà không có về đâu con trai của mẹ”. [...]

(Trương Đạm Thuỷ, trích Cánh diều mùa xuân trên đồng chó ngáp, vanchuongviet.org)

Tình huống truyện trong đoạn trích được hình thành chủ yếu từ yếu tố nào?

A

Cảm giác hoang vắng nảy sinh từ không gian rộng lớn

B

Nỗi sợ mơ hồ của đứa trẻ trước tiếng gió hú ban đêm

C

Câu hỏi lặp của đứa trẻ và sự do dự của người mẹ

D

Hoàn cảnh sống bấp bênh của những gia đình nghèo

Lời giải

Bước 1: Xác định tương tác chính

Đứa trẻ lặp lại câu hỏi về tên gọi “đồng Chó Ngáp”. Đây là tương tác trực tiếp giữa nhân vật “tôi” và mẹ.

Bước 2: Phân tích phản ứng của mẹ

Người mẹ ngập ngừng, nén thở, trả lời tránh rồi cảnh báo con. Sự đối lập giữa câu hỏi và phản ứng ấy tạo mâu thuẫn, căng thẳng.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn C vì câu hỏi lặp của đứa trẻ và sự do dự của người mẹ trực tiếp khởi dựng tình huống truyện; A, B, D sai vì lần lượt chỉ tạo không khí, thể hiện tâm trạng và cung cấp bối cảnh xã hội.

Đáp án: C — Câu hỏi lặp của đứa trẻ và sự do dự của người mẹ tạo mâu thuẫn trực tiếp.

Câu 3

(Lược truyện: Câu chuyện tái hiện tuổi thơ của nhân vật “tôi” sống cùng mẹ ở một vùng đồng hoang vắng mang tên “đồng Chó Ngáp”. Qua những đối thoại giản dị giữa hai mẹ con và cảm nhận của đứa trẻ trước không gian mênh mông, truyện dần hé mở nỗi bất an, mất mát và khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống quạnh hiu).

Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa. Vài cánh hoa bị gió cuốn, giần giật bay về phía bờ ao xanh những nhánh rau nhúc bập bềnh. Phía xa là cánh đồng lầy đầy cỏ, cây tạp và những dề lục bình tím ngắt như một điểm nhấn u buồn trên bức tranh màu lạnh.

Mẹ tôi đang ngồi vo gạo bên lu nước mưa hứng từ tháng tám chợt ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng. Hình như mẹ muốn nói điều gì? Tôi lên tiếng trước: “Sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”. Lúc đó tôi chỉ là một đứa bé mới bảy tá tuổi với rất nhiều thắc mắc về cánh đồng hoang dại nầy. Ở đây chỉ lác đác mươi ngôi nhà tre mái lá cách xa nhau chừng một tiếng hú. Chủ nhân của những ngôi nhà xiêu vẹo ấy là dân tứ xứ trôi dạt về đây sống hẩm hút bên mép bờ dãi đất cao lúp xúp những cây trâm bầu, sua đũa chùm lé gai.

Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó. Mẹ hiểu ý nên thường ôm choàng lấy tôi và nói thì thầm: “Đừng sợ, có mẹ đây. Đó chỉ là tiếng gió thế thôi”.

“Mẹ ơi, sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”, tôi lập lại câu hỏi. Mẹ tôi nhìn tôi ngập ngừng một lát rồi lại nhìn ra cánh đồng mông quạnh, nén một tiếng thở: “Người ta nói cánh đồng nầy rộng lắm, một con chó săn giỏi lắm chỉ chạy chưa đến nửa cánh đồng là đã thè lưỡi ngáp dài rồi. Nói thế để thấy rằng cánh đồng này xa lắm, xa đến tận chân trời...”.

Tôi tự nghĩ trong lòng: sẽ có hôm tôi đi phiêu lưu mạo hiểm qua ngang cánh đồng bao la bát ngát nầy xem thử coi nó rộng đến đâu. Nó không thể nào cứ xa mãi, xa mãi được. Phải có một chỗ nào đó nó dừng lại, chỗ có xóm làng, nhà cửa và người ta. Lẽ nào cánh đồng lầy nầy sẽ đi vào nơi vô tận cho dù người ta có đi hàng tháng hàng năm trời vẫn còn thấy cái mênh mông còn mãi mênh mông trước mặt? Lẽ nào? Tôi nói với mẹ tôi khi hai mẹ con ngồi bên bếp lửa chiều: “Sẽ có một ngày con đi băng ngang qua cánh đồng nầy, chắc chắn ở cuối đường chân trời ấy phải có một thành phố nào đó đông vui”, Mẹ tôi ngưng tay đẩy mấy thanh củi vào cái bếp lò đang cháy mắt trợn lên kinh hãi: “Con nói gì, con sẽ đi qua cánh đồng Chó Ngáp à? Trời ạ, đừng đừng, chỗ ấy có đi mà không có về đâu con trai của mẹ”. [...]

