Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.
Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.
Hình dáng me tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.
(Nắng mới – Lưu Trọng Lư)
Ý nào sau đây nhận định đúng sự vận động của mạch cảm xúc?
Cảm xúc vận động từ hiện tại hướng tới tương lai
Bài thơ là dòng hồi tưởng về quá khứ rồi lại trở về hiện tại
Bài thơ là dòng hoài niệm của nhân vật tôi về hình ảnh của mẹ trong quá khứ
Bài thơ có sự đan xen giữa quá khứ, hiện tại và tương lai
Nắng mới và tiếng gà trưa ở hiện tại khơi dậy nỗi buồn, nỗi nhớ.
Từ hiện tại, nhân vật “tôi” trở về tuổi thơ và nhớ hình ảnh mẹ.
Các chi tiết “thuở thiếu thời”, “lúc người còn sống”, áo đỏ, nụ cười làm kí ức về mẹ hiện rõ.
Chọn C vì bài thơ là dòng hoài niệm của nhân vật “tôi” về hình ảnh mẹ trong quá khứ; A sai vì không hướng tới tương lai, B sai vì không trở lại hiện tại, D sai vì không có yếu tố tương lai.
Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.
Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.
Hình dáng me tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.
(Nắng mới – Lưu Trọng Lư)
Ý nào sau đây nêu đúng nội dung của khổ thơ thứ nhất?
Dòng hồi ức nhớ thương thời dĩ vãng ùa về, thức dậy trong tâm hồn nhà thơ bởi những tín hiệu đặc biệt
Nỗi nhớ về tiếng gà trưa gắn với không gian làng quê vào buổi trưa hè
Không gian làng quê vào buổi trưa hè bình yên nhưng có chút đượm buồn
Khát khao được trở về quê cũ để được sống lại những ngày tháng bình yên
Nắng mới bên song và tiếng gà trưa là những tín hiệu từ hiện tại.
Các tín hiệu ấy đánh thức dòng hồi ức trong tâm hồn nhà thơ.
Các từ ngữ “rượi buồn”, “thời dĩ vãng”, “sống lại” cho thấy nỗi buồn nhớ quá khứ.
Khổ thơ thể hiện sự bồi hồi, thương nhớ những ngày xưa.
Chọn A vì khái quát đúng dòng hồi ức nhớ thương được đánh thức bởi những tín hiệu đặc biệt.
B, C, D sai vì lần lượt chỉ nêu tiếng gà và không gian, chỉ tả cảnh, hoặc suy diễn khát khao trở về không có trong thơ.
Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.
Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.
Hình dáng me tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.
(Nắng mới – Lưu Trọng Lư)
Người bộc lộ cảm xúc trong bài thơ là ai và được thể hiện qua từ ngữ nào?
Người mẹ – “me tôi”
Người mẹ – “người”
Người cha – “thầy”
Người con – “tôi”
Đại từ “tôi” xuất hiện trong “Tôi nhớ me tôi” và “tôi lên mười”.
Người tự xưng “tôi” chính là chủ thể đang bộc lộ cảm xúc.
“Me tôi” và “người” cùng chỉ người mẹ được hồi tưởng.
Vì thế, các từ ngữ này chỉ đối tượng cảm xúc, không chỉ người kể.
Chọn D: Người con – “tôi”. A và B sai vì “me tôi”, “người” chỉ mẹ; C sai vì “thầy” không xuất hiện trong bài thơ.
Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.
Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.
Hình dáng me tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.
(Nắng mới – Lưu Trọng Lư)
Dòng thơ “Xao xác, gà trưa gáy não nùng” sử dụng biện pháp nghệ thuật nào?
So sánh
Câu hỏi tu từ
Đảo ngữ
Điệp từ
Trật tự thông thường có thể là: “Gà trưa gáy não nùng, xao xác”.
Tác giả đưa “xao xác” lên đầu dòng để nhấn mạnh âm thanh và nỗi buồn.
Chọn C. Đảo ngữ; A, B, D sai vì không có quan hệ so sánh, câu hỏi tu từ hay từ ngữ lặp lại.
Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.
Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.
Hình dáng me tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.
(Nắng mới – Lưu Trọng Lư)
Cảm hứng chủ đạo trong bài thơ thể hiện giá trị đạo đức truyền thống nào của dân tộc ta?
Uống nước nhớ nguồn, hiếu thuận
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Tôn sư trọng đạo
Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ
Nhân vật trữ tình hồi tưởng về người mẹ qua những kỉ niệm tuổi thơ.
