Nếu bước chân vào bất kì bệnh viện nào và hỏi bác sĩ về “bệnh vô cảm”, chắc chắn bạn sẽ không nhận được câu trả lời. Bởi đó là căn bệnh tồn tại ngoài xã hội chứ không phải đơn thuần trên giường bệnh. “Bệnh vô cảm” là tình trạng chai sạn của tâm hồn, là thái độ sống thờ ơ, lãnh đạm trước những gì diễn ra xung quanh mình. Đáng sợ hơn là nó diễn ra ngay cả trước những đau khổ, mất mát của con người. Một ngày, bạn không còn biết yêu thương và cũng không căm ghét, không cảm nhận được hạnh phúc và cũng không động lòng trước đau khổ, không có khát vọng sống ý nghĩa... thì ắt hẳn, bạn đang có những “triệu chứng” của căn bệnh vô cảm đáng sợ kia. Nó không làm con người ta đau đớn hay chết đi về thể xác nhưng lại làm trái tim và tâm hồn chết dần trong sự lạnh lẽo. Và phải chăng “cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời, sự mất mát lớn nhất là bạn để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” như lời Nooc- man Ku-sin đã khẳng định?
(Theo Bài tập Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam-2011)
Tại sao khi vào bệnh viện, hỏi bác sĩ về “bệnh vô cảm” lại không nhận được câu trả lời?
Nếu bước chân vào bất kì bệnh viện nào và hỏi bác sĩ về “bệnh vô cảm”, chắc chắn bạn sẽ không nhận được câu trả lời. Bởi đó là căn bệnh tồn tại ngoài xã hội chứ không phải đơn thuần trên giường bệnh. “Bệnh vô cảm” là tình trạng chai sạn của tâm hồn, là thái độ sống thờ ơ, lãnh đạm trước những gì diễn ra xung quanh mình. Đáng sợ hơn là nó diễn ra ngay cả trước những đau khổ, mất mát của con người. Một ngày, bạn không còn biết yêu thương và cũng không căm ghét, không cảm nhận được hạnh phúc và cũng không động lòng trước đau khổ, không có khát vọng sống ý nghĩa... thì ắt hẳn, bạn đang có những “triệu chứng” của căn bệnh vô cảm đáng sợ kia. Nó không làm con người ta đau đớn hay chết đi về thể xác nhưng lại làm trái tim và tâm hồn chết dần trong sự lạnh lẽo. Và phải chăng “cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời, sự mất mát lớn nhất là bạn để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” như lời Nooc- man Ku-sin đã khẳng định?
(Theo Bài tập Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam-2011)
Chưa tìm được phương pháp chữa căn bệnh này
Bệnh viện không được phép chữa căn bệnh này
Vô cảm không phải là một bệnh lí
Căn bệnh này không cần chữa cũng tự khỏi
Văn bản khẳng định “bệnh vô cảm” tồn tại ngoài xã hội, không đơn thuần trên giường bệnh.
Đó là thái độ sống thờ ơ, lãnh đạm trước những gì diễn ra xung quanh.
Vì “bệnh vô cảm” không phải bệnh theo nghĩa y học nên không thuộc phạm vi chẩn đoán, chữa trị của bác sĩ.
đúng vì khẳng định “vô cảm” không phải là một bệnh lí. , , sai vì lần lượt giả định đây là bệnh đang chờ phương pháp chữa, thuộc quyền hạn bệnh viện nhưng bị giới hạn, hoặc có thể tự khỏi; các cách hiểu này trái với nội dung văn bản.
formula
formula_missing_note
Nếu bước chân vào bất kì bệnh viện nào và hỏi bác sĩ về “bệnh vô cảm”, chắc chắn bạn sẽ không nhận được câu trả lời. Bởi đó là căn bệnh tồn tại ngoài xã hội chứ không phải đơn thuần trên giường bệnh. “Bệnh vô cảm” là tình trạng chai sạn của tâm hồn, là thái độ sống thờ ơ, lãnh đạm trước những gì diễn ra xung quanh mình. Đáng sợ hơn là nó diễn ra ngay cả trước những đau khổ, mất mát của con người. Một ngày, bạn không còn biết yêu thương và cũng không căm ghét, không cảm nhận được hạnh phúc và cũng không động lòng trước đau khổ, không có khát vọng sống ý nghĩa... thì ắt hẳn, bạn đang có những “triệu chứng” của căn bệnh vô cảm đáng sợ kia. Nó không làm con người ta đau đớn hay chết đi về thể xác nhưng lại làm trái tim và tâm hồn chết dần trong sự lạnh lẽo. Và phải chăng “cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời, sự mất mát lớn nhất là bạn để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” như lời Nooc- man Ku-sin đã khẳng định?
(Theo Bài tập Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam-2011)
Theo đoạn trích, bệnh vô cảm KHÔNG có “triệu chứng” nào dưới đây?
Nếu bước chân vào bất kì bệnh viện nào và hỏi bác sĩ về “bệnh vô cảm”, chắc chắn bạn sẽ không nhận được câu trả lời. Bởi đó là căn bệnh tồn tại ngoài xã hội chứ không phải đơn thuần trên giường bệnh. “Bệnh vô cảm” là tình trạng chai sạn của tâm hồn, là thái độ sống thờ ơ, lãnh đạm trước những gì diễn ra xung quanh mình. Đáng sợ hơn là nó diễn ra ngay cả trước những đau khổ, mất mát của con người. Một ngày, bạn không còn biết yêu thương và cũng không căm ghét, không cảm nhận được hạnh phúc và cũng không động lòng trước đau khổ, không có khát vọng sống ý nghĩa... thì ắt hẳn, bạn đang có những “triệu chứng” của căn bệnh vô cảm đáng sợ kia. Nó không làm con người ta đau đớn hay chết đi về thể xác nhưng lại làm trái tim và tâm hồn chết dần trong sự lạnh lẽo. Và phải chăng “cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời, sự mất mát lớn nhất là bạn để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” như lời Nooc- man Ku-sin đã khẳng định?
(Theo Bài tập Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam-2011)
Thờ ơ, lãnh đạm trước những gì diễn ra xung quanh
Không biết yêu thương, không căm ghét
Cơ thể mệt mỏi, yếu ớt, không còn sức sống
Không cảm nhận được hạnh phúc, không có khát vọng sống
Đoạn trích mô tả bệnh vô cảm là sự lạnh lẽo, chai sạn về cảm xúc.
Các biểu hiện liên quan đến sự rung động trước hạnh phúc, đau khổ và khát vọng sống.
Chọn C: “Cơ thể mệt mỏi, yếu ớt, không còn sức sống” vì đây là dấu hiệu về thể chất, không phải triệu chứng của sự vô cảm.
A, B, D sai vì lần lượt nêu sự thờ ơ, không biết yêu thương và không cảm nhận hạnh phúc, đều được đoạn trích xác định là triệu chứng bệnh vô cảm.
Nếu bước chân vào bất kì bệnh viện nào và hỏi bác sĩ về “bệnh vô cảm”, chắc chắn bạn sẽ không nhận được câu trả lời. Bởi đó là căn bệnh tồn tại ngoài xã hội chứ không phải đơn thuần trên giường bệnh. “Bệnh vô cảm” là tình trạng chai sạn của tâm hồn, là thái độ sống thờ ơ, lãnh đạm trước những gì diễn ra xung quanh mình. Đáng sợ hơn là nó diễn ra ngay cả trước những đau khổ, mất mát của con người. Một ngày, bạn không còn biết yêu thương và cũng không căm ghét, không cảm nhận được hạnh phúc và cũng không động lòng trước đau khổ, không có khát vọng sống ý nghĩa... thì ắt hẳn, bạn đang có những “triệu chứng” của căn bệnh vô cảm đáng sợ kia. Nó không làm con người ta đau đớn hay chết đi về thể xác nhưng lại làm trái tim và tâm hồn chết dần trong sự lạnh lẽo. Và phải chăng “cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời, sự mất mát lớn nhất là bạn để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” như lời Nooc- man Ku-sin đã khẳng định?
(Theo Bài tập Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam-2011)
“Triệu chứng” nào dưới đây thuộc về “căn bệnh vô cảm”?
Nếu bước chân vào bất kì bệnh viện nào và hỏi bác sĩ về “bệnh vô cảm”, chắc chắn bạn sẽ không nhận được câu trả lời. Bởi đó là căn bệnh tồn tại ngoài xã hội chứ không phải đơn thuần trên giường bệnh. “Bệnh vô cảm” là tình trạng chai sạn của tâm hồn, là thái độ sống thờ ơ, lãnh đạm trước những gì diễn ra xung quanh mình. Đáng sợ hơn là nó diễn ra ngay cả trước những đau khổ, mất mát của con người. Một ngày, bạn không còn biết yêu thương và cũng không căm ghét, không cảm nhận được hạnh phúc và cũng không động lòng trước đau khổ, không có khát vọng sống ý nghĩa... thì ắt hẳn, bạn đang có những “triệu chứng” của căn bệnh vô cảm đáng sợ kia. Nó không làm con người ta đau đớn hay chết đi về thể xác nhưng lại làm trái tim và tâm hồn chết dần trong sự lạnh lẽo. Và phải chăng “cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời, sự mất mát lớn nhất là bạn để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” như lời Nooc- man Ku-sin đã khẳng định?
(Theo Bài tập Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam-2011)
Bị tê liệt các dây thần kinh trung ương dẫn đến mất cảm giác
Không cảm nhận được hạnh phúc và động lòng trước những đau khổ
Cơ thể mệt mỏi, suy nhược, đầu óc không được tỉnh táo
Mất ngủ, cảm giác chán nản, không tập trung
Căn bệnh vô cảm liên quan đến sự lạnh nhạt về cảm xúc và vô tâm với người khác.
Đoạn văn nêu: “không cảm nhận được hạnh phúc và cũng không động lòng trước đau khổ”. Đây là biểu hiện đặc trưng của sự chai sạn cảm xúc.
Chọn B. Các phương án A, C, D sai vì lần lượt nói về tổn thương hệ thần kinh, suy nhược thể chất hoặc rối loạn tâm lý, không phản ánh sự vô cảm được văn bản nêu.
Nếu bước chân vào bất kì bệnh viện nào và hỏi bác sĩ về “bệnh vô cảm”, chắc chắn bạn sẽ không nhận được câu trả lời. Bởi đó là căn bệnh tồn tại ngoài xã hội chứ không phải đơn thuần trên giường bệnh. “Bệnh vô cảm” là tình trạng chai sạn của tâm hồn, là thái độ sống thờ ơ, lãnh đạm trước những gì diễn ra xung quanh mình. Đáng sợ hơn là nó diễn ra ngay cả trước những đau khổ, mất mát của con người. Một ngày, bạn không còn biết yêu thương và cũng không căm ghét, không cảm nhận được hạnh phúc và cũng không động lòng trước đau khổ, không có khát vọng sống ý nghĩa... thì ắt hẳn, bạn đang có những “triệu chứng” của căn bệnh vô cảm đáng sợ kia. Nó không làm con người ta đau đớn hay chết đi về thể xác nhưng lại làm trái tim và tâm hồn chết dần trong sự lạnh lẽo. Và phải chăng “cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời, sự mất mát lớn nhất là bạn để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” như lời Nooc- man Ku-sin đã khẳng định?
(Theo Bài tập Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam-2011)
Theo đoạn trích, bệnh vô cảm có tác hại gì đối với con người?
Nếu bước chân vào bất kì bệnh viện nào và hỏi bác sĩ về “bệnh vô cảm”, chắc chắn bạn sẽ không nhận được câu trả lời. Bởi đó là căn bệnh tồn tại ngoài xã hội chứ không phải đơn thuần trên giường bệnh. “Bệnh vô cảm” là tình trạng chai sạn của tâm hồn, là thái độ sống thờ ơ, lãnh đạm trước những gì diễn ra xung quanh mình. Đáng sợ hơn là nó diễn ra ngay cả trước những đau khổ, mất mát của con người. Một ngày, bạn không còn biết yêu thương và cũng không căm ghét, không cảm nhận được hạnh phúc và cũng không động lòng trước đau khổ, không có khát vọng sống ý nghĩa... thì ắt hẳn, bạn đang có những “triệu chứng” của căn bệnh vô cảm đáng sợ kia. Nó không làm con người ta đau đớn hay chết đi về thể xác nhưng lại làm trái tim và tâm hồn chết dần trong sự lạnh lẽo. Và phải chăng “cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời, sự mất mát lớn nhất là bạn để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” như lời Nooc- man Ku-sin đã khẳng định?
(Theo Bài tập Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam-2011)
Làm cho thể xác đau đớn
Khiến cho tâm hồn trống rỗng, lạnh lùng
Làm cho cái chết đến nhanh chóng
Khiến con người cảm thấy mất mát
Câu hỏi yêu cầu chỉ ra tác hại của bệnh vô cảm trong đoạn trích.
Đoạn văn khẳng định bệnh vô cảm không gây đau đớn về thể xác, nhưng khiến "trái tim và tâm hồn chết dần trong sự lạnh lẽo".
Chọn B vì phù hợp với trạng thái tâm hồn chai lì, lạnh lùng được đoạn trích nhấn mạnh. A, C, D sai vì bệnh vô cảm không làm thể xác đau đớn, không khiến cái chết đến nhanh chóng, còn cảm giác mất mát không phải tác hại được nêu.
Nếu bước chân vào bất kì bệnh viện nào và hỏi bác sĩ về “bệnh vô cảm”, chắc chắn bạn sẽ không nhận được câu trả lời. Bởi đó là căn bệnh tồn tại ngoài xã hội chứ không phải đơn thuần trên giường bệnh. “Bệnh vô cảm” là tình trạng chai sạn của tâm hồn, là thái độ sống thờ ơ, lãnh đạm trước những gì diễn ra xung quanh mình. Đáng sợ hơn là nó diễn ra ngay cả trước những đau khổ, mất mát của con người. Một ngày, bạn không còn biết yêu thương và cũng không căm ghét, không cảm nhận được hạnh phúc và cũng không động lòng trước đau khổ, không có khát vọng sống ý nghĩa... thì ắt hẳn, bạn đang có những “triệu chứng” của căn bệnh vô cảm đáng sợ kia. Nó không làm con người ta đau đớn hay chết đi về thể xác nhưng lại làm trái tim và tâm hồn chết dần trong sự lạnh lẽo. Và phải chăng “cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời, sự mất mát lớn nhất là bạn để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” như lời Nooc- man Ku-sin đã khẳng định?
(Theo Bài tập Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam-2011)
Từ “tàn lụi” trong câu “Sự mất mát lớn nhất là bạn để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” có nghĩa gì?
Nếu bước chân vào bất kì bệnh viện nào và hỏi bác sĩ về “bệnh vô cảm”, chắc chắn bạn sẽ không nhận được câu trả lời. Bởi đó là căn bệnh tồn tại ngoài xã hội chứ không phải đơn thuần trên giường bệnh. “Bệnh vô cảm” là tình trạng chai sạn của tâm hồn, là thái độ sống thờ ơ, lãnh đạm trước những gì diễn ra xung quanh mình. Đáng sợ hơn là nó diễn ra ngay cả trước những đau khổ, mất mát của con người. Một ngày, bạn không còn biết yêu thương và cũng không căm ghét, không cảm nhận được hạnh phúc và cũng không động lòng trước đau khổ, không có khát vọng sống ý nghĩa... thì ắt hẳn, bạn đang có những “triệu chứng” của căn bệnh vô cảm đáng sợ kia. Nó không làm con người ta đau đớn hay chết đi về thể xác nhưng lại làm trái tim và tâm hồn chết dần trong sự lạnh lẽo. Và phải chăng “cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời, sự mất mát lớn nhất là bạn để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” như lời Nooc- man Ku-sin đã khẳng định?
(Theo Bài tập Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam-2011)
Trống rỗng, không có cảm xúc
Không còn minh mẫn, tỉnh táo
Không thể nhớ được gì
Không nhận thức được về mọi thứ xung quanh
Cụm “tâm hồn tàn lụi” nói đến việc mất đi cảm xúc dù vẫn đang sống.
Đây là dấu hiệu tinh thần, không phải về trí nhớ hay lý trí.
“Tàn lụi” miêu tả sự suy tàn, mất đi sức sống, đặc biệt về tinh thần và cảm xúc.
Từ này chỉ trạng thái tâm hồn chai sạn, lạnh lẽo, không còn yêu thương hay căm ghét.
Chọn A: Trống rỗng, không có cảm xúc. B, C, D sai vì lần lượt nói về sự minh mẫn, trí nhớ và nhận thức, không phù hợp với ngữ cảnh cảm xúc, tâm hồn.
Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người.
(Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu)
IQ (viết tắt của Intelligence Quotient, hay còn gọi là chỉ số thông minh) giúp đo lường khả năng của con người trong các lĩnh vực như suy luận logic, hiểu từ ngữ và kĩ năng toán học... Trong khi đó, EQ (viết tắt của Emotional Quotient, hay còn gọi là chỉ số cảm xúc) là thước đo thông minh của con người thông qua khả năng cảm nhận, kiểm soát, bày tỏ cảm xúc... của người đó. Theo phân tích của các chuyên gia tâm lí, chỉ Số IQ và EQ được thể hiện qua 6 kĩ năng chính ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công của trẻ cả ở hiện tại lẫn tương lai, bao gồm: tư duy phản biện, khả năng tập trung, khả năng giải quyết vấn đề (liên quan đến IQ) và khả năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác, chế ngự cảm xúc (liên quan đến EQ). Rõ ràng, khi có chỉ số IQ cao, trẻ sẽ có khả năng phản biện, tập trung, giải quyết vấn đề tốt. Nhưng nếu trẻ không có chỉ số EQ cao sẽ dẫn đến tình trạng trẻ khó hòa đồng, không hợp tác được với bạn bè và mọi người xung quanh, dễ cảm thấy lo lắng, thiếu tự tin khi gặp những môi trường lạ hoặc thử thách mới mẻ. Vì những lí do này nên các chuyên gia trong lĩnh vực tâm lí, giáo dục cho rằng, việc cân bằng chỉ số IQ và EQ sẽ giúp trẻ phát triển toàn diện và sớm gặt hái được thành công trong tương lai. Nhà tâm lí học nổi tiếng Daniel Goleman chỉ ra trong quyển sách “Emotional Intelligence: Why it Can Matter More Than IQ” rằng có sự tương quan giữa chỉ số IQ, EQ và trẻ em sẽ không thể phát huy hết tiềm năng về trí tuệ của mình nếu không có trạng thái cảm xúc tốt. Như vậy, giúp con cân bằng giữa IQ và EQ là vô cùng cần thiết cho sự phát triển toàn diện của trẻ.
(Theo IQ và EQ: nền tảng thành công tương lai của trẻ, báo tuoitre.vn)
Phong cách ngôn ngữ của đoạn trích là gì?
Chính luận.
Khoa học.
Báo chí.
Nghệ thuật.
Câu hỏi yêu cầu nhận diện phong cách ngôn ngữ, thuộc kiến thức về phong cách chức năng.
Đoạn trích trình bày các nhận định xã hội, văn hóa sâu sắc về người Việt Nam như: “ít tinh thần tôn giáo”, “ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao”, “ước mong về hạnh phúc là thiết thực”.
Cách diễn đạt chặt chẽ, giọng điệu nghiêm túc, khách quan, giàu tính khái quát, phù hợp phong cách chính luận.
Chọn A. Chính luận; B, C, D lần lượt sai vì đoạn trích không thiên về thuật ngữ chuyên ngành và lý thuyết khoa học, không phản ánh sự kiện thời sự cụ thể, cũng không giàu hình ảnh và cảm xúc thẩm mỹ.
Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người.
(Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu)
Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người.
(Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu)
Theo đoạn trích, ý nào KHÔNG nói về đặc điểm của người Việt?
Người Việt Nam coi trọng hiện thế trần tục hơn cái chết.
Người Việt Nam không coi trọng tôn giáo.
Người Việt Nam có tinh thần mê tín, tin là có cõi âm.
Người Việt Nam không phát triển cao ý thức về cá nhân và sở hữu.
Câu hỏi yêu cầu tìm ý không phù hợp với nội dung đoạn trích.
Đoạn văn nêu người Việt “ít tinh thần tôn giáo”, nhưng vẫn tin có linh hồn, ma quỷ, thần Phật và thực hành cầu cúng.
Vì vậy, không thể hiểu là họ hoàn toàn không coi trọng tôn giáo.
Chọn B vì “không coi trọng tôn giáo” trái với nội dung đoạn trích; A, C, D sai vì lần lượt phù hợp với các ý coi trọng hiện thế, tin cõi âm, và ý thức cá nhân, sở hữu không phát triển cao.
Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người.
(Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu)
Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người.
(Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu)
Câu văn nào nói về tinh thần “hiện thế” của người Việt Nam?
Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo.
Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình.
Nhiều người thực hành cầu cúng.
Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao.
Câu hỏi yêu cầu tìm biểu hiện của tinh thần “hiện thế”, tức quan tâm cuộc sống trần tục hơn thế giới bên kia.
Câu “lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình” cho thấy người Việt coi trọng hậu duệ và cuộc sống thực tế hơn thế giới tâm linh.
Đáp án phù hợp. Các phương án , , lần lượt nói về mức độ tôn giáo, tín ngưỡng cầu cúng và ý thức cá nhân, sở hữu; không trực tiếp thể hiện tinh thần “hiện thế”.
Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người.
(Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu)
Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người.
(Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu)
Chủ đề bao trùm của đoạn trích là gì?
Tín ngưỡng của người Việt Nam.
Tôn giáo của người Việt Nam.
Văn hóa của người Việt Nam.
Phong cách sống của người Việt Nam.
Đoạn văn bàn về tôn giáo, tín ngưỡng, thái độ với cái chết, của cải, cá nhân, sở hữu và mục tiêu sống.
Các nội dung trên phản ánh toàn diện đời sống tinh thần và vật chất của người Việt, nên thuộc phạm vi văn hóa.
Chọn C. Văn hóa của người Việt Nam. A chỉ nói về tín ngưỡng, B chỉ nói về tôn giáo, còn D gần đúng nhưng không bao quát bằng văn hóa vì văn hóa gồm cả niềm tin, thói quen và tư tưởng.
Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người.
(Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu)
Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người.
(Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu)
Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là gì?
Tự sự.
Miêu tả.
Thuyết minh.
Nghị luận.
Tác giả nêu nhận định và lý giải về tư duy, lối sống, quan niệm sống của người Việt Nam qua các biểu hiện cụ thể.
Đoạn văn sử dụng phân tích, lập luận để làm rõ đặc điểm văn hóa dân tộc.
Chọn D. Nghị luận vì đoạn văn mang tính tranh luận, đánh giá, bình luận xã hội; A sai vì không kể sự việc, B sai vì không tái hiện hình ảnh cụ thể, C sai vì thuyết minh không phải phương thức chính.
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đáp án | C | C | B | B | A | A | B | B | C | D |
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 50 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.
Đăng nhập để làm bài