Đáp án & lời giải chi tiết: Đề ôn tập ĐGNL ĐHQG HN năm 2025 - Mã đề 24 — Văn học

Đánh giá Năng lực (HSA)Môn Ngữ văn50 câuChuẩn GDPT mới

Văn học

Câu 1

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu?
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám
Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu

Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp
Là áo người trắng cả giấc ngủ mê
Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp
Giữa giờ chơi mang đến lại .... mang về.

(Trích Chút tình đầu – Đỗ Trung Quân)

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng

Em chở mùa hè của tôi đi đâu?

Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám

Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu 

 

Mối tình đầu của tôi có gì?

Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp

Là áo người trắng cả giấc ngủ mê

 Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp

 Giữa giờ chơi mang đến lại .... mang về.

(Trích Chút tình đầu – Đỗ Trung Quân)

Ý nào sau đây xác định đúng nhân vật trữ tình của đoạn thơ?

A

Hoa phượng.

B

Tôi.

C

Em.

D

Mối tình đầu.

Lời giải

Bước 1: Xác định chủ thể trữ tình

Nhân vật trữ tình là người xưng “tôi” trong bài thơ, hồi tưởng về mối tình đầu.

Câu thơ “Em chở mùa hè của tôi đi đâu?” thể hiện người kể chuyện là “tôi”.

Bước 2: Đối chiếu phương án

Chọn B. Tôi. Hoa phượng là hình ảnh biểu tượng, em là đối tượng của nỗi nhớ, còn mối tình đầu là chủ đề; vì vậy A, C, D sai.

Đáp án: B. Tôi — đây là chủ thể xưng “tôi”, trực tiếp hồi tưởng về mối tình đầu.

Câu 2

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu?
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám
Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu

Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp
Là áo người trắng cả giấc ngủ mê
Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp
Giữa giờ chơi mang đến lại .... mang về.

(Trích Chút tình đầu – Đỗ Trung Quân)

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng

Em chở mùa hè của tôi đi đâu?

Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám

Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu 

 

Mối tình đầu của tôi có gì?

Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp

Là áo người trắng cả giấc ngủ mê

Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp

Giữa giờ chơi mang đến lại .... mang về.

(Trích Chút tình đầu – Đỗ Trung Quân)

Cảm xúc của nhân vật trữ tình trong câu thơ “Giữa giờ chơi mang đến lại .... mang về” là gì?

A

Nhớ nhung, tương tư.

B

Đau khổ, tiếc nuối.

C

Ngập ngừng, dang dở.

D

Yêu thương đắm say.

Lời giải

Bước 1: Phân tích hành động

Hành động “mang đến lại mang về” cho thấy nhân vật trữ tình ngập ngừng, e dè.

Nhân vật chưa dám bộc lộ tình cảm của mình.

Bước 2: Xác định sắc thái tình cảm

Mối tình đầu tuổi học trò thường gắn với sự e ấp, lặng thầm và chưa trọn vẹn.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn C — Ngập ngừng, dang dở. B, C, D sai vì lần lượt không thể hiện rõ nhớ nhung, quá nặng so với sự bối rối nhẹ nhàng, và không phù hợp với tình cảm lặng thầm, chưa mãnh liệt.

Đáp án: C — Ngập ngừng, dang dở vì nhân vật trữ tình e dè, chưa dám bộc lộ mối tình đầu.

Câu 3

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu?
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám
Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu

Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp
Là áo người trắng cả giấc ngủ mê
Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp
Giữa giờ chơi mang đến lại .... mang về.

(Trích Chút tình đầu – Đỗ Trung Quân)

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng

 Em chở mùa hè của tôi đi đâu?

Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám

Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu 

 

Mối tình đầu của tôi có gì?

Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp

Là áo người trắng cả giấc ngủ mê

 Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp

 Giữa giờ chơi mang đến lại .... mang về.

(Trích Chút tình đầu – Đỗ Trung Quân)

Các biện pháp tu từ nào được sử dụng trong khổ thơ thứ hai?

A

Liệt kê, câu hỏi tu từ.

B

Điệp ngữ, nhân hóa.

C

Liệt kê, so sánh.

D

Câu hỏi tu từ, nhân hóa.

Lời giải

Bước 1: Nhận diện câu hỏi tu từ

Câu thơ “Mối tình đầu của tôi có gì?” là câu hỏi tu từ.

Bước 2: Nhận diện phép liệt kê

Các dòng thơ tiếp theo liệt kê những hình ảnh gợi nhắc kỉ niệm.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn A. B, C, D sai vì lần lượt không có điệp ngữ và nhân hóa, không có so sánh, không có nhân hóa.

Đáp án: A. Liệt kê, câu hỏi tu từ — câu thơ đầu là câu hỏi tu từ, các dòng sau liệt kê hình ảnh kỉ niệm.

Câu 4

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu?
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám
Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu

Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp
Là áo người trắng cả giấc ngủ mê
Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp
Giữa giờ chơi mang đến lại .... mang về.

(Trích Chút tình đầu – Đỗ Trung Quân)

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng

Em chở mùa hè của tôi đi đâu?

Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám

Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu 

 

Mối tình đầu của tôi có gì?

Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp

Là áo người trắng cả giấc ngủ mê

Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp

Giữa giờ chơi mang đến lại .... mang về.

(Trích Chút tình đầu – Đỗ Trung Quân)

Ý nào sau đây nêu đúng ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh “hoa phượng” trong đoạn thơ?

A

Mối tình đầu.

B

Kỉ niệm tuổi học trò.

C

Mùa hè.

D

Sức sống tuổi trẻ.

Lời giải

Bước 1: Nhận diện biểu tượng

Hoa phượng thường gắn với hình ảnh mùa hè, học trò và chia tay.

Bước 2: Đặt vào ngữ cảnh

Trong đoạn thơ, hoa phượng gắn với tuổi mười tám và mối tình đầu, gợi những kỉ niệm học trò.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn B. Kỉ niệm tuổi học trò. A chưa khái quát bằng B; C quá chung; D không phù hợp với sắc thái lặng lẽ, nuối tiếc của đoạn thơ.

Đáp án: B. Kỉ niệm tuổi học trò — hoa phượng gắn với tuổi mười tám, mùa hè và những kỉ niệm học trò.

Câu 5

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu?
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám
Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu

Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp
Là áo người trắng cả giấc ngủ mê
Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp
Giữa giờ chơi mang đến lại .... mang về.

(Trích Chút tình đầu – Đỗ Trung Quân)

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng

 Em chở mùa hè của tôi đi đâu?

Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám

Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu 

 

Mối tình đầu của tôi có gì?

Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp

Là áo người trắng cả giấc ngủ mê

Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp

Giữa giờ chơi mang đến lại .... mang về.

(Trích Chút tình đầu – Đỗ Trung Quân)

Ý nào sau đây nêu đúng nhất nội dung của hai đoạn thơ trên?

A

Những rạo rực, xuyến xao khi nhớ về mùa hè rực rỡ cùng những kỉ niệm thời học trò.

B

Kí ức tươi đẹp về mối tình đơn phương trong trẻo nhưng cũng đầy bâng khuâng, nuối tiếc.

C

Sự nuối tiếc, xót xa, đau khổ khi hoài niệm về mối tình đầu thời học trò còn dang dở.

D

Những suy tư, trăn trở, khó hiểu về mối tình đầu trong trẻo nhưng cũng đầy vụng dại, ngây thơ.

Lời giải

Bước 1: Khái quát nội dung

Hai đoạn thơ hồi tưởng về một mối tình đầu lặng thầm, gắn với những kỉ niệm thời học trò.

Hình ảnh thơ thể hiện kí ức tươi đẹp, trong trẻo cùng cảm xúc bâng khuâng, tiếc nuối.

Bước 2: Đối chiếu phương án

Chọn B. A không nhấn mạnh mối tình đơn phương; C diễn tả sự nuối tiếc, xót xa, đau khổ quá nặng; D nêu những suy tư, trăn trở, khó hiểu không nổi bật trong đoạn thơ.

Đáp án: B — Kí ức tươi đẹp về mối tình đơn phương trong trẻo nhưng cũng đầy bâng khuâng, nuối tiếc.

Câu 6

Nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng. Thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, kiếm mỗi ngày dăm ba xu lãi nuôi thân. Có chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đồng xu. Sung sướng gì đâu! Ấy thế mà ông trời ông ấy cũng chưa chịu để yên. Năm ngoái đấy, ông ấy còn bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh. Có đồng nào hết sạch. Rồi chết thì không chết nhưng bà lại bị mòn thêm rất nhiều sức lực. Chân tay bà đã bắt đầu run rẩy. Người bà thỉnh thoảng tự nhiên bủn rủn. Đang ngồi mà đứng lên, hai mắt cũng hoa ra. Đêm nằm, xương cốt đau như giần. Đi đã thấy mỏi chân. Như vậy thì còn buôn bán làm sao được? Nghĩ đến nắng gió bà đã sợ. Tuy vậy mà bà vẫn phải ăn. Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết bao? Thức ăn không bao giờ tự nhiên chạy vào mồm. Có làm thì mới có ăn. Nhưng bây giờ yếu đuối rồi, bà không còn kham được những việc nặng nề, cũng không còn chịu đựng được nắng sương. Bà phải kiếm việc nhà, việc ở trong nhà. Ở làng này, chỉ có việc bế em, như một con bé mười một, mười hai tuổi. Mới đầu còn có nhiều người muốn thuê. Ai cũng nghĩ rằng: những bà già tính cẩn thận và ăn chẳng bao nhiêu, bữa lưng bữa vực thế nào cũng đủ no; mà đã không no các cụ cũng chỉ lặng im, không ấm ức như những đồ trẻ nhãi, hơi một tí cũng đem chuyện nhà chủ đi kể với đủ mọi người hàng xóm… Nhưng thuê bà được ít lâu, tự nhiên người ta chán. Người ta nhận ra rằng: thuê một đứa trẻ con lại có phần thích hơn. Trẻ con cạo trọc đầu. Những lúc tức lên, có muốn cốc nó dăm ba cái thì cứ cốc. Chẳng ai kêu: ác! Nhưng bà lão đầu đã bạc. Người ta tức bà đến gần sặc tiết ra đằng mũi cũng không thể giúi đầu bà xuống mà cốc. Cũng không thể chửi. Mắng một câu, đã đủ mang tiếng là con người tệ. Mà bà thì lẩm cẩm, chậm chạp, lì rì. Bà rờ như thể xẩm rờ. Tay bà, đưa bát cơm lên miệng cũng run run. Cơm vương vãi. Tương mắm rớt ra mâm, rớt xuống yếm bà, rớt cả vào đầu tóc, mặt mũi, quần áo đứa bé nằm ở lòng bà. Rồi hơi trái gió, trở trời, bà lại đau mình. Suốt đêm bà thở dài với rên rẩm kêu trời. Có khi bà lại khóc lóc, hờ con. Nghe rợn cả người. Như vậy thì chịu làm sao được? Ấy thế là người ta lại phải tìm cớ tống bà đi. Bà lại phải gạ gẫm ở cho nhà khác… Không đầy một năm trời bà thay đổi đến năm, sáu chủ. Mỗi lần đổi chủ là một lần hạ giá. Thoạt tiên cơm nuôi tháng một đồng. Rồi cơm nuôi tháng năm hào. Rồi cơm nuôi, một năm bốn đồng. Rồi hai đồng. Rồi chẳng có đồng nào. Đến nước ấy mà cũng chẳng ma nào chịu được. Một hôm, người chủ cuối cùng sai bà xách hai cái lọ đi kín nước. Bà bảo: bà chỉ có thể mang một lọ. Y đã lấy sự ấy làm khó chịu, nhưng cố nhịn. Nhưng một lọ cũng không xong. Bà xách một lọ nước đầy, ở dưới cầu ao bước lên bờ, chẳng biết bẩy rẩy thế nào mà ngã khuỵu xuống, vỡ tan cái lọ và què một bên tay. Nghe tiếng bà kêu, chủ nhà phải chạy ra đỡ bà về. Không ai có thừa cơm nuôi báo cô bà. Y bèn đãi bà năm hào cho bà về hưu trí. Từ ngày ấy đến nay tính ra đã hơn ba tháng rồi.

(Trích Một bữa no – Nam Cao)

Xác định nội dung chính của văn bản trên.

A

Sự khốn khó của những người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945.

B

Tình cảnh khốn đốn của người đàn bà khi phải sống một mình ở nông thôn.

C

Cuộc sống vất vả của bà lão khi trải qua một cơn bệnh thập tử nhất sinh.

D

Tình cảnh bà lão đi ở đợ và bị chủ nhà hà hiếp, không thể gượng lên nổi.

Lời giải

Bước 1: Xác định nhân vật trung tâm

Văn bản tập trung kể về bà lão: tuổi già, nghèo đói và bệnh tật.

Bước 2: Theo dõi diễn biến chính

Sau cơn bệnh thập tử nhất sinh, bà suy kiệt, run rẩy, đau yếu và không thể làm việc nặng.

Hậu quả là bà liên tục mất chỗ làm, bị hạ giá thuê và cuối cùng không ai nhận nuôi.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn C vì khái quát đúng cuộc sống vất vả của bà lão sau cơn bệnh nặng.

A quá rộng, B chưa nêu đúng nguyên nhân trung tâm, D chỉ nhấn vào việc ở đợ và sự đối xử của chủ nhà.

Đáp án: C — Văn bản tập trung khắc họa cuộc sống vất vả, khốn đốn của bà lão sau cơn bệnh thập tử nhất sinh.

Câu 7

Nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng. Thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, kiếm mỗi ngày dăm ba xu lãi nuôi thân. Có chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đồng xu. Sung sướng gì đâu! Ấy thế mà ông trời ông ấy cũng chưa chịu để yên. Năm ngoái đấy, ông ấy còn bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh. Có đồng nào hết sạch. Rồi chết thì không chết nhưng bà lại bị mòn thêm rất nhiều sức lực. Chân tay bà đã bắt đầu run rẩy. Người bà thỉnh thoảng tự nhiên bủn rủn. Đang ngồi mà đứng lên, hai mắt cũng hoa ra. Đêm nằm, xương cốt đau như giần. Đi đã thấy mỏi chân. Như vậy thì còn buôn bán làm sao được? Nghĩ đến nắng gió bà đã sợ. Tuy vậy mà bà vẫn phải ăn. Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết bao? Thức ăn không bao giờ tự nhiên chạy vào mồm. Có làm thì mới có ăn. Nhưng bây giờ yếu đuối rồi, bà không còn kham được những việc nặng nề, cũng không còn chịu đựng được nắng sương. Bà phải kiếm việc nhà, việc ở trong nhà. Ở làng này, chỉ có việc bế em, như một con bé mười một, mười hai tuổi. Mới đầu còn có nhiều người muốn thuê. Ai cũng nghĩ rằng: những bà già tính cẩn thận và ăn chẳng bao nhiêu, bữa lưng bữa vực thế nào cũng đủ no; mà đã không no các cụ cũng chỉ lặng im, không ấm ức như những đồ trẻ nhãi, hơi một tí cũng đem chuyện nhà chủ đi kể với đủ mọi người hàng xóm… Nhưng thuê bà được ít lâu, tự nhiên người ta chán. Người ta nhận ra rằng: thuê một đứa trẻ con lại có phần thích hơn. Trẻ con cạo trọc đầu. Những lúc tức lên, có muốn cốc nó dăm ba cái thì cứ cốc. Chẳng ai kêu: ác! Nhưng bà lão đầu đã bạc. Người ta tức bà đến gần sặc tiết ra đằng mũi cũng không thể giúi đầu bà xuống mà cốc. Cũng không thể chửi. Mắng một câu, đã đủ mang tiếng là con người tệ. Mà bà thì lẩm cẩm, chậm chạp, lì rì. Bà rờ như thể xẩm rờ. Tay bà, đưa bát cơm lên miệng cũng run run. Cơm vương vãi. Tương mắm rớt ra mâm, rớt xuống yếm bà, rớt cả vào đầu tóc, mặt mũi, quần áo đứa bé nằm ở lòng bà. Rồi hơi trái gió, trở trời, bà lại đau mình. Suốt đêm bà thở dài với rên rẩm kêu trời. Có khi bà lại khóc lóc, hờ con. Nghe rợn cả người. Như vậy thì chịu làm sao được? Ấy thế là người ta lại phải tìm cớ tống bà đi. Bà lại phải gạ gẫm ở cho nhà khác… Không đầy một năm trời bà thay đổi đến năm, sáu chủ. Mỗi lần đổi chủ là một lần hạ giá. Thoạt tiên cơm nuôi tháng một đồng. Rồi cơm nuôi tháng năm hào. Rồi cơm nuôi, một năm bốn đồng. Rồi hai đồng. Rồi chẳng có đồng nào. Đến nước ấy mà cũng chẳng ma nào chịu được. Một hôm, người chủ cuối cùng sai bà xách hai cái lọ đi kín nước. Bà bảo: bà chỉ có thể mang một lọ. Y đã lấy sự ấy làm khó chịu, nhưng cố nhịn. Nhưng một lọ cũng không xong. Bà xách một lọ nước đầy, ở dưới cầu ao bước lên bờ, chẳng biết bẩy rẩy thế nào mà ngã khuỵu xuống, vỡ tan cái lọ và què một bên tay. Nghe tiếng bà kêu, chủ nhà phải chạy ra đỡ bà về. Không ai có thừa cơm nuôi báo cô bà. Y bèn đãi bà năm hào cho bà về hưu trí. Từ ngày ấy đến nay tính ra đã hơn ba tháng rồi.

(Trích Một bữa no – Nam Cao)

Từ “cải mả” trong văn bản trên có nghĩa là gì?

A

mai táng.

B

làm tang.

C

bốc mộ.

D

giỗ hết.

Lời giải

Bước 1: Giải nghĩa từ ngữ

“Cải mả” là việc bốc mộ, di dời hài cốt sau thời gian chôn cất.

Ngữ cảnh cho thấy đây không phải lần mai táng đầu tiên.

Bước 2: Đối chiếu phương án

Chọn C. Bốc mộ; A và B sai vì chỉ việc chôn cất, tổ chức tang lễ khi người mới mất, còn D là lễ giỗ cuối, không liên quan đến phần mộ.

Đáp án: C. Bốc mộ — “cải mả” là bốc mộ, cải táng sau khi đã an táng một thời gian.

Câu 8

Nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng. Thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, kiếm mỗi ngày dăm ba xu lãi nuôi thân. Có chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đồng xu. Sung sướng gì đâu! Ấy thế mà ông trời ông ấy cũng chưa chịu để yên. Năm ngoái đấy, ông ấy còn bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh. Có đồng nào hết sạch. Rồi chết thì không chết nhưng bà lại bị mòn thêm rất nhiều sức lực. Chân tay bà đã bắt đầu run rẩy. Người bà thỉnh thoảng tự nhiên bủn rủn. Đang ngồi mà đứng lên, hai mắt cũng hoa ra. Đêm nằm, xương cốt đau như giần. Đi đã thấy mỏi chân. Như vậy thì còn buôn bán làm sao được? Nghĩ đến nắng gió bà đã sợ. Tuy vậy mà bà vẫn phải ăn. Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết bao? Thức ăn không bao giờ tự nhiên chạy vào mồm. Có làm thì mới có ăn. Nhưng bây giờ yếu đuối rồi, bà không còn kham được những việc nặng nề, cũng không còn chịu đựng được nắng sương. Bà phải kiếm việc nhà, việc ở trong nhà. Ở làng này, chỉ có việc bế em, như một con bé mười một, mười hai tuổi. Mới đầu còn có nhiều người muốn thuê. Ai cũng nghĩ rằng: những bà già tính cẩn thận và ăn chẳng bao nhiêu, bữa lưng bữa vực thế nào cũng đủ no; mà đã không no các cụ cũng chỉ lặng im, không ấm ức như những đồ trẻ nhãi, hơi một tí cũng đem chuyện nhà chủ đi kể với đủ mọi người hàng xóm… Nhưng thuê bà được ít lâu, tự nhiên người ta chán. Người ta nhận ra rằng: thuê một đứa trẻ con lại có phần thích hơn. Trẻ con cạo trọc đầu. Những lúc tức lên, có muốn cốc nó dăm ba cái thì cứ cốc. Chẳng ai kêu: ác! Nhưng bà lão đầu đã bạc. Người ta tức bà đến gần sặc tiết ra đằng mũi cũng không thể giúi đầu bà xuống mà cốc. Cũng không thể chửi. Mắng một câu, đã đủ mang tiếng là con người tệ. Mà bà thì lẩm cẩm, chậm chạp, lì rì. Bà rờ như thể xẩm rờ. Tay bà, đưa bát cơm lên miệng cũng run run. Cơm vương vãi. Tương mắm rớt ra mâm, rớt xuống yếm bà, rớt cả vào đầu tóc, mặt mũi, quần áo đứa bé nằm ở lòng bà. Rồi hơi trái gió, trở trời, bà lại đau mình. Suốt đêm bà thở dài với rên rẩm kêu trời. Có khi bà lại khóc lóc, hờ con. Nghe rợn cả người. Như vậy thì chịu làm sao được? Ấy thế là người ta lại phải tìm cớ tống bà đi. Bà lại phải gạ gẫm ở cho nhà khác… Không đầy một năm trời bà thay đổi đến năm, sáu chủ. Mỗi lần đổi chủ là một lần hạ giá. Thoạt tiên cơm nuôi tháng một đồng. Rồi cơm nuôi tháng năm hào. Rồi cơm nuôi, một năm bốn đồng. Rồi hai đồng. Rồi chẳng có đồng nào. Đến nước ấy mà cũng chẳng ma nào chịu được. Một hôm, người chủ cuối cùng sai bà xách hai cái lọ đi kín nước. Bà bảo: bà chỉ có thể mang một lọ. Y đã lấy sự ấy làm khó chịu, nhưng cố nhịn. Nhưng một lọ cũng không xong. Bà xách một lọ nước đầy, ở dưới cầu ao bước lên bờ, chẳng biết bẩy rẩy thế nào mà ngã khuỵu xuống, vỡ tan cái lọ và què một bên tay. Nghe tiếng bà kêu, chủ nhà phải chạy ra đỡ bà về. Không ai có thừa cơm nuôi báo cô bà. Y bèn đãi bà năm hào cho bà về hưu trí. Từ ngày ấy đến nay tính ra đã hơn ba tháng rồi.

(Trích Một bữa no – Nam Cao)

Theo văn bản, vì sao ban đầu những người trong làng lại muốn thuê bà lão làm công việc chăm sóc trẻ nhỏ cho gia đình họ?

A

Những người già thường có kinh nghiệm nên những đứa trẻ sẽ khỏe mạnh và thông minh hơn.

B

Người già được đánh giá là có tính cẩn thận hơn và không có nhiều đòi hỏi so với bọn trẻ con.

C

Bà lão ngoài việc chăm sóc cho những đứa trẻ sẽ sẵn sàng nhận thêm nhiều công việc nhà khác.

D

Bà lão sẽ phải nhận khoản tiền công từ chủ nhà thấp hơn nhiều so với những đứa trẻ con khác.

Lời giải

Bước 1: Xác định phạm vi thông tin

Từ khóa “ban đầu” hướng đến đoạn: “Mới đầu còn có nhiều người muốn thuê”.

Bước 2: Tìm lí do trực tiếp

Văn bản nêu người già “tính cẩn thận”, “ăn chẳng bao nhiêu”, nếu không no cũng “chỉ lặng im”.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn B vì khái quát đúng các ưu điểm trên; A, C, D sai vì văn bản không nói người già giúp trẻ khỏe và thông minh, không đề cập họ nhận thêm việc, còn tiền công thấp là kết quả về sau chứ không phải lí do ban đầu.

Đáp án: B — Người già được xem là cẩn thận, ăn ít và ít kêu ca.

Câu 9

Nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng. Thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, kiếm mỗi ngày dăm ba xu lãi nuôi thân. Có chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đồng xu. Sung sướng gì đâu! Ấy thế mà ông trời ông ấy cũng chưa chịu để yên. Năm ngoái đấy, ông ấy còn bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh. Có đồng nào hết sạch. Rồi chết thì không chết nhưng bà lại bị mòn thêm rất nhiều sức lực. Chân tay bà đã bắt đầu run rẩy. Người bà thỉnh thoảng tự nhiên bủn rủn. Đang ngồi mà đứng lên, hai mắt cũng hoa ra. Đêm nằm, xương cốt đau như giần. Đi đã thấy mỏi chân. Như vậy thì còn buôn bán làm sao được? Nghĩ đến nắng gió bà đã sợ. Tuy vậy mà bà vẫn phải ăn. Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết bao? Thức ăn không bao giờ tự nhiên chạy vào mồm. Có làm thì mới có ăn. Nhưng bây giờ yếu đuối rồi, bà không còn kham được những việc nặng nề, cũng không còn chịu đựng được nắng sương. Bà phải kiếm việc nhà, việc ở trong nhà. Ở làng này, chỉ có việc bế em, như một con bé mười một, mười hai tuổi. Mới đầu còn có nhiều người muốn thuê. Ai cũng nghĩ rằng: những bà già tính cẩn thận và ăn chẳng bao nhiêu, bữa lưng bữa vực thế nào cũng đủ no; mà đã không no các cụ cũng chỉ lặng im, không ấm ức như những đồ trẻ nhãi, hơi một tí cũng đem chuyện nhà chủ đi kể với đủ mọi người hàng xóm… Nhưng thuê bà được ít lâu, tự nhiên người ta chán. Người ta nhận ra rằng: thuê một đứa trẻ con lại có phần thích hơn. Trẻ con cạo trọc đầu. Những lúc tức lên, có muốn cốc nó dăm ba cái thì cứ cốc. Chẳng ai kêu: ác! Nhưng bà lão đầu đã bạc. Người ta tức bà đến gần sặc tiết ra đằng mũi cũng không thể giúi đầu bà xuống mà cốc. Cũng không thể chửi. Mắng một câu, đã đủ mang tiếng là con người tệ. Mà bà thì lẩm cẩm, chậm chạp, lì rì. Bà rờ như thể xẩm rờ. Tay bà, đưa bát cơm lên miệng cũng run run. Cơm vương vãi. Tương mắm rớt ra mâm, rớt xuống yếm bà, rớt cả vào đầu tóc, mặt mũi, quần áo đứa bé nằm ở lòng bà. Rồi hơi trái gió, trở trời, bà lại đau mình. Suốt đêm bà thở dài với rên rẩm kêu trời. Có khi bà lại khóc lóc, hờ con. Nghe rợn cả người. Như vậy thì chịu làm sao được? Ấy thế là người ta lại phải tìm cớ tống bà đi. Bà lại phải gạ gẫm ở cho nhà khác… Không đầy một năm trời bà thay đổi đến năm, sáu chủ. Mỗi lần đổi chủ là một lần hạ giá. Thoạt tiên cơm nuôi tháng một đồng. Rồi cơm nuôi tháng năm hào. Rồi cơm nuôi, một năm bốn đồng. Rồi hai đồng. Rồi chẳng có đồng nào. Đến nước ấy mà cũng chẳng ma nào chịu được. Một hôm, người chủ cuối cùng sai bà xách hai cái lọ đi kín nước. Bà bảo: bà chỉ có thể mang một lọ. Y đã lấy sự ấy làm khó chịu, nhưng cố nhịn. Nhưng một lọ cũng không xong. Bà xách một lọ nước đầy, ở dưới cầu ao bước lên bờ, chẳng biết bẩy rẩy thế nào mà ngã khuỵu xuống, vỡ tan cái lọ và què một bên tay. Nghe tiếng bà kêu, chủ nhà phải chạy ra đỡ bà về. Không ai có thừa cơm nuôi báo cô bà. Y bèn đãi bà năm hào cho bà về hưu trí. Từ ngày ấy đến nay tính ra đã hơn ba tháng rồi.

(Trích Một bữa no – Nam Cao)

Theo văn bản, vì sao bà lão cứ phải chuyển hết từ nhà này sang nhà khác?

A

Những đứa trẻ ngày càng lớn và sức vóc của bà không thể chăm được chúng.

B

Bà lão vụng về trong mọi hành động và thường xuyên làm rơi đồ ăn vào chúng.

C

Bà lão luôn đòi hỏi được nghỉ ngơi và nhận nhiều tiền hơn để lo thuốc men.

D

Sức khỏe bị suy kiệt khiến bà đau ốm thường xuyên và không làm được việc.

Lời giải

Bước 1: Tìm nguyên nhân trong văn bản

Bà lão run rẩy, đau ốm, chậm chạp, làm rơi thức ăn và không thể gánh nước.

Sức khỏe suy kiệt khiến bà không còn khả năng làm việc, nên các chủ lần lượt đuổi bà.

Bước 2: Đối chiếu phương án

Chọn D vì khái quát đúng tình trạng sức khỏe suy kiệt và hậu quả không làm được việc; A sai vì văn bản không nói trẻ lớn lên, B chỉ nêu một biểu hiện, C trái với việc bà chấp nhận tiền công ngày càng giảm.

Đáp án: D — Sức khỏe suy kiệt khiến bà đau ốm thường xuyên và không còn làm được việc.

Câu 10

Nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng. Thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, kiếm mỗi ngày dăm ba xu lãi nuôi thân. Có chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đồng xu. Sung sướng gì đâu! Ấy thế mà ông trời ông ấy cũng chưa chịu để yên. Năm ngoái đấy, ông ấy còn bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh. Có đồng nào hết sạch. Rồi chết thì không chết nhưng bà lại bị mòn thêm rất nhiều sức lực. Chân tay bà đã bắt đầu run rẩy. Người bà thỉnh thoảng tự nhiên bủn rủn. Đang ngồi mà đứng lên, hai mắt cũng hoa ra. Đêm nằm, xương cốt đau như giần. Đi đã thấy mỏi chân. Như vậy thì còn buôn bán làm sao được? Nghĩ đến nắng gió bà đã sợ. Tuy vậy mà bà vẫn phải ăn. Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết bao? Thức ăn không bao giờ tự nhiên chạy vào mồm. Có làm thì mới có ăn. Nhưng bây giờ yếu đuối rồi, bà không còn kham được những việc nặng nề, cũng không còn chịu đựng được nắng sương. Bà phải kiếm việc nhà, việc ở trong nhà. Ở làng này, chỉ có việc bế em, như một con bé mười một, mười hai tuổi. Mới đầu còn có nhiều người muốn thuê. Ai cũng nghĩ rằng: những bà già tính cẩn thận và ăn chẳng bao nhiêu, bữa lưng bữa vực thế nào cũng đủ no; mà đã không no các cụ cũng chỉ lặng im, không ấm ức như những đồ trẻ nhãi, hơi một tí cũng đem chuyện nhà chủ đi kể với đủ mọi người hàng xóm… Nhưng thuê bà được ít lâu, tự nhiên người ta chán. Người ta nhận ra rằng: thuê một đứa trẻ con lại có phần thích hơn. Trẻ con cạo trọc đầu. Những lúc tức lên, có muốn cốc nó dăm ba cái thì cứ cốc. Chẳng ai kêu: ác! Nhưng bà lão đầu đã bạc. Người ta tức bà đến gần sặc tiết ra đằng mũi cũng không thể giúi đầu bà xuống mà cốc. Cũng không thể chửi. Mắng một câu, đã đủ mang tiếng là con người tệ. Mà bà thì lẩm cẩm, chậm chạp, lì rì. Bà rờ như thể xẩm rờ. Tay bà, đưa bát cơm lên miệng cũng run run. Cơm vương vãi. Tương mắm rớt ra mâm, rớt xuống yếm bà, rớt cả vào đầu tóc, mặt mũi, quần áo đứa bé nằm ở lòng bà. Rồi hơi trái gió, trở trời, bà lại đau mình. Suốt đêm bà thở dài với rên rẩm kêu trời. Có khi bà lại khóc lóc, hờ con. Nghe rợn cả người. Như vậy thì chịu làm sao được? Ấy thế là người ta lại phải tìm cớ tống bà đi. Bà lại phải gạ gẫm ở cho nhà khác… Không đầy một năm trời bà thay đổi đến năm, sáu chủ. Mỗi lần đổi chủ là một lần hạ giá. Thoạt tiên cơm nuôi tháng một đồng. Rồi cơm nuôi tháng năm hào. Rồi cơm nuôi, một năm bốn đồng. Rồi hai đồng. Rồi chẳng có đồng nào. Đến nước ấy mà cũng chẳng ma nào chịu được. Một hôm, người chủ cuối cùng sai bà xách hai cái lọ đi kín nước. Bà bảo: bà chỉ có thể mang một lọ. Y đã lấy sự ấy làm khó chịu, nhưng cố nhịn. Nhưng một lọ cũng không xong. Bà xách một lọ nước đầy, ở dưới cầu ao bước lên bờ, chẳng biết bẩy rẩy thế nào mà ngã khuỵu xuống, vỡ tan cái lọ và què một bên tay. Nghe tiếng bà kêu, chủ nhà phải chạy ra đỡ bà về. Không ai có thừa cơm nuôi báo cô bà. Y bèn đãi bà năm hào cho bà về hưu trí. Từ ngày ấy đến nay tính ra đã hơn ba tháng rồi.

(Trích Một bữa no – Nam Cao)

Hành động của người chủ nhà sau khi bà lão bị gãy tay cho thấy điều gì?

A

Người chủ nhà rất quan tâm và lo lắng cho cái tay của bà lão.

B

Bà lão là người tốt, khiến những người xung quanh nể trọng.

C

Người chủ nhà cảm thấy có lỗi vì đã giao công việc nặng nhọc.

D

Bà lão là gánh nặng và chủ nhà muốn đuổi đi cho khỏi rắc rối.

Lời giải

Bước 1: Xác định hoàn cảnh

Bà lão già yếu, làm việc chậm chạp, thường đau ốm và gây nhiều bất tiện cho chủ nhà.

Bước 2: Phân tích hành động

Sau khi bà gãy tay, chủ nhà đưa bà về nhưng chỉ “đãi năm hào cho bà về hưu trí”.

Khoản tiền này là cách kết thúc việc thuê mướn, phủi bỏ trách nhiệm với bà.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn D: Bà lão là gánh nặng và chủ nhà muốn đuổi đi cho khỏi rắc rối. A sai vì không có sự chăm sóc; B sai vì không có chi tiết bà được nể trọng; C sai vì chủ nhà không thể hiện sự ân hận.

Đáp án: D — Chủ nhà coi bà lão là gánh nặng nên trả tiền để bà nghỉ hẳn, tránh thêm rắc rối.
Bảng tra cứu nhanh đáp án trọn bộ 10 câu hỏiNhấn để đóng / mở
Câu12345678910
Đáp ánBCABBCCBDD

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 50 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.

Đăng nhập để làm bài
Đáp án & Lời giải chi tiết: Đề ôn tập ĐGNL ĐHQG HN năm 2025 - Mã đề 24 — Văn học môn Ngữ văn (Đánh giá Năng lực (HSA)) | 9Study - 9Study