Các hình ảnh nắng mới, áo đỏ, giậu thưa làm nỗi nhớ thêm cụ thể, xúc động.
Nỗi nhớ thương gắn với lòng biết ơn người mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng.
Đó là biểu hiện của truyền thống hiếu thuận và đạo lí uống nước nhớ nguồn.
Chọn A. Uống nước nhớ nguồn, hiếu thuận; B, C, D sai vì lần lượt nói về phẩm chất bên trong, quan hệ thầy trò và tinh thần tương trợ cộng đồng, không phù hợp nội dung bài thơ.
"Bằng chứng sớm nhất được biết đến về sự xuất hiện của mèo nhà ở Hy Lạp có từ khoảng năm 1200 trước Công nguyên. Các thương nhân Hy Lạp, Phoenicia, Carthage và Etruscan đã mang mèo nhà đến miền nam châu Âu. Vào cuối thời kỳ Đế quốc Tây La Mã (thế kỷ thứ V), dòng mèo nhà Ai Cập đã đến một cảng biển Baltic ở miền bắc nước Đức.
Trong quá trình thuần hóa, mèo không trải qua nhiều thay đổi nên vẫn có khả năng sống sót khi trở lại môi trường hoang dã. Một số hành vi và đặc điểm tự nhiên của mèo rừng có thể đã được thích nghi trước với chúng để thuần hóa làm vật nuôi. Những đặc điểm này bao gồm kích thước nhỏ, bản chất xã hội, ngôn ngữ cơ thể rõ ràng, thích vui chơi và trí thông minh tương đối cao. Mèo nhà thường giao phối với mèo hoang. Việc lai tạo giữa các loài mèo trong nước và các loài mèo khác cũng có thể xảy ra, tạo thành các giống lai như mèo Kellas ở Scotland. [...]
Mèo có tầm nhìn ban đêm tuyệt vời, chúng có thể nhìn thấy ở mức độ ánh sáng bằng 1/6 mức độ ánh sáng cần thiết cho tầm nhìn của con người. Điều này một phần là do mắt mèo có màng trong suốt, phản xạ bất kỳ ánh sáng nào đi qua võng mạc trở lại mắt, do đó làm tăng độ nhạy cảm của mắt với ánh sáng mờ. Đồng tử lớn là sự thích nghi với ánh sáng mờ. Mèo nhà có đồng tử dạng khe (ti hí), cho phép nó tập trung ánh sáng chói mà không bị hội chứng “quang sai màu” (hiện tượng thấu kính không hội tụ được tất cả các màu vào cùng một điểm). Khi ánh sáng yếu, đồng tử của mèo mở rộng để che phần lớn bề mặt lộ ra của mắt.
Thính giác của mèo nhà nhạy bén nhất trong dải tần từ 500 Hz đến 32 kHz. Chúng có thể phát hiện dải tần số cực rộng từ 55 Hz đến 79 kHz. Mèo có thể nghe được khoảng 10,5 quãng 8, trong khi con người và chó có thể nghe được khoảng 9 quãng 8. Độ nhạy thính giác của nó được tăng cường nhờ tai ngoài lớn và có thể di động được. Loa tai giúp khuếch đại âm thanh nên mèo có thể phát hiện vị trí của tiếng ồn. Mèo có thể phát hiện siêu âm do con mồi là loài gặm nhấm tạo nên. Nghiên cứu gần đây cũng đã chỉ ra rằng, mèo có khả năng nhận thức không gian xã hội để xác định vị trí của chủ nhân dựa trên việc nghe thấy giọng nói của chủ nhân.
Bên cạnh đó, mèo có khứu giác nhạy bén, một phần là do cơ quan này của chúng phát triển tốt, có bề mặt niêm mạc lớn (rộng khoảng 5,8 cm2, gấp đôi so với của con người). Vì thế, chúng có thể cảm nhận được một số mùi hương mà con người không thể cảm nhận. Mèo nhạy cảm với các hợp chất pheromone như 3-mercapto-3-methylbutan-1-ol mà chúng sử dụng để giao tiếp thông qua việc phun nước tiểu và đánh dấu bằng các tuyến mùi. Nhiều con mèo cũng phản ứng mạnh mẽ với thực vật có chứa nepetalactone, đặc biệt là cỏ bạc hà, vì chúng có thể phát hiện ra chất đó với ít hơn một phần tỷ. Khoảng 70-80% loài mèo bị ảnh hưởng bởi nepetalactone.