(Trương Đạm Thuỷ, trích Cánh diều mùa xuân trên đồng chó ngáp, vanchuongviet.org)

Chi tiết “mẹ ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng” có ý nghĩa gì?

A

Làm chậm nhịp kể để tăng độ lắng cho đoạn văn

B

Biểu hiện một trạng thái tâm lí bị kìm nén, chưa thể nói ra

C

Gợi mối liên hệ giữa không gian cánh đồng và đời sống gia đình

D

Tạo điểm chuyển từ miêu tả cảnh sang đối thoại nhân vật

Lời giải

Bước 1: Xác định trọng tâm chi tiết

Chi tiết cần được đọc ở phương diện nội tâm của nhân vật mẹ, không chỉ như một hành động bên ngoài.

Bước 2: Phân tích dấu hiệu tâm lí

“Ngừng tay” gợi sự hoãn lời, “nhìn về phía cánh đồng” cho thấy mẹ đang suy nghĩ; các chi tiết “ngập ngừng”, “nén một tiếng thở” củng cố trạng thái ấy.

Vì vậy, hành động biểu hiện cảm xúc, lo lắng và điều mẹ chưa thể nói ra.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn B. A chỉ là tác dụng phụ về nhịp kể; C khái quát mối liên hệ không gian–gia đình nhưng không phải trọng tâm; D chỉ nêu chức năng chuyển đoạn, chưa thể hiện ý nghĩa nội tâm.

Đáp án: B — Chi tiết biểu hiện trạng thái tâm lí bị kìm nén, chưa thể nói ra của người mẹ.

Câu 4

(Lược truyện: Câu chuyện tái hiện tuổi thơ của nhân vật “tôi” sống cùng mẹ ở một vùng đồng hoang vắng mang tên “đồng Chó Ngáp”. Qua những đối thoại giản dị giữa hai mẹ con và cảm nhận của đứa trẻ trước không gian mênh mông, truyện dần hé mở nỗi bất an, mất mát và khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống quạnh hiu).

Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa. Vài cánh hoa bị gió cuốn, giần giật bay về phía bờ ao xanh những nhánh rau nhúc bập bềnh. Phía xa là cánh đồng lầy đầy cỏ, cây tạp và những dề lục bình tím ngắt như một điểm nhấn u buồn trên bức tranh màu lạnh.

Mẹ tôi đang ngồi vo gạo bên lu nước mưa hứng từ tháng tám chợt ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng. Hình như mẹ muốn nói điều gì? Tôi lên tiếng trước: “Sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”. Lúc đó tôi chỉ là một đứa bé mới bảy tá tuổi với rất nhiều thắc mắc về cánh đồng hoang dại nầy. Ở đây chỉ lác đác mươi ngôi nhà tre mái lá cách xa nhau chừng một tiếng hú. Chủ nhân của những ngôi nhà xiêu vẹo ấy là dân tứ xứ trôi dạt về đây sống hẩm hút bên mép bờ dãi đất cao lúp xúp những cây trâm bầu, sua đũa chùm lé gai.

Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó. Mẹ hiểu ý nên thường ôm choàng lấy tôi và nói thì thầm: “Đừng sợ, có mẹ đây. Đó chỉ là tiếng gió thế thôi”.

“Mẹ ơi, sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”, tôi lập lại câu hỏi. Mẹ tôi nhìn tôi ngập ngừng một lát rồi lại nhìn ra cánh đồng mông quạnh, nén một tiếng thở: “Người ta nói cánh đồng nầy rộng lắm, một con chó săn giỏi lắm chỉ chạy chưa đến nửa cánh đồng là đã thè lưỡi ngáp dài rồi. Nói thế để thấy rằng cánh đồng này xa lắm, xa đến tận chân trời...”.

Tôi tự nghĩ trong lòng: sẽ có hôm tôi đi phiêu lưu mạo hiểm qua ngang cánh đồng bao la bát ngát nầy xem thử coi nó rộng đến đâu. Nó không thể nào cứ xa mãi, xa mãi được. Phải có một chỗ nào đó nó dừng lại, chỗ có xóm làng, nhà cửa và người ta. Lẽ nào cánh đồng lầy nầy sẽ đi vào nơi vô tận cho dù người ta có đi hàng tháng hàng năm trời vẫn còn thấy cái mênh mông còn mãi mênh mông trước mặt? Lẽ nào? Tôi nói với mẹ tôi khi hai mẹ con ngồi bên bếp lửa chiều: “Sẽ có một ngày con đi băng ngang qua cánh đồng nầy, chắc chắn ở cuối đường chân trời ấy phải có một thành phố nào đó đông vui”, Mẹ tôi ngưng tay đẩy mấy thanh củi vào cái bếp lò đang cháy mắt trợn lên kinh hãi: “Con nói gì, con sẽ đi qua cánh đồng Chó Ngáp à? Trời ạ, đừng đừng, chỗ ấy có đi mà không có về đâu con trai của mẹ”. [...]

