Đáp án & lời giải chi tiết: Đề ôn tập ĐGNL ĐHQG HN năm 2025 - Mã đề 10 — Văn học

Đánh giá Năng lực (HSA)Môn Ngữ văn50 câuChuẩn GDPT mới

Văn học - Ngôn ngữ

Câu 1

Các nhà tâm lí học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lí khác nhau nhưng hiện sống trong cùng một đất nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lí học người Mĩ da trắng suốt nhiều thập kỉ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mĩ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mĩ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Thứ nhất, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi chúng ta trải qua thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù nó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động rõ ràng đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ, nên nỗ lực của các nhà tâm lí học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.

(Jared Diamond, Súng, vi trùng và thép, NXB Thế giới, 2021, tr.24)

Các nhà tâm lí học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lí khác nhau nhưng hiện sống trong cùng một đất nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lí học người Mĩ da trắng suốt nhiều thập kỉ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mĩ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mĩ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Thứ nhất, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi chúng ta trải qua thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù nó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động rõ ràng đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ, nên nỗ lực của các nhà tâm lí học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.

(Jared Diamond, Súng, vi trùng và thép, NXB Thế giới, 2021, tr.24)

Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích.

A

Chính luận.

B

Khoa học.

C

Nghệ thuật.

D

Báo chí.

Lời giải

Bước 1: Phân tích yêu cầu

Câu hỏi yêu cầu xác định phong cách ngôn ngữ dựa vào mục đích, cách trình bày và nội dung văn bản.

Bước 2: Nhận diện đặc điểm

Đoạn trích dùng các thuật ngữ như “khả năng nhận thức”, “thử nghiệm IQ”, “giả thiết”, “gen di truyền”.

Nội dung trình bày khách quan, giải thích nguyên nhân, có dẫn chứng, lập luận mạch lạc và logic; chủ đề thuộc lĩnh vực tâm lí học.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn B. Khoa học; A, C, D sai vì đoạn trích không hướng đến biện luận chính trị, không sử dụng hình ảnh và cảm xúc nghệ thuật, cũng không mang tính đưa tin thời sự.

Đáp án: B. Khoa học — đoạn trích dùng thuật ngữ chuyên ngành, trình bày khách quan và lập luận logic.

Câu 2

Các nhà tâm lí học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lí khác nhau nhưng hiện sống trong cùng một đất nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lí học người Mĩ da trắng suốt nhiều thập kỉ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mĩ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mĩ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Thứ nhất, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi chúng ta trải qua thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù nó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động rõ ràng đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ, nên nỗ lực của các nhà tâm lí học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.

(Jared Diamond, Súng, vi trùng và thép, NXB Thế giới, 2021, tr.24)

Các nhà tâm lí học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lí khác nhau nhưng hiện sống trong cùng một đất nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lí học người Mĩ da trắng suốt nhiều thập kỉ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mĩ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mĩ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Thứ nhất, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi chúng ta trải qua thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù nó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động rõ ràng đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ, nên nỗ lực của các nhà tâm lí học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.

(Jared Diamond, Súng, vi trùng và thép, NXB Thế giới, 2021, tr.24)

Nội dung chính của đoạn trích là gì?

A

Ảnh hưởng của trí tuệ đến công nghệ.

B

Nỗ lực tìm kiếm sự khác biệt về IQ do bẩm sinh.

C

Thái độ phân biệt giữa người da đen và người da trắng.

D

Nỗ lực của các nhà tâm lí học.

Lời giải

Bước 1: Xác định vấn đề trung tâm

Câu đầu nêu rõ nỗ lực tìm kiếm sự khác biệt về IQ giữa các nhóm người.

Toàn đoạn tập trung vào việc kiểm chứng sự khác biệt IQ bẩm sinh.

Bước 2: Khái quát nội dung

Đoạn văn phân tích hai lí do khiến nỗ lực này chưa thể đưa ra kết luận chính xác: ảnh hưởng của môi trường và văn hóa.

Vì vậy, trọng tâm là nỗ lực tìm kiếm sự khác biệt IQ do bẩm sinh, dù kết quả chưa thuyết phục.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn B. A chỉ là chi tiết được đề cập, C là ví dụ minh họa, còn D quá chung chung so với nội dung cụ thể của đoạn trích.