Mèo có tương đối ít nụ vị giác so với con người (trên dưới 470 so với hơn 9.000 trên lưỡi người). Mèo nhà và mèo hoang có chung một đột biến gen thụ thể vị giác, khiến vị giác ngọt của chúng không liên kết với các phân tử đường nên không có khả năng cảm nhận vị ngọt. Thay vào đó, vị giác của chúng phản ứng tốt với axit, axit amin như protein và vị đắng. Mèo cũng có sở thích về nhiệt độ riêng biệt đối với thức ăn. Chúng thích thức ăn có nhiệt độ khoảng 38°C, tương tự như nhiệt độ của thịt tươi và thường từ chối thức ăn được làm lạnh hoặc để trong tủ lạnh (điều này báo hiệu cho mèo rằng, "con mồi" đã chết từ lâu và do đó có thể là chất độc hoặc đang phân hủy).
Để hỗ trợ điều hướng và cảm giác, mèo có hàng tá râu có thể di chuyển trên cơ thể, đặc biệt là trên khuôn mặt của chúng. Chúng cung cấp thông tin về độ rộng của các khoảng trống và vị trí của các vật thể trong bóng tối bằng cách chạm trực tiếp vào các vật thể và cảm nhận các luồng không khí; chúng cũng kích hoạt phản xạ chớp mắt để bảo vệ mắt.
Mèo hoang hoạt động cả ngày lẫn đêm, mặc dù chúng có xu hướng hoạt động nhiều hơn một chút vào ban đêm. Thời gian hoạt động của mèo khá linh hoạt và đa dạng, có nghĩa là mèo nhà có thể hoạt động tích cực hơn vào buổi sáng và tối, như một phản ứng để được tương tác nhiều hơn với con người. Mèo bảo tồn năng lượng bằng cách ngủ nhiều hơn hầu hết các loài động vật, đặc biệt là khi chúng trưởng thành. Thời lượng giấc ngủ hàng ngày của mèo khác nhau, thường là 12-16 giờ, trung bình là 13-14 giờ. Một số con mèo có thể ngủ tới 20 giờ. Thuật ngữ "mèo ngủ trưa" để chỉ một giấc ngủ ngắn đề cập đến xu hướng ngủ (rất nhẹ) của mèo trong một khoảng thời gian ngắn."
(Đôi nét về loài mèo, Võ Văn Sự, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 27/12/2022)
Đâu là đáp án đúng khi nói về xuất xứ của loài mèo?
Mèo được biết đến sớm nhất tại Hy Lạp và vào thế kỉ V.
Mèo được biết đến sớm nhất tại Ai Cập và vào thế kỉ V.
Mèo được biết đến sớm nhất tại Hy Lạp và vào thế kỉ XII trước Công nguyên.
Mèo được biết đến sớm nhất tại Ai Cập và vào thế kỉ XII trước Công nguyên.
Đoạn đầu xác định bằng chứng sớm nhất về mèo nhà xuất hiện tại Hy Lạp.
Mốc khoảng năm trước Công nguyên thuộc thế kỉ trước Công nguyên.
Chọn C. A sai thời điểm; B sai cả địa điểm và thời điểm; D sai địa điểm.
"Bằng chứng sớm nhất được biết đến về sự xuất hiện của mèo nhà ở Hy Lạp có từ khoảng năm 1200 trước Công nguyên. Các thương nhân Hy Lạp, Phoenicia, Carthage và Etruscan đã mang mèo nhà đến miền nam châu Âu. Vào cuối thời kỳ Đế quốc Tây La Mã (thế kỷ thứ V), dòng mèo nhà Ai Cập đã đến một cảng biển Baltic ở miền bắc nước Đức.
Trong quá trình thuần hóa, mèo không trải qua nhiều thay đổi nên vẫn có khả năng sống sót khi trở lại môi trường hoang dã. Một số hành vi và đặc điểm tự nhiên của mèo rừng có thể đã được thích nghi trước với chúng để thuần hóa làm vật nuôi. Những đặc điểm này bao gồm kích thước nhỏ, bản chất xã hội, ngôn ngữ cơ thể rõ ràng, thích vui chơi và trí thông minh tương đối cao. Mèo nhà thường giao phối với mèo hoang. Việc lai tạo giữa các loài mèo trong nước và các loài mèo khác cũng có thể xảy ra, tạo thành các giống lai như mèo Kellas ở Scotland. [...]