(Trương Đạm Thuỷ, trích Cánh diều mùa xuân trên đồng chó ngáp, vanchuongviet.org)

Việc lựa chọn ngôi kể thứ nhất trong đoạn trích chủ yếu nhằm:

A

Gắn cảm nhận không gian với trải nghiệm cá nhân của người kể

B

Tạo điểm nhìn trẻ thơ để tiếp nhận sự việc một cách trực tiếp

C

Cho phép người kể xen bình luận cảm xúc vào mạch tự sự

D

Hạn chế khoảng cách giữa người kể và thế giới được kể

Lời giải

Bước 1: Xác định điểm nhìn

Đại từ “tôi”, các câu hỏi, cảm xúc và suy nghĩ cho thấy sự việc được tiếp nhận trực tiếp từ góc nhìn trẻ thơ.

Bước 2: Đối chiếu phương án

B đúng vì nêu rõ mục đích tạo điểm nhìn trẻ thơ để tiếp nhận sự việc một cách trực tiếp.

A, C, D sai vì lần lượt chỉ là hệ quả chung, khả năng phụ và nhận xét khái quát hơn, chưa nêu đúng mục đích chính.

Đáp án: B — Ngôi kể thứ nhất giúp người đọc nhìn thế giới qua điểm nhìn trực tiếp của một đứa trẻ.

Câu 5

(Lược truyện: Câu chuyện tái hiện tuổi thơ của nhân vật “tôi” sống cùng mẹ ở một vùng đồng hoang vắng mang tên “đồng Chó Ngáp”. Qua những đối thoại giản dị giữa hai mẹ con và cảm nhận của đứa trẻ trước không gian mênh mông, truyện dần hé mở nỗi bất an, mất mát và khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống quạnh hiu).

Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa. Vài cánh hoa bị gió cuốn, giần giật bay về phía bờ ao xanh những nhánh rau nhúc bập bềnh. Phía xa là cánh đồng lầy đầy cỏ, cây tạp và những dề lục bình tím ngắt như một điểm nhấn u buồn trên bức tranh màu lạnh.

Mẹ tôi đang ngồi vo gạo bên lu nước mưa hứng từ tháng tám chợt ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng. Hình như mẹ muốn nói điều gì? Tôi lên tiếng trước: “Sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”. Lúc đó tôi chỉ là một đứa bé mới bảy tá tuổi với rất nhiều thắc mắc về cánh đồng hoang dại nầy. Ở đây chỉ lác đác mươi ngôi nhà tre mái lá cách xa nhau chừng một tiếng hú. Chủ nhân của những ngôi nhà xiêu vẹo ấy là dân tứ xứ trôi dạt về đây sống hẩm hút bên mép bờ dãi đất cao lúp xúp những cây trâm bầu, sua đũa chùm lé gai.

Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó. Mẹ hiểu ý nên thường ôm choàng lấy tôi và nói thì thầm: “Đừng sợ, có mẹ đây. Đó chỉ là tiếng gió thế thôi”.

“Mẹ ơi, sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”, tôi lập lại câu hỏi. Mẹ tôi nhìn tôi ngập ngừng một lát rồi lại nhìn ra cánh đồng mông quạnh, nén một tiếng thở: “Người ta nói cánh đồng nầy rộng lắm, một con chó săn giỏi lắm chỉ chạy chưa đến nửa cánh đồng là đã thè lưỡi ngáp dài rồi. Nói thế để thấy rằng cánh đồng này xa lắm, xa đến tận chân trời...”.

Tôi tự nghĩ trong lòng: sẽ có hôm tôi đi phiêu lưu mạo hiểm qua ngang cánh đồng bao la bát ngát nầy xem thử coi nó rộng đến đâu. Nó không thể nào cứ xa mãi, xa mãi được. Phải có một chỗ nào đó nó dừng lại, chỗ có xóm làng, nhà cửa và người ta. Lẽ nào cánh đồng lầy nầy sẽ đi vào nơi vô tận cho dù người ta có đi hàng tháng hàng năm trời vẫn còn thấy cái mênh mông còn mãi mênh mông trước mặt? Lẽ nào? Tôi nói với mẹ tôi khi hai mẹ con ngồi bên bếp lửa chiều: “Sẽ có một ngày con đi băng ngang qua cánh đồng nầy, chắc chắn ở cuối đường chân trời ấy phải có một thành phố nào đó đông vui”, Mẹ tôi ngưng tay đẩy mấy thanh củi vào cái bếp lò đang cháy mắt trợn lên kinh hãi: “Con nói gì, con sẽ đi qua cánh đồng Chó Ngáp à? Trời ạ, đừng đừng, chỗ ấy có đi mà không có về đâu con trai của mẹ”. [...]

(Trương Đạm Thuỷ, trích Cánh diều mùa xuân trên đồng chó ngáp, vanchuongviet.org)

Giọng điệu trần thuật của đoạn trích được hình thành chủ yếu qua:

A

Sự phối hợp miêu tả cảnh vật với cảm giác nội tâm của nhân vật

B

Sự đan xen đối thoại ngắn vào dòng miêu tả liên tục

C

Việc sử dụng hình ảnh thiên nhiên mang sắc thái lạnh và tĩnh

D

Việc duy trì nhịp kể chậm để kéo dài cảm giác hoang vắng

Lời giải

Bước 1: Xác định dấu hiệu trần thuật

Đoạn trích miêu tả thiên nhiên lạnh lẽo, tĩnh mịch như: "Trời cuối năm gió nghiêng...", "những dề lục bình tím ngắt...".