Đáp án: B. Nỗ lực tìm kiếm sự khác biệt về IQ do bẩm sinh — vì đây là vấn đề trung tâm được triển khai trong toàn đoạn.

Câu 3

Các nhà tâm lí học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lí khác nhau nhưng hiện sống trong cùng một đất nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lí học người Mĩ da trắng suốt nhiều thập kỉ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mĩ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mĩ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Thứ nhất, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi chúng ta trải qua thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù nó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động rõ ràng đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ, nên nỗ lực của các nhà tâm lí học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.

(Jared Diamond, Súng, vi trùng và thép, NXB Thế giới, 2021, tr.24)

Các nhà tâm lí học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lí khác nhau nhưng hiện sống trong cùng một đất nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lí học người Mĩ da trắng suốt nhiều thập kỉ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mĩ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mĩ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Thứ nhất, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi chúng ta trải qua thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù nó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động rõ ràng đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ, nên nỗ lực của các nhà tâm lí học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.

(Jared Diamond, Súng, vi trùng và thép, NXB Thế giới, 2021, tr.24)

Cụm từ sự thật này” (in đậm) thay thế cho nội dung nào dưới đây?

A

Các nhà tâm lí học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ.

B

Nhiều nhà tâm lí học người Mĩ da trắng suốt nhiều thập kỉ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mĩ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mĩ da trắng gốc Âu.

C

Những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành.

D

Những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ.

Lời giải

Bước 1: Xác định nội dung quy chiếu

“Sự thật này” là đại từ chỉ, thay thế một thông tin đã được nhắc đến trước đó.

Thông tin ấy được nêu ngay trong câu liền trước.

Bước 2: Tìm thông tin được thay thế

Câu trước nêu rõ những người được so sánh khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành.

Đây là sự thật làm cho việc kiểm chứng IQ bẩm sinh trở nên khó khăn.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn C. A là nhận định khái quát; B là hành động, quan điểm của một nhóm người; D là nỗ lực kiểm chứng giả thiết, không phải sự thật được nhắc lại.

Đáp án: C — “Sự thật này” thay thế nội dung những người được so sánh khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành.

Câu 4

Các nhà tâm lí học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lí khác nhau nhưng hiện sống trong cùng một đất nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lí học người Mĩ da trắng suốt nhiều thập kỉ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mĩ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mĩ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Thứ nhất, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi chúng ta trải qua thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù nó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động rõ ràng đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ, nên nỗ lực của các nhà tâm lí học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.

(Jared Diamond, Súng, vi trùng và thép, NXB Thế giới, 2021, tr.24)

Các nhà tâm lí học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lí khác nhau nhưng hiện sống trong cùng một đất nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lí học người Mĩ da trắng suốt nhiều thập kỉ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mĩ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mĩ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Thứ nhất, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi chúng ta trải qua thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù nó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động rõ ràng đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ, nên nỗ lực của các nhà tâm lí học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.

(Jared Diamond, Súng, vi trùng và thép, NXB Thế giới, 2021, tr.24)

Ý nào KHÔNG được nhắc đến trong đoạn trích?

A

Mục đích nghiên cứu sự khác biệt về IQ là để chứng tỏ sự khác biệt giữa người da đen và người da trắng.

B

Sự khác nhau về môi trường sống có tác động đến IQ của con người.

C

Khó phân biệt rõ sự khác biệt IQ do gen di truyền và do môi trường sống.

D

Các thử nghiệm về khả năng nhận thức có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh.

Lời giải

Bước 1: Xác định nội dung chính

Đoạn trích nêu ảnh hưởng của môi trường sống, khó phân biệt gen với môi trường và hạn chế của thử nghiệm IQ.

Bước 2: Đối chiếu phương án

Chọn A vì đoạn trích chỉ nói một số nhà tâm lí học Mĩ cố chứng minh người da đen kém thông minh hơn người da trắng, không nói mục đích nghiên cứu là để chứng tỏ sự khác biệt giữa hai nhóm.

B, C, D sai vì lần lượt được nhắc đến qua tác động của môi trường sống, khó phân biệt ảnh hưởng của gen và môi trường, cùng xu hướng đo kiến thức văn hóa của bài kiểm tra IQ.

Đáp án: A — Đoạn trích không nói mục đích nghiên cứu IQ là để chứng tỏ sự khác biệt giữa người da đen và người da trắng.

Câu 5

Các nhà tâm lí học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lí khác nhau nhưng hiện sống trong cùng một đất nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lí học người Mĩ da trắng suốt nhiều thập kỉ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mĩ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mĩ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Thứ nhất, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi chúng ta trải qua thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù nó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động rõ ràng đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ, nên nỗ lực của các nhà tâm lí học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.

(Jared Diamond, Súng, vi trùng và thép, NXB Thế giới, 2021, tr.24)

Các nhà tâm lí học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lí khác nhau nhưng hiện sống trong cùng một đất nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lí học người Mĩ da trắng suốt nhiều thập kỉ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mĩ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mĩ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Thứ nhất, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi chúng ta trải qua thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù nó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động rõ ràng đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ, nên nỗ lực của các nhà tâm lí học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.

(Jared Diamond, Súng, vi trùng và thép, NXB Thế giới, 2021, tr.24)

Theo đoạn trích, có mấy yếu tố tác động khiến các nhà tâm lí vẫn chưa đưa ra được kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh?

A

1 yếu tố.

B

2 yếu tố.

C

3 yếu tố.

D

4 yếu tố.

Lời giải

Bước 1: Xác định yêu cầu

Câu hỏi yêu cầu đếm số yếu tố khiến các nhà tâm lí học chưa thể kết luận thuyết phục.

Bước 2: Tìm các yếu tố

Đoạn văn nêu hai yếu tố bằng cấu trúc “Thứ nhất” và “Thứ hai”.

Yếu tố thứ nhất là ảnh hưởng của môi trường xã hội thời thơ ấu; yếu tố thứ hai là các bài kiểm tra thiên về kiến thức văn hóa.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn B vì văn bản liệt kê rõ yếu tố; A, C, D sai vì lần lượt nêu số lượng , , , không phù hợp với đoạn trích.

Đáp án: B — Có yếu tố được liệt kê bằng cấu trúc “Thứ nhất” và “Thứ hai”.

Câu 6

Chọn cặp từ/ cụm từ thích hợp nhất điền vào chỗ trống.

Trên thế giới, các cộng đồng, các dân tộc không thờ cúng ____________ thì __________ có nghĩa là họ không “uống nước nhớ nguồn” như chúng ta.


A

gia tộc/ cũng vẫn

B

tổ tiên/ cũng không

C

gia đình/ cũng không

D

gia tiên/ không những

Lời giải

Bước 1: Xác định từ ngữ phù hợp

Thành ngữ “uống nước nhớ nguồn” hướng đến lòng biết ơn tổ tiên và những người đi trước.

Vì vậy, từ phù hợp là “tổ tiên”; quan hệ ý nghĩa cần dùng là “cũng không”.

Bước 2: Đối chiếu phương án

Chọn B: “tổ tiên/ cũng không”, tạo câu hoàn chỉnh và đúng logic.

A sai về logic; C chưa bao quát bằng “tổ tiên”; D sai nghĩa của liên từ “không những”.

Đáp án: B. tổ tiên/ cũng không — phù hợp với ý nghĩa thành ngữ và logic của câu.

Câu 7

Chọn cặp từ/ cụm từ thích hợp nhất điền vào chỗ trống.


Muốn __________ protein trong thực đơn mà không phải ăn quá nhiều thịt, bạn có thể ăn ngô, đậu, bông cải xanh, rau chân vịt…, bởi trái cây và rau củ cũng cung cấp cho cơ thể __________ lớn protein cùng nhiều chất xơ, chất chống oxy hóa và dinh dưỡng thực vật, rất tốt cho sức khỏe và vóc dáng.


A

kiểm soát/ lượng

B

gia tăng/ khối lượng

C

hạn chế/ dưỡng chất

D

tăng cường/ hàm lượng

Lời giải

Bước 1: Xác định từ ở ô trống thứ nhất

Ngữ cảnh thể hiện mong muốn bổ sung protein vào thực đơn, nên dùng “tăng cường”.

Bước 2: Đối chiếu phương án

Chọn D: “tăng cường/ hàm lượng”, vì “hàm lượng lớn protein” chỉ lượng protein dồi dào trong rau củ. A sai vì “kiểm soát protein” không phù hợp; B dùng “khối lượng” chưa thích hợp bằng “hàm lượng”; C sai vì “hạn chế protein” trái với ý muốn bổ sung.

Câu hoàn chỉnh phù hợp với nội dung và ngữ nghĩa của đoạn văn.

Đáp án: D — “Tăng cường/ hàm lượng” phù hợp với ý bổ sung protein và chỉ lượng protein dồi dào.

Câu 8

Chèo là hình thức _____ bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm _____ giao lưu với công chúng, và có thể được biểu diễn ngẫu hứng.

A

ca nhạc/ đối tượng

B

múa hát/ công cụ

C

văn nghệ/ cầu nối

D

kể chuyện/ phương tiện

Lời giải

Bước 1: Nhận diện đặc trưng

Chèo là loại hình kịch hát dân gian, nổi bật ở hình thức diễn xướng kể chuyện.

Bước 2: Chọn từ phù hợp

Vị trí thứ nhất cần hoạt động kể chuyện; vị trí thứ hai cần từ chỉ cách thức giao lưu.

Cặp từ phù hợp là “kể chuyện/ phương tiện”.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn D. Các phương án A, B, C sai vì lần lượt dùng “đối tượng”, “công cụ” và “cầu nối”, không đúng vai trò của sân khấu trong chèo.

Đáp án: D. kể chuyện/ phương tiện — đúng với hình thức diễn xướng và chức năng giao lưu của chèo.

Câu 9

Chọn cặp từ/cụm từ thích hợp nhất điền vào chỗ trống.

Độc lập là điều tuyệt vời ______ việc tin rằng bản thân không cần sự giúp đỡ của bất kì ai thực sự có thể cản trở bạn, ______ việc cố gắng làm mọi thứ một mình có thể khiến bạn cô đơn, căng thẳng và ngăn bạn học hỏi từ người khác, hạn chế bạn xây dựng các mối quan hệ có ý nghĩa.


A

vì/ khi

B

nhưng/ bởi

C

chỉ có điều/ nếu

D

ngoại trừ/ vì thế

Lời giải

Bước 1: Xác định quan hệ ý

Ý độc lập là điều tuyệt vời đối lập với việc không cần sự giúp đỡ.

Những tác động tiêu cực được giải thích bởi việc cố gắng làm mọi thứ một mình.

Bước 2: Đối chiếu phương án

Chọn B: “nhưng/bởi”. “Nhưng” tạo sự đối lập, còn “bởi” giải thích nguyên nhân.

A, C, D sai vì các cặp từ lần lượt không phù hợp về quan hệ nghĩa.

Đáp án: B — “nhưng” biểu thị sự đối lập, “bởi” nêu nguyên nhân.

Câu 10

Theo các chuyên gia xã hội học thì gia đình là một _________ tổ chức đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa - xã hội đặc thủ, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở quan hệ hôn nhân, _______ quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên.

A

cách/ liên hệ

B

cách thức/ liên hệ

C

giải pháp/ quan hệ

D

hình thức/ quan hệ

Lời giải

Bước 1: Xác định từ thứ nhất

Cụm diễn đạt đúng là “một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng”.

“Hình thức” chỉ dạng tồn tại, phù hợp với khái niệm gia đình.

Bước 2: Xác định từ thứ hai

Các yếu tố “hôn nhân”, “huyết thống”, “nuôi dưỡng và giáo dục” đều là những quan hệ giữa các thành viên.

Vì vậy, từ cần điền là “quan hệ”.

Bước 3: Đối chiếu phương án

Chọn D: “hình thức/ quan hệ”. A và B sai vì “cách”, “cách thức” thiên về phương pháp; C sai vì “giải pháp” không phù hợp với bản chất gia đình.

Đáp án: D — “hình thức” phù hợp với dạng tổ chức, còn “quan hệ” bao quát các mối liên kết giữa thành viên gia đình.
Bảng tra cứu nhanh đáp án trọn bộ 10 câu hỏiNhấn để đóng / mở
Câu12345678910
Đáp ánBBCABBDDBD

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 50 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.

Đăng nhập để làm bài