Mèo có tầm nhìn ban đêm tuyệt vời, chúng có thể nhìn thấy ở mức độ ánh sáng bằng 1/6 mức độ ánh sáng cần thiết cho tầm nhìn của con người. Điều này một phần là do mắt mèo có màng trong suốt, phản xạ bất kỳ ánh sáng nào đi qua võng mạc trở lại mắt, do đó làm tăng độ nhạy cảm của mắt với ánh sáng mờ. Đồng tử lớn là sự thích nghi với ánh sáng mờ. Mèo nhà có đồng tử dạng khe (ti hí), cho phép nó tập trung ánh sáng chói mà không bị hội chứng “quang sai màu” (hiện tượng thấu kính không hội tụ được tất cả các màu vào cùng một điểm). Khi ánh sáng yếu, đồng tử của mèo mở rộng để che phần lớn bề mặt lộ ra của mắt.
Thính giác của mèo nhà nhạy bén nhất trong dải tần từ 500 Hz đến 32 kHz. Chúng có thể phát hiện dải tần số cực rộng từ 55 Hz đến 79 kHz. Mèo có thể nghe được khoảng 10,5 quãng 8, trong khi con người và chó có thể nghe được khoảng 9 quãng 8. Độ nhạy thính giác của nó được tăng cường nhờ tai ngoài lớn và có thể di động được. Loa tai giúp khuếch đại âm thanh nên mèo có thể phát hiện vị trí của tiếng ồn. Mèo có thể phát hiện siêu âm do con mồi là loài gặm nhấm tạo nên. Nghiên cứu gần đây cũng đã chỉ ra rằng, mèo có khả năng nhận thức không gian xã hội để xác định vị trí của chủ nhân dựa trên việc nghe thấy giọng nói của chủ nhân.
Bên cạnh đó, mèo có khứu giác nhạy bén, một phần là do cơ quan này của chúng phát triển tốt, có bề mặt niêm mạc lớn (rộng khoảng 5,8 cm2, gấp đôi so với của con người). Vì thế, chúng có thể cảm nhận được một số mùi hương mà con người không thể cảm nhận. Mèo nhạy cảm với các hợp chất pheromone như 3-mercapto-3-methylbutan-1-ol mà chúng sử dụng để giao tiếp thông qua việc phun nước tiểu và đánh dấu bằng các tuyến mùi. Nhiều con mèo cũng phản ứng mạnh mẽ với thực vật có chứa nepetalactone, đặc biệt là cỏ bạc hà, vì chúng có thể phát hiện ra chất đó với ít hơn một phần tỷ. Khoảng 70-80% loài mèo bị ảnh hưởng bởi nepetalactone.
Mèo có tương đối ít nụ vị giác so với con người (trên dưới 470 so với hơn 9.000 trên lưỡi người). Mèo nhà và mèo hoang có chung một đột biến gen thụ thể vị giác, khiến vị giác ngọt của chúng không liên kết với các phân tử đường nên không có khả năng cảm nhận vị ngọt. Thay vào đó, vị giác của chúng phản ứng tốt với axit, axit amin như protein và vị đắng. Mèo cũng có sở thích về nhiệt độ riêng biệt đối với thức ăn. Chúng thích thức ăn có nhiệt độ khoảng 38°C, tương tự như nhiệt độ của thịt tươi và thường từ chối thức ăn được làm lạnh hoặc để trong tủ lạnh (điều này báo hiệu cho mèo rằng, "con mồi" đã chết từ lâu và do đó có thể là chất độc hoặc đang phân hủy).
Để hỗ trợ điều hướng và cảm giác, mèo có hàng tá râu có thể di chuyển trên cơ thể, đặc biệt là trên khuôn mặt của chúng. Chúng cung cấp thông tin về độ rộng của các khoảng trống và vị trí của các vật thể trong bóng tối bằng cách chạm trực tiếp vào các vật thể và cảm nhận các luồng không khí; chúng cũng kích hoạt phản xạ chớp mắt để bảo vệ mắt.
