(1) Bẩm con không dám man cửa Trời
(2) Những áng văn con in cả rồi
(3) Hai quyển Khối tình văn thuyết lí
(4) Hai Khối tình con là văn chơi
(5) Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết
(6) Đài gương, Lên sáu văn vị đời
(7) Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch
(8) Đến quyển Lên tám nay là mười
(9) Nhờ Trời văn con còn bán được
(10) Chửa biết con in ra mấy mươi?
(Hầu trời – Tản Đà)
Xác định giọng điệu chính của đoạn thơ.
Ngông nghênh, tự phụ.
Mỉa mai, giễu cợt.
Hóm hỉnh, tự nhiên.
Ngang tàng, tự đắc.
Tác giả kể việc sáng tác, in và bán sách bằng giọng trò chuyện giản dị.
Cách liệt kê tự nhiên, không trang trọng hay lên gân.
Các cụm “văn chơi”, “còn bán được”, “chửa biết con in ra mấy mươi” tạo nét tự trào vui vẻ.
Lời thơ có sự dí dỏm, nhẹ nhàng, không thể hiện thái độ khoe khoang.
Chọn C. Hóm hỉnh, tự nhiên; B, C, D sai vì lần lượt không có ý mỉa mai, tự phụ hay ngang tàng.
Giọng thơ chủ yếu là sự tự trào thân thiện và duyên dáng.
(1) Bẩm con không dám man cửa Trời
(2) Những áng văn con in cả rồi
(3) Hai quyển Khối tình văn thuyết lí
(4) Hai Khối tình con là văn chơi
(5) Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết
(6) Đài gương, Lên sáu văn vị đời
(7) Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch
(8) Đến quyển Lên tám nay là mười
(9) Nhờ Trời văn con còn bán được
(10) Chửa biết con in ra mấy mươi?
(Hầu trời – Tản Đà)
Từ “man” trong câu thơ (1) có nghĩa gần với từ nào sau đây?
nói dối.
nói lan man.
nói láo.
nói hỗn.
Lời thơ là lời phân trần khiêm nhường trước Trời, nên “man” chỉ hành động nói dối, dối trá.
Chọn A. “nói dối”; B, C, D lần lượt chỉ nói dài dòng, nói sai sự thật theo khẩu ngữ và vô lễ, không phù hợp bằng.
(1) Bẩm con không dám man cửa Trời
(2) Những áng văn con in cả rồi
(3) Hai quyển Khối tình văn thuyết lí
(4) Hai Khối tình con là văn chơi
(5) Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết
(6) Đài gương, Lên sáu văn vị đời
(7) Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch
(8) Đến quyển Lên tám nay là mười
(9) Nhờ Trời văn con còn bán được
(10) Chửa biết con in ra mấy mươi?
(Hầu trời – Tản Đà)
Theo anh/chị khái niệm “văn chơi” được tác giả nhắc đến trong câu thơ (4) là để chỉ loại văn nào?
Văn miêu tả cảnh ăn chơi.
Văn viết đùa cợt.
Văn có tính giải trí.
Văn viết nhẹ nhàng.
“Văn chơi” được đặt bên cạnh “văn thuyết lí”, cho thấy đây không phải loại văn học thuật, nghiên cứu.
Từ “chơi” mang nghĩa tiêu khiển, đọc cho vui; vì vậy “văn chơi” là văn có tính giải trí.
Chọn C. A sai vì hiểu “chơi” là cảnh ăn chơi; B sai vì đồng nhất với đùa cợt; D sai vì chỉ nêu sắc thái nhẹ nhàng, chưa chỉ đúng mục đích giải trí.
(1) Bẩm con không dám man cửa Trời
(2) Những áng văn con in cả rồi
(3) Hai quyển Khối tình văn thuyết lí
(4) Hai Khối tình con là văn chơi
(5) Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết
(6) Đài gương, Lên sáu văn vị đời
(7) Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch
(8) Đến quyển Lên tám nay là mười
(9) Nhờ Trời văn con còn bán được
(10) Chửa biết con in ra mấy mươi?
(Hầu trời – Tản Đà)
Đoạn trích trên chủ yếu sử dụng biện pháp nghệ thuật nào?
Nhân hóa.
Nói quá.
Liệt kê.
Hoán dụ.
Các câu từ (2) đến (8) lần lượt nêu nhiều tên tác phẩm: "Khối tình", "Giấc mộng", "Đài gương", "Lên sáu", "Đàn bà Tàu", "Lên tám".
Những yếu tố cùng loại được xếp nối tiếp, tạo cảm giác dồn dập.
Cách nêu hàng loạt tên tác phẩm là phép liệt kê, làm nổi bật số lượng sáng tác của nhân vật trữ tình.
Chọn C. A sai vì không có sự vật được gán đặc điểm con người; B sai vì đoạn thơ không phóng đại; D sai vì không có sự thay thế tên gọi dựa trên quan hệ liên tưởng.
(1) Bẩm con không dám man cửa Trời
(2) Những áng văn con in cả rồi
(3) Hai quyển Khối tình văn thuyết lí
(4) Hai Khối tình con là văn chơi
(5) Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết
(6) Đài gương, Lên sáu văn vị đời
(7) Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch
(8) Đến quyển Lên tám nay là mười
(9) Nhờ Trời văn con còn bán được
(10) Chửa biết con in ra mấy mươi?
(Hầu trời – Tản Đà)
Chủ đề của đoạn trích là gì?
Khẳng định phong cách độc đáo của Tản Đà.
Khẳng định giọng văn riêng biệt của Tản Đà.
Khẳng định tài năng đa dạng của Tản Đà.
Khẳng định vốn sống phong phú của Tản Đà.
Các câu thơ liệt kê nhiều tác phẩm thuộc văn thuyết lí, văn chơi, tiểu thuyết và văn dịch.
Chi tiết ấy nhấn mạnh khả năng sáng tác ở nhiều thể loại của Tản Đà.
Chọn C: Đoạn trích khẳng định tài năng đa dạng của Tản Đà; A, B, D sai vì lần lượt nói về phong cách, giọng văn và vốn sống, đều không phải trọng tâm.
NƠI DỰA
Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia ?
Khuôn mặt trẻ đẹp chìm vào những miền xa nào.
Đứa bé đang lẫm chẫm muốn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa hoa một điệu múa kì lạ.
Và cái miệng líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có.
Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống.
Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia?
Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết.
Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh bước từng bước run rẩy.
Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứa đựng bao nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời.
Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách.
(Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, Hà Nội, 1983)
Phong cách ngôn ngữ nào được sử dụng trong đoạn trích trên?
Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Phong cách ngôn ngữ hành chính
Phong cách ngôn ngữ báo chí
Đoạn trích sử dụng hình ảnh giàu sức gợi như đứa trẻ, bà cụ, người chiến sĩ.
Ngôn ngữ biểu cảm, giàu tính hình tượng, làm nổi bật ý nghĩa của sự nâng đỡ.
Đoạn trích không chỉ cung cấp thông tin mà còn khơi gợi cảm xúc và suy ngẫm.
Đây là đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
Chọn B. A, C, D sai vì lần lượt không phải lời giao tiếp thường nhật, văn bản công vụ hay bản tin thời sự.
NƠI DỰA
Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia ?
Khuôn mặt trẻ đẹp chìm vào những miền xa nào.
Đứa bé đang lẫm chẫm muốn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa hoa một điệu múa kì lạ.
Và cái miệng líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có.
Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống.
Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia?
Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết.
Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh bước từng bước run rẩy.
Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứa đựng bao nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời.
Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách.
(Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, Hà Nội, 1983)
Hãy chỉ ra nghịch lí trong hai câu được in đậm trong đoạn trích trên:
Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống.
…
Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách.
Người yếu đuối tìm nơi dựa ở người vững mạnh.
Người cùng cảnh ngộ tìm đến nhau để dựa vào.
Người khoẻ mạnh lại dựa vào những người yếu đuối hơn.
Người khoẻ mạnh dựa vào nhau để vững mạnh hơn.
Đứa bé chưa bước vững nhưng là nơi dựa để người mẹ sống; bà cụ yếu ớt là nơi dựa để người chiến sĩ vượt thử thách.
Chọn C vì người khoẻ mạnh lại dựa vào người yếu đuối hơn. A sai vì diễn tả lẽ thường; B không nêu sự trái ngược về vị thế; D không thể hiện nghịch lí.
NƠI DỰA
Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia ?
Khuôn mặt trẻ đẹp chìm vào những miền xa nào.
Đứa bé đang lẫm chẫm muốn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa hoa một điệu múa kì lạ.
Và cái miệng líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có.
Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống.
Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia?
Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết.
Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh bước từng bước run rẩy.
Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứa đựng bao nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời.
Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách.
(Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, Hà Nội, 1983)
Qua đoạn trích trên, anh/ chị hiểu thế nào là nơi dựa của mỗi con người trong cuộc đời?
Nơi dựa vĩnh cửu
Nơi dựa vật chất
Nơi dựa tinh thần
Nơi dựa tạm thời
Đứa trẻ còn chập chững nhưng là nơi dựa để người mẹ sống.
Bà cụ yếu già lại là nơi dựa giúp người chiến sĩ vượt thử thách.
Nơi dựa được tạo nên từ tình yêu thương, sự gắn bó và động lực tinh thần.
Đó là sự nâng đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, không phải chỗ dựa vật chất.
Chọn C. Nơi dựa tinh thần; A, B, D sai vì đoạn trích không nói về tính vĩnh cửu, tài sản vật chất hay sự nâng đỡ nhất thời.
NƠI DỰA
Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia ?
Khuôn mặt trẻ đẹp chìm vào những miền xa nào.
Đứa bé đang lẫm chẫm muốn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa hoa một điệu múa kì lạ.
Và cái miệng líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có.
Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống.
Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia?
Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết.
Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh bước từng bước run rẩy.
Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứa đựng bao nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời.
Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách.
(Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, Hà Nội, 1983)
Xác định các dạng của phép điệp trong đoạn trích trên.
Điệp từ, điệp cấu trúc, điệp ngữ vòng
Điệp ngữ, điệp cấu trúc
Điệp từ, điệp ngữ nối tiếp
Điệp từ, điệp cấu trúc, điệp ngữ cách quãng
Các từ như “đứa bé”, “bà cụ”, “nơi dựa” được lặp lại.
Đây là phép điệp từ.
Hai đoạn cùng triển khai theo mô hình: nhân vật xuất hiện, được miêu tả, rồi trở thành nơi dựa cho người khác.
Đây là phép điệp cấu trúc.
Các cụm “Ai biết đâu…” và “lại chính là nơi dựa…” lặp lại ở hai vị trí cách nhau.
Đó là điệp ngữ cách quãng, không phải điệp ngữ nối tiếp hay điệp ngữ vòng.
Chọn D: điệp từ, điệp cấu trúc, điệp ngữ cách quãng; A sai vì không có điệp ngữ vòng, B thiếu điệp từ, C nhầm điệp ngữ cách quãng với điệp ngữ nối tiếp.
NƠI DỰA
Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia ?
Khuôn mặt trẻ đẹp chìm vào những miền xa nào.
Đứa bé đang lẫm chẫm muốn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa hoa một điệu múa kì lạ.
Và cái miệng líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có.
Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống.
Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia?
Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết.
Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh bước từng bước run rẩy.
Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứa đựng bao nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời.
Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách.
(Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, Hà Nội, 1983)
Hãy chỉ ra đoạn trích trên có bao nhiêu từ láy?
3
4
5
6
Các từ cần kiểm tra: lẫm chẫm, hoa hoa, líu lo, run rẩy, gắng gỏi.
Lẫm chẫm: láy vần; hoa hoa: láy toàn bộ.
Líu lo, run rẩy, gắng gỏi: láy phụ âm đầu; tổng cộng từ.
Chọn C vì đoạn trích có từ láy; A, B, D sai vì lần lượt đếm thiếu , thiếu và thừa từ.
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đáp án | C | A | C | C | C | B | C | C | D | C |
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 50 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.
Đăng nhập để làm bài