Đồng thời, nhân vật bộc lộ tâm trạng, suy nghĩ và lời lo lắng của mẹ.

Bước 2: Nhận xét tác dụng

Sự phối hợp giữa cảnh vật và cảm giác nội tâm vừa khắc họa không gian, vừa phản chiếu tâm trạng.

Qua đó, giọng điệu trầm buồn, hoang vắng và bất an được hình thành.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn A vì nêu đầy đủ sự kết hợp giữa miêu tả cảnh vật và cảm giác nội tâm. B, C, D sai vì lần lượt chỉ là phương thức kể, mới nêu một nửa yếu tố hoặc chỉ giữ vai trò hỗ trợ.

Đáp án: A — Sự phối hợp cảnh vật và nội tâm tạo nên giọng điệu trầm buồn, hoang vắng và bất an.

Câu 6

(Lược truyện: Câu chuyện tái hiện tuổi thơ của nhân vật “tôi” sống cùng mẹ ở một vùng đồng hoang vắng mang tên “đồng Chó Ngáp”. Qua những đối thoại giản dị giữa hai mẹ con và cảm nhận của đứa trẻ trước không gian mênh mông, truyện dần hé mở nỗi bất an, mất mát và khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống quạnh hiu).

Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa. Vài cánh hoa bị gió cuốn, giần giật bay về phía bờ ao xanh những nhánh rau nhúc bập bềnh. Phía xa là cánh đồng lầy đầy cỏ, cây tạp và những dề lục bình tím ngắt như một điểm nhấn u buồn trên bức tranh màu lạnh.

Mẹ tôi đang ngồi vo gạo bên lu nước mưa hứng từ tháng tám chợt ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng. Hình như mẹ muốn nói điều gì? Tôi lên tiếng trước: “Sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”. Lúc đó tôi chỉ là một đứa bé mới bảy tá tuổi với rất nhiều thắc mắc về cánh đồng hoang dại nầy. Ở đây chỉ lác đác mươi ngôi nhà tre mái lá cách xa nhau chừng một tiếng hú. Chủ nhân của những ngôi nhà xiêu vẹo ấy là dân tứ xứ trôi dạt về đây sống hẩm hút bên mép bờ dãi đất cao lúp xúp những cây trâm bầu, sua đũa chùm lé gai.

Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó. Mẹ hiểu ý nên thường ôm choàng lấy tôi và nói thì thầm: “Đừng sợ, có mẹ đây. Đó chỉ là tiếng gió thế thôi”.

“Mẹ ơi, sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”, tôi lập lại câu hỏi. Mẹ tôi nhìn tôi ngập ngừng một lát rồi lại nhìn ra cánh đồng mông quạnh, nén một tiếng thở: “Người ta nói cánh đồng nầy rộng lắm, một con chó săn giỏi lắm chỉ chạy chưa đến nửa cánh đồng là đã thè lưỡi ngáp dài rồi. Nói thế để thấy rằng cánh đồng này xa lắm, xa đến tận chân trời...”.

Tôi tự nghĩ trong lòng: sẽ có hôm tôi đi phiêu lưu mạo hiểm qua ngang cánh đồng bao la bát ngát nầy xem thử coi nó rộng đến đâu. Nó không thể nào cứ xa mãi, xa mãi được. Phải có một chỗ nào đó nó dừng lại, chỗ có xóm làng, nhà cửa và người ta. Lẽ nào cánh đồng lầy nầy sẽ đi vào nơi vô tận cho dù người ta có đi hàng tháng hàng năm trời vẫn còn thấy cái mênh mông còn mãi mênh mông trước mặt? Lẽ nào? Tôi nói với mẹ tôi khi hai mẹ con ngồi bên bếp lửa chiều: “Sẽ có một ngày con đi băng ngang qua cánh đồng nầy, chắc chắn ở cuối đường chân trời ấy phải có một thành phố nào đó đông vui”, Mẹ tôi ngưng tay đẩy mấy thanh củi vào cái bếp lò đang cháy mắt trợn lên kinh hãi: “Con nói gì, con sẽ đi qua cánh đồng Chó Ngáp à? Trời ạ, đừng đừng, chỗ ấy có đi mà không có về đâu con trai của mẹ”. [...]

(Trương Đạm Thuỷ, trích Cánh diều mùa xuân trên đồng chó ngáp, vanchuongviet.org)

Trong câu “Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa.”, từ “nghiêng nghiêng” chủ yếu gợi:

A

Hình ảnh chuyển động nhẹ, kéo dài và có tính gợi cảm

B

Hướng di chuyển không ổn định của luồng gió

C

Cường độ gió vừa phải tác động lên cảnh vật

D

Nhịp gió chậm tạo cảm giác lặng lẽ

Lời giải

Bước 1: Nhận diện từ ngữ

"Nghiêng nghiêng" là từ láy tượng trạng, diễn tả cách thức chuyển động của gió và hàng cây.

Bước 2: Đặt trong văn cảnh

Trong bức tranh cảnh vật dịu buồn, từ ngữ này gợi chuyển động nhẹ, kéo dài và có tính gợi cảm.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn A. B, C, D sai vì lần lượt nhấn vào hướng không ổn định, cường độ gió và nhịp gió chậm, không phải ý nghĩa chính của "nghiêng nghiêng".

Đáp án: A — "nghiêng nghiêng" gợi hình ảnh chuyển động nhẹ, kéo dài và có tính gợi cảm.

Câu 7

(Lược truyện: Câu chuyện tái hiện tuổi thơ của nhân vật “tôi” sống cùng mẹ ở một vùng đồng hoang vắng mang tên “đồng Chó Ngáp”. Qua những đối thoại giản dị giữa hai mẹ con và cảm nhận của đứa trẻ trước không gian mênh mông, truyện dần hé mở nỗi bất an, mất mát và khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống quạnh hiu).

Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa. Vài cánh hoa bị gió cuốn, giần giật bay về phía bờ ao xanh những nhánh rau nhúc bập bềnh. Phía xa là cánh đồng lầy đầy cỏ, cây tạp và những dề lục bình tím ngắt như một điểm nhấn u buồn trên bức tranh màu lạnh.

Mẹ tôi đang ngồi vo gạo bên lu nước mưa hứng từ tháng tám chợt ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng. Hình như mẹ muốn nói điều gì? Tôi lên tiếng trước: “Sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”. Lúc đó tôi chỉ là một đứa bé mới bảy tá tuổi với rất nhiều thắc mắc về cánh đồng hoang dại nầy. Ở đây chỉ lác đác mươi ngôi nhà tre mái lá cách xa nhau chừng một tiếng hú. Chủ nhân của những ngôi nhà xiêu vẹo ấy là dân tứ xứ trôi dạt về đây sống hẩm hút bên mép bờ dãi đất cao lúp xúp những cây trâm bầu, sua đũa chùm lé gai.

Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó. Mẹ hiểu ý nên thường ôm choàng lấy tôi và nói thì thầm: “Đừng sợ, có mẹ đây. Đó chỉ là tiếng gió thế thôi”.

“Mẹ ơi, sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”, tôi lập lại câu hỏi. Mẹ tôi nhìn tôi ngập ngừng một lát rồi lại nhìn ra cánh đồng mông quạnh, nén một tiếng thở: “Người ta nói cánh đồng nầy rộng lắm, một con chó săn giỏi lắm chỉ chạy chưa đến nửa cánh đồng là đã thè lưỡi ngáp dài rồi. Nói thế để thấy rằng cánh đồng này xa lắm, xa đến tận chân trời...”.

Tôi tự nghĩ trong lòng: sẽ có hôm tôi đi phiêu lưu mạo hiểm qua ngang cánh đồng bao la bát ngát nầy xem thử coi nó rộng đến đâu. Nó không thể nào cứ xa mãi, xa mãi được. Phải có một chỗ nào đó nó dừng lại, chỗ có xóm làng, nhà cửa và người ta. Lẽ nào cánh đồng lầy nầy sẽ đi vào nơi vô tận cho dù người ta có đi hàng tháng hàng năm trời vẫn còn thấy cái mênh mông còn mãi mênh mông trước mặt? Lẽ nào? Tôi nói với mẹ tôi khi hai mẹ con ngồi bên bếp lửa chiều: “Sẽ có một ngày con đi băng ngang qua cánh đồng nầy, chắc chắn ở cuối đường chân trời ấy phải có một thành phố nào đó đông vui”, Mẹ tôi ngưng tay đẩy mấy thanh củi vào cái bếp lò đang cháy mắt trợn lên kinh hãi: “Con nói gì, con sẽ đi qua cánh đồng Chó Ngáp à? Trời ạ, đừng đừng, chỗ ấy có đi mà không có về đâu con trai của mẹ”. [...]

(Trương Đạm Thuỷ, trích Cánh diều mùa xuân trên đồng chó ngáp, vanchuongviet.org)

Trong câu “Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó.”, từ “chợt” có tác dụng:

A

Đánh dấu sự xuất hiện đột ngột của âm thanh trong điểm nhìn của nhân vật

B

Nhấn mạnh cảm giác lo âu, sợ hãi của nhân vật khi nghe âm thanh ấy

C

Gợi trạng thái lo âu thường trực của nhân vật trước không gian về đêm

D

Tạo một nhịp nghỉ để làm nổi bật cảm giác bất an của nhân vật

Lời giải

Bước 1: Xác định nghĩa của từ

“Chợt” là trạng từ chỉ sự đột ngột, biểu thị thời điểm xuất hiện của hành động hoặc âm thanh.

Bước 2: Phân tích trong ngữ cảnh

Trong cấu trúc “chợt” + “hú”, từ này nhấn mạnh âm thanh xuất hiện ngay lập tức, bất ngờ trong điểm nhìn nhân vật.

Câu “Tôi rất sợ tiếng hú đó” làm tăng cảm giác choáng váng, giật mình.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn A. B, C, D sai vì “chợt” chủ yếu chỉ sự đột ngột, không trực tiếp nhấn mạnh mức độ sợ hãi, trạng thái lo âu thường trực hay tạo nhịp nghỉ.

Đáp án: A — “Chợt” đánh dấu sự xuất hiện đột ngột của âm thanh trong điểm nhìn nhân vật.

Câu 8

(Khái lược: Ma Phúc - một người M’nông dành nhiều tâm huyết sưu tầm, gìn giữ các hiện vật văn hóa truyền thống của buôn làng. Qua những câu chuyện cụ thể về đàn đá, trống da trâu và ché cổ, ông đã thể hiện ý thức bảo tồn văn hóa gắn với đời sống cộng đồng rất đáng để thế hệ hôm nay noi theo học tập.)

[…] Ma Phúc kể về cơ duyên với bộ đàn đá từ hơn 15 năm về trước. Khi ấy, tin tức về một người dân đi đào bắt dúi tại xã Krông Nô tình cờ đào được những thanh đá lạ dưới bụi cây le, lan truyền đi khắp vùng. Người ta kháo nhau về “những hòn đá biết hát”. Nghe tin, bằng trực giác nhạy bén của một người am hiểu văn hóa, Ma Phúc phải đi 40km đến tận nơi tìm hiểu. Ngay khi chạm tay vào những thanh đá mát lạnh, gõ thử lên nghe âm thanh trầm bổng, ông biết mình đã chạm vào báu vật. Không ngần ngại, Ma Phúc dốc hầu bao 64 triệu đồng để “rước” bộ đàn đá về.

Bộ đàn đá gồm 9 thanh, trong đó có một thanh bị gãy đôi do tác động của thời gian. Khi đưa về thẩm âm để phục dựng và đưa vào sử dụng, Ma Phúc phát hiện trong 9 thanh ấy có một bộ hoàn chỉnh gồm 6 thanh phát ra những nốt nhạc tương ứng với dây đàn guitar. Điều đáng chú ý hơn, thang âm này tương đồng tuyệt đối với bộ chiêng 6 chiếc truyền thống của người M’nông. Ba thanh còn lại, theo ông phỏng đoán, có thể thuộc về một bộ đàn khác đã thất lạc hoặc chưa tìm thấy đủ.

Không chỉ có đàn đá, Ma Phúc còn gìn giữ một chiếc trống da trâu đã hơn 40 năm tuổi. Chiếc trống khổng lồ, bạc màu thời gian được treo cao trong nhà, chỉ cất tiếng trong những dịp lễ trọng đại của buôn làng. Theo ông, mỗi khi tiếng trống vang lên, người M’nông dù đang ở nương rẫy hay bến nước cũng sẽ gác lại công việc để trở về, bởi đó là tín hiệu cho thấy buôn làng có việc lớn. Chiếc trống, vì thế, được xem như nhịp đập quy tụ cộng đồng.

Với Ma Phúc, việc sưu tầm các hiện vật văn hóa cổ xưa chỉ nhằm một mục đích duy nhất: giữ gìn để con cháu đời sau hiểu và trân trọng hồn cốt văn hóa dân tộc mình. Ông cho rằng, nếu không có người nâng niu, bảo vệ, những báu vật ấy sẽ bị thất lạc và bản sắc văn hóa M’nông sẽ dần phai nhạt theo thời gian. […]

(Trương Nhất Vương, trích Người giữ báu vật của buôn làng M’nông, Báo Quân đội Nhân dân, số ra ngày 11/01/2026)

Theo đoạn trích, thông tin nào dưới đây không phù hợp với vai trò của nhân vật Ma Phúc được trình bày trong văn bản?

A

Là người trực tiếp sưu tầm, gìn giữ các hiện vật văn hóa truyền thống

B

Là cầu nối đưa di sản M’nông vào đời sống sinh hoạt cộng đồng

C

Là người nghiên cứu chuyên sâu về khảo cổ học Tây Nguyên

D

Là cá nhân có ý thức bảo tồn di sản gắn với trách nhiệm thế hệ

Lời giải

Bước 1: Xác định yêu cầu

Từ khóa “không phù hợp” yêu cầu chọn vai trò không được văn bản chứng thực hoặc mâu thuẫn với nội dung.

Bước 2: Tìm thông tin xác thực

Các từ khóa “sưu tầm”, “gìn giữ”, “phục dựng và đưa vào sử dụng”, “giữ gìn để con cháu” cho thấy Ma Phúc là người thu thập, bảo tồn và đưa di sản vào đời sống cộng đồng.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn C vì văn bản không cho biết Ma Phúc là người nghiên cứu chuyên sâu về khảo cổ học Tây Nguyên. A, B, D đều phù hợp với việc ông trực tiếp sưu tầm, gìn giữ, kết nối di sản với cộng đồng và bảo tồn văn hóa cho thế hệ sau.

Đáp án: C — Văn bản không chứng thực Ma Phúc là người nghiên cứu chuyên sâu về khảo cổ học Tây Nguyên.

Câu 9

(Khái lược: Ma Phúc - một người M’nông dành nhiều tâm huyết sưu tầm, gìn giữ các hiện vật văn hóa truyền thống của buôn làng. Qua những câu chuyện cụ thể về đàn đá, trống da trâu và ché cổ, ông đã thể hiện ý thức bảo tồn văn hóa gắn với đời sống cộng đồng rất đáng để thế hệ hôm nay noi theo học tập.)

[…] Ma Phúc kể về cơ duyên với bộ đàn đá từ hơn 15 năm về trước. Khi ấy, tin tức về một người dân đi đào bắt dúi tại xã Krông Nô tình cờ đào được những thanh đá lạ dưới bụi cây le, lan truyền đi khắp vùng. Người ta kháo nhau về “những hòn đá biết hát”. Nghe tin, bằng trực giác nhạy bén của một người am hiểu văn hóa, Ma Phúc phải đi 40km đến tận nơi tìm hiểu. Ngay khi chạm tay vào những thanh đá mát lạnh, gõ thử lên nghe âm thanh trầm bổng, ông biết mình đã chạm vào báu vật. Không ngần ngại, Ma Phúc dốc hầu bao 64 triệu đồng để “rước” bộ đàn đá về.

Bộ đàn đá gồm 9 thanh, trong đó có một thanh bị gãy đôi do tác động của thời gian. Khi đưa về thẩm âm để phục dựng và đưa vào sử dụng, Ma Phúc phát hiện trong 9 thanh ấy có một bộ hoàn chỉnh gồm 6 thanh phát ra những nốt nhạc tương ứng với dây đàn guitar. Điều đáng chú ý hơn, thang âm này tương đồng tuyệt đối với bộ chiêng 6 chiếc truyền thống của người M’nông. Ba thanh còn lại, theo ông phỏng đoán, có thể thuộc về một bộ đàn khác đã thất lạc hoặc chưa tìm thấy đủ.

Không chỉ có đàn đá, Ma Phúc còn gìn giữ một chiếc trống da trâu đã hơn 40 năm tuổi. Chiếc trống khổng lồ, bạc màu thời gian được treo cao trong nhà, chỉ cất tiếng trong những dịp lễ trọng đại của buôn làng. Theo ông, mỗi khi tiếng trống vang lên, người M’nông dù đang ở nương rẫy hay bến nước cũng sẽ gác lại công việc để trở về, bởi đó là tín hiệu cho thấy buôn làng có việc lớn. Chiếc trống, vì thế, được xem như nhịp đập quy tụ cộng đồng.

Với Ma Phúc, việc sưu tầm các hiện vật văn hóa cổ xưa chỉ nhằm một mục đích duy nhất: giữ gìn để con cháu đời sau hiểu và trân trọng hồn cốt văn hóa dân tộc mình. Ông cho rằng, nếu không có người nâng niu, bảo vệ, những báu vật ấy sẽ bị thất lạc và bản sắc văn hóa M’nông sẽ dần phai nhạt theo thời gian. […]

(Trương Nhất Vương, trích Người giữ báu vật của buôn làng M’nông, Báo Quân đội Nhân dân, số ra ngày 11/01/2026)

Căn cứ nào đã giúp Ma Phúc xác lập giá trị đặc biệt của bộ đàn đá?

A

Sự tương đồng về thang âm với hệ chiêng truyền thống M’nông

B

Nguồn gốc phát hiện tình cờ của bộ đàn đá trong tự nhiên

C

Giá trị kinh tế lớn của bộ đàn đá tại thời điểm mua lại

D

Mức độ quan tâm của người dân và du khách đối với hiện vật

Lời giải

Bước 1: Xác định yêu cầu

Câu hỏi yêu cầu tìm một căn cứ cụ thể chứng minh giá trị đặc biệt của bộ đàn đá.

Bước 2: Tìm bằng chứng trực tiếp

Văn bản khẳng định thang âm của bộ đàn đá tương đồng tuyệt đối với bộ chiêng truyền thống của người M’nông.

Chi tiết này cho thấy giá trị văn hóa và mối liên hệ mật thiết với âm nhạc truyền thống M’nông.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn A. B, C, D sai vì lần lượt chỉ nêu hoàn cảnh phát hiện, chi phí mua và sự chú ý xã hội, không phải bằng chứng trực tiếp xác lập giá trị văn hóa, âm nhạc.

Đáp án: A — sự tương đồng tuyệt đối về thang âm với hệ chiêng truyền thống M’nông là căn cứ trực tiếp xác lập giá trị đặc biệt của bộ đàn đá.

Câu 10

(Khái lược: Ma Phúc - một người M’nông dành nhiều tâm huyết sưu tầm, gìn giữ các hiện vật văn hóa truyền thống của buôn làng. Qua những câu chuyện cụ thể về đàn đá, trống da trâu và ché cổ, ông đã thể hiện ý thức bảo tồn văn hóa gắn với đời sống cộng đồng rất đáng để thế hệ hôm nay noi theo học tập.)

[…] Ma Phúc kể về cơ duyên với bộ đàn đá từ hơn 15 năm về trước. Khi ấy, tin tức về một người dân đi đào bắt dúi tại xã Krông Nô tình cờ đào được những thanh đá lạ dưới bụi cây le, lan truyền đi khắp vùng. Người ta kháo nhau về “những hòn đá biết hát”. Nghe tin, bằng trực giác nhạy bén của một người am hiểu văn hóa, Ma Phúc phải đi 40km đến tận nơi tìm hiểu. Ngay khi chạm tay vào những thanh đá mát lạnh, gõ thử lên nghe âm thanh trầm bổng, ông biết mình đã chạm vào báu vật. Không ngần ngại, Ma Phúc dốc hầu bao 64 triệu đồng để “rước” bộ đàn đá về.

Bộ đàn đá gồm 9 thanh, trong đó có một thanh bị gãy đôi do tác động của thời gian. Khi đưa về thẩm âm để phục dựng và đưa vào sử dụng, Ma Phúc phát hiện trong 9 thanh ấy có một bộ hoàn chỉnh gồm 6 thanh phát ra những nốt nhạc tương ứng với dây đàn guitar. Điều đáng chú ý hơn, thang âm này tương đồng tuyệt đối với bộ chiêng 6 chiếc truyền thống của người M’nông. Ba thanh còn lại, theo ông phỏng đoán, có thể thuộc về một bộ đàn khác đã thất lạc hoặc chưa tìm thấy đủ.

Không chỉ có đàn đá, Ma Phúc còn gìn giữ một chiếc trống da trâu đã hơn 40 năm tuổi. Chiếc trống khổng lồ, bạc màu thời gian được treo cao trong nhà, chỉ cất tiếng trong những dịp lễ trọng đại của buôn làng. Theo ông, mỗi khi tiếng trống vang lên, người M’nông dù đang ở nương rẫy hay bến nước cũng sẽ gác lại công việc để trở về, bởi đó là tín hiệu cho thấy buôn làng có việc lớn. Chiếc trống, vì thế, được xem như nhịp đập quy tụ cộng đồng.

Với Ma Phúc, việc sưu tầm các hiện vật văn hóa cổ xưa chỉ nhằm một mục đích duy nhất: giữ gìn để con cháu đời sau hiểu và trân trọng hồn cốt văn hóa dân tộc mình. Ông cho rằng, nếu không có người nâng niu, bảo vệ, những báu vật ấy sẽ bị thất lạc và bản sắc văn hóa M’nông sẽ dần phai nhạt theo thời gian. […]

(Trương Nhất Vương, trích Người giữ báu vật của buôn làng M’nông, Báo Quân đội Nhân dân, số ra ngày 11/01/2026)

Việc đưa vào các dữ kiện (40 km, 64 triệu đồng, 9 thanh, 6 thanh) nhằm:

A

Tăng độ xác thực và độ tin cậy cho thông tin được cung cấp

B

Nhấn mạnh quy mô đầu tư tài chính cho hoạt động sưu tầm

C

Làm nổi bật sự hiếm có của hiện vật trong đời sống hiện đại

D

Tạo ấn tượng về mức độ công phu trong việc phục dựng hiện vật

Lời giải

Bước 1: Xác định chức năng dữ kiện

Chỗ trống cần nêu chức năng ngữ dụng của các dữ kiện số.

Các con số chủ yếu cung cấp bằng chứng cụ thể, không chỉ biểu đạt cảm xúc hay kỹ thuật.

Bước 2: Phân tích các số liệu

km cho thấy nỗ lực di chuyển; triệu đồng cung cấp chi phí cụ thể.

thanh và thanh mô tả cấu trúc hiện vật, tạo dữ kiện có thể kiểm chứng.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn A vì các dữ kiện cụ thể làm tăng độ xác thực và độ tin cậy cho thông tin.

B, C, D sai vì lần lượt chỉ nhấn vào tài chính, sự hiếm có hoặc công phu phục dựng, không bao quát chức năng của toàn bộ số liệu.

Đáp án: A — Các dữ kiện cụ thể làm tăng độ xác thực và độ tin cậy cho thông tin được cung cấp.
Bảng tra cứu nhanh đáp án trọn bộ 10 câu hỏiNhấn để đóng / mở
Câu12345678910
Đáp ánBCBBAAACAA

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 30 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.

Đăng nhập để làm bài
Đáp án & Lời giải chi tiết: Đề ôn tập ĐGNL ĐHQG TP.HCM năm 2025 - Mã đề 19 — Tiếng Việt môn Ngữ văn (Đánh giá Năng lực V-ACT) | 9Study - 9Study