Mèo hoang hoạt động cả ngày lẫn đêm, mặc dù chúng có xu hướng hoạt động nhiều hơn một chút vào ban đêm. Thời gian hoạt động của mèo khá linh hoạt và đa dạng, có nghĩa là mèo nhà có thể hoạt động tích cực hơn vào buổi sáng và tối, như một phản ứng để được tương tác nhiều hơn với con người. Mèo bảo tồn năng lượng bằng cách ngủ nhiều hơn hầu hết các loài động vật, đặc biệt là khi chúng trưởng thành. Thời lượng giấc ngủ hàng ngày của mèo khác nhau, thường là 12-16 giờ, trung bình là 13-14 giờ. Một số con mèo có thể ngủ tới 20 giờ. Thuật ngữ "mèo ngủ trưa" để chỉ một giấc ngủ ngắn đề cập đến xu hướng ngủ (rất nhẹ) của mèo trong một khoảng thời gian ngắn."
(Đôi nét về loài mèo, Võ Văn Sự, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 27/12/2022)
Theo văn bản, tại sao mèo sớm được loài người thuần hóa và nuôi dưỡng?
Mèo nhà thường giao phối với mèo hoang nên tạo ra các giống mèo dễ thuần chủng.
Mèo có nhiều đặc điểm để thuần hóa làm vật nuôi như kích thước nhỏ và trí thông minh cao.
Mèo là loài dễ thích nghi nên ở môi trường hoang dã hay được nuôi dưỡng thì chúng đều sống tốt.
Mèo là loài động vật lành tính, hiền lành, trung thành, dễ thuần hóa.
Văn bản khẳng định mèo có những đặc điểm tự nhiên phù hợp để thuần hóa làm vật nuôi.
Các đặc điểm tiêu biểu là kích thước nhỏ, bản chất xã hội và trí thông minh tương đối cao.
Phương án B nêu đúng nguyên nhân và dẫn lại hai đặc điểm tiêu biểu của mèo.
Chọn B. A nói về giao phối và giống lai, không phải nguyên nhân thuần hóa; C chỉ nêu khả năng sống sót, còn D đưa thêm đặc điểm không được văn bản xác nhận.
"Bằng chứng sớm nhất được biết đến về sự xuất hiện của mèo nhà ở Hy Lạp có từ khoảng năm 1200 trước Công nguyên. Các thương nhân Hy Lạp, Phoenicia, Carthage và Etruscan đã mang mèo nhà đến miền nam châu Âu. Vào cuối thời kỳ Đế quốc Tây La Mã (thế kỷ thứ V), dòng mèo nhà Ai Cập đã đến một cảng biển Baltic ở miền bắc nước Đức.
Trong quá trình thuần hóa, mèo không trải qua nhiều thay đổi nên vẫn có khả năng sống sót khi trở lại môi trường hoang dã. Một số hành vi và đặc điểm tự nhiên của mèo rừng có thể đã được thích nghi trước với chúng để thuần hóa làm vật nuôi. Những đặc điểm này bao gồm kích thước nhỏ, bản chất xã hội, ngôn ngữ cơ thể rõ ràng, thích vui chơi và trí thông minh tương đối cao. Mèo nhà thường giao phối với mèo hoang. Việc lai tạo giữa các loài mèo trong nước và các loài mèo khác cũng có thể xảy ra, tạo thành các giống lai như mèo Kellas ở Scotland. [...]
Mèo có tầm nhìn ban đêm tuyệt vời, chúng có thể nhìn thấy ở mức độ ánh sáng bằng 1/6 mức độ ánh sáng cần thiết cho tầm nhìn của con người. Điều này một phần là do mắt mèo có màng trong suốt, phản xạ bất kỳ ánh sáng nào đi qua võng mạc trở lại mắt, do đó làm tăng độ nhạy cảm của mắt với ánh sáng mờ. Đồng tử lớn là sự thích nghi với ánh sáng mờ. Mèo nhà có đồng tử dạng khe (ti hí), cho phép nó tập trung ánh sáng chói mà không bị hội chứng “quang sai màu” (hiện tượng thấu kính không hội tụ được tất cả các màu vào cùng một điểm). Khi ánh sáng yếu, đồng tử của mèo mở rộng để che phần lớn bề mặt lộ ra của mắt.
Thính giác của mèo nhà nhạy bén nhất trong dải tần từ 500 Hz đến 32 kHz. Chúng có thể phát hiện dải tần số cực rộng từ 55 Hz đến 79 kHz. Mèo có thể nghe được khoảng 10,5 quãng 8, trong khi con người và chó có thể nghe được khoảng 9 quãng 8. Độ nhạy thính giác của nó được tăng cường nhờ tai ngoài lớn và có thể di động được. Loa tai giúp khuếch đại âm thanh nên mèo có thể phát hiện vị trí của tiếng ồn. Mèo có thể phát hiện siêu âm do con mồi là loài gặm nhấm tạo nên. Nghiên cứu gần đây cũng đã chỉ ra rằng, mèo có khả năng nhận thức không gian xã hội để xác định vị trí của chủ nhân dựa trên việc nghe thấy giọng nói của chủ nhân.
Bên cạnh đó, mèo có khứu giác nhạy bén, một phần là do cơ quan này của chúng phát triển tốt, có bề mặt niêm mạc lớn (rộng khoảng 5,8 cm2, gấp đôi so với của con người). Vì thế, chúng có thể cảm nhận được một số mùi hương mà con người không thể cảm nhận. Mèo nhạy cảm với các hợp chất pheromone như 3-mercapto-3-methylbutan-1-ol mà chúng sử dụng để giao tiếp thông qua việc phun nước tiểu và đánh dấu bằng các tuyến mùi. Nhiều con mèo cũng phản ứng mạnh mẽ với thực vật có chứa nepetalactone, đặc biệt là cỏ bạc hà, vì chúng có thể phát hiện ra chất đó với ít hơn một phần tỷ. Khoảng 70-80% loài mèo bị ảnh hưởng bởi nepetalactone.
Mèo có tương đối ít nụ vị giác so với con người (trên dưới 470 so với hơn 9.000 trên lưỡi người). Mèo nhà và mèo hoang có chung một đột biến gen thụ thể vị giác, khiến vị giác ngọt của chúng không liên kết với các phân tử đường nên không có khả năng cảm nhận vị ngọt. Thay vào đó, vị giác của chúng phản ứng tốt với axit, axit amin như protein và vị đắng. Mèo cũng có sở thích về nhiệt độ riêng biệt đối với thức ăn. Chúng thích thức ăn có nhiệt độ khoảng 38°C, tương tự như nhiệt độ của thịt tươi và thường từ chối thức ăn được làm lạnh hoặc để trong tủ lạnh (điều này báo hiệu cho mèo rằng, "con mồi" đã chết từ lâu và do đó có thể là chất độc hoặc đang phân hủy).
Để hỗ trợ điều hướng và cảm giác, mèo có hàng tá râu có thể di chuyển trên cơ thể, đặc biệt là trên khuôn mặt của chúng. Chúng cung cấp thông tin về độ rộng của các khoảng trống và vị trí của các vật thể trong bóng tối bằng cách chạm trực tiếp vào các vật thể và cảm nhận các luồng không khí; chúng cũng kích hoạt phản xạ chớp mắt để bảo vệ mắt.
Mèo hoang hoạt động cả ngày lẫn đêm, mặc dù chúng có xu hướng hoạt động nhiều hơn một chút vào ban đêm. Thời gian hoạt động của mèo khá linh hoạt và đa dạng, có nghĩa là mèo nhà có thể hoạt động tích cực hơn vào buổi sáng và tối, như một phản ứng để được tương tác nhiều hơn với con người. Mèo bảo tồn năng lượng bằng cách ngủ nhiều hơn hầu hết các loài động vật, đặc biệt là khi chúng trưởng thành. Thời lượng giấc ngủ hàng ngày của mèo khác nhau, thường là 12-16 giờ, trung bình là 13-14 giờ. Một số con mèo có thể ngủ tới 20 giờ. Thuật ngữ "mèo ngủ trưa" để chỉ một giấc ngủ ngắn đề cập đến xu hướng ngủ (rất nhẹ) của mèo trong một khoảng thời gian ngắn."
(Đôi nét về loài mèo, Võ Văn Sự, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 27/12/2022)
Đâu là nội dung đúng khi nói về khứu giác của loài mèo?
Khứu giác của mèo có bề mặt niêm mạc rộng gấp 3 lần so với con người.
Mèo nhạy cảm với các hợp chất pheromone như 3-mercapto-3-methylbutan-1-ol.
Mèo có thể phát hiện được chủ nhân dựa vào việc nghe thấy giọng nói của chủ nhân.
Khoảng 70-80% loài mèo không bị ảnh hưởng bởi nepetalactone.
Đoạn văn nêu mèo nhạy cảm với pheromone như .
B đúng vì khớp trực tiếp với thông tin văn bản. A sai vì niêm mạc chỉ gấp đôi; C thuộc thính giác; D ngược văn bản: – mèo bị ảnh hưởng bởi nepetalactone.
"Bằng chứng sớm nhất được biết đến về sự xuất hiện của mèo nhà ở Hy Lạp có từ khoảng năm 1200 trước Công nguyên. Các thương nhân Hy Lạp, Phoenicia, Carthage và Etruscan đã mang mèo nhà đến miền nam châu Âu. Vào cuối thời kỳ Đế quốc Tây La Mã (thế kỷ thứ V), dòng mèo nhà Ai Cập đã đến một cảng biển Baltic ở miền bắc nước Đức.
Trong quá trình thuần hóa, mèo không trải qua nhiều thay đổi nên vẫn có khả năng sống sót khi trở lại môi trường hoang dã. Một số hành vi và đặc điểm tự nhiên của mèo rừng có thể đã được thích nghi trước với chúng để thuần hóa làm vật nuôi. Những đặc điểm này bao gồm kích thước nhỏ, bản chất xã hội, ngôn ngữ cơ thể rõ ràng, thích vui chơi và trí thông minh tương đối cao. Mèo nhà thường giao phối với mèo hoang. Việc lai tạo giữa các loài mèo trong nước và các loài mèo khác cũng có thể xảy ra, tạo thành các giống lai như mèo Kellas ở Scotland. [...]
Mèo có tầm nhìn ban đêm tuyệt vời, chúng có thể nhìn thấy ở mức độ ánh sáng bằng 1/6 mức độ ánh sáng cần thiết cho tầm nhìn của con người. Điều này một phần là do mắt mèo có màng trong suốt, phản xạ bất kỳ ánh sáng nào đi qua võng mạc trở lại mắt, do đó làm tăng độ nhạy cảm của mắt với ánh sáng mờ. Đồng tử lớn là sự thích nghi với ánh sáng mờ. Mèo nhà có đồng tử dạng khe (ti hí), cho phép nó tập trung ánh sáng chói mà không bị hội chứng “quang sai màu” (hiện tượng thấu kính không hội tụ được tất cả các màu vào cùng một điểm). Khi ánh sáng yếu, đồng tử của mèo mở rộng để che phần lớn bề mặt lộ ra của mắt.
Thính giác của mèo nhà nhạy bén nhất trong dải tần từ 500 Hz đến 32 kHz. Chúng có thể phát hiện dải tần số cực rộng từ 55 Hz đến 79 kHz. Mèo có thể nghe được khoảng 10,5 quãng 8, trong khi con người và chó có thể nghe được khoảng 9 quãng 8. Độ nhạy thính giác của nó được tăng cường nhờ tai ngoài lớn và có thể di động được. Loa tai giúp khuếch đại âm thanh nên mèo có thể phát hiện vị trí của tiếng ồn. Mèo có thể phát hiện siêu âm do con mồi là loài gặm nhấm tạo nên. Nghiên cứu gần đây cũng đã chỉ ra rằng, mèo có khả năng nhận thức không gian xã hội để xác định vị trí của chủ nhân dựa trên việc nghe thấy giọng nói của chủ nhân.
Bên cạnh đó, mèo có khứu giác nhạy bén, một phần là do cơ quan này của chúng phát triển tốt, có bề mặt niêm mạc lớn (rộng khoảng 5,8 cm2, gấp đôi so với của con người). Vì thế, chúng có thể cảm nhận được một số mùi hương mà con người không thể cảm nhận. Mèo nhạy cảm với các hợp chất pheromone như 3-mercapto-3-methylbutan-1-ol mà chúng sử dụng để giao tiếp thông qua việc phun nước tiểu và đánh dấu bằng các tuyến mùi. Nhiều con mèo cũng phản ứng mạnh mẽ với thực vật có chứa nepetalactone, đặc biệt là cỏ bạc hà, vì chúng có thể phát hiện ra chất đó với ít hơn một phần tỷ. Khoảng 70-80% loài mèo bị ảnh hưởng bởi nepetalactone.
Mèo có tương đối ít nụ vị giác so với con người (trên dưới 470 so với hơn 9.000 trên lưỡi người). Mèo nhà và mèo hoang có chung một đột biến gen thụ thể vị giác, khiến vị giác ngọt của chúng không liên kết với các phân tử đường nên không có khả năng cảm nhận vị ngọt. Thay vào đó, vị giác của chúng phản ứng tốt với axit, axit amin như protein và vị đắng. Mèo cũng có sở thích về nhiệt độ riêng biệt đối với thức ăn. Chúng thích thức ăn có nhiệt độ khoảng 38°C, tương tự như nhiệt độ của thịt tươi và thường từ chối thức ăn được làm lạnh hoặc để trong tủ lạnh (điều này báo hiệu cho mèo rằng, "con mồi" đã chết từ lâu và do đó có thể là chất độc hoặc đang phân hủy).
Để hỗ trợ điều hướng và cảm giác, mèo có hàng tá râu có thể di chuyển trên cơ thể, đặc biệt là trên khuôn mặt của chúng. Chúng cung cấp thông tin về độ rộng của các khoảng trống và vị trí của các vật thể trong bóng tối bằng cách chạm trực tiếp vào các vật thể và cảm nhận các luồng không khí; chúng cũng kích hoạt phản xạ chớp mắt để bảo vệ mắt.
Mèo hoang hoạt động cả ngày lẫn đêm, mặc dù chúng có xu hướng hoạt động nhiều hơn một chút vào ban đêm. Thời gian hoạt động của mèo khá linh hoạt và đa dạng, có nghĩa là mèo nhà có thể hoạt động tích cực hơn vào buổi sáng và tối, như một phản ứng để được tương tác nhiều hơn với con người. Mèo bảo tồn năng lượng bằng cách ngủ nhiều hơn hầu hết các loài động vật, đặc biệt là khi chúng trưởng thành. Thời lượng giấc ngủ hàng ngày của mèo khác nhau, thường là 12-16 giờ, trung bình là 13-14 giờ. Một số con mèo có thể ngủ tới 20 giờ. Thuật ngữ "mèo ngủ trưa" để chỉ một giấc ngủ ngắn đề cập đến xu hướng ngủ (rất nhẹ) của mèo trong một khoảng thời gian ngắn."
(Đôi nét về loài mèo, Võ Văn Sự, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 27/12/2022)
Theo bài đọc, nhờ đâu mà thị giác của mèo phát triển mạnh?
Mắt mèo vô cùng nhạy cảm với ánh sáng mờ nhờ vào màng trong suốt, đặc điểm này giúp mắt chúng phản xạ với bất kỳ loại ánh sáng nào đi qua võng mạc trở lại mắt.
Đồng tử nhỏ giúp mèo dễ thích nghi với ánh sáng mờ, nhờ đó mà thị giác phát triển mạnh đặc biệt vào ban đêm.
Đồng tử được cấu tạo đặc biệt cho phép mắt mèo dẹt ngang thành một đường thẳng dài trong ánh sáng yếu và mở rộng hoàn toàn trong ánh sáng mờ để tiếp nhận tối đa ánh sáng tới mắt.
Màng nháy mắt của mèo có chức năng làm ướt mắt và tiếp nhận các ánh sáng đi qua, kể cả những loại ánh sáng yếu nhất.
Đoạn văn giải thích khả năng nhìn đêm của mèo bằng đặc điểm cấu tạo mắt.
Màng trong suốt phản xạ ánh sáng đi qua võng mạc trở lại mắt, làm tăng độ nhạy với ánh sáng mờ.
Chọn A vì diễn đạt đúng cơ chế màng trong suốt phản xạ ánh sáng. B sai vì đồng tử lớn, không phải nhỏ; C sai vì đồng tử thu hẹp thành khe dọc; D sai vì màng nháy mắt không có chức năng tăng độ nhạy ánh sáng.
"Bằng chứng sớm nhất được biết đến về sự xuất hiện của mèo nhà ở Hy Lạp có từ khoảng năm 1200 trước Công nguyên. Các thương nhân Hy Lạp, Phoenicia, Carthage và Etruscan đã mang mèo nhà đến miền nam châu Âu. Vào cuối thời kỳ Đế quốc Tây La Mã (thế kỷ thứ V), dòng mèo nhà Ai Cập đã đến một cảng biển Baltic ở miền bắc nước Đức.
Trong quá trình thuần hóa, mèo không trải qua nhiều thay đổi nên vẫn có khả năng sống sót khi trở lại môi trường hoang dã. Một số hành vi và đặc điểm tự nhiên của mèo rừng có thể đã được thích nghi trước với chúng để thuần hóa làm vật nuôi. Những đặc điểm này bao gồm kích thước nhỏ, bản chất xã hội, ngôn ngữ cơ thể rõ ràng, thích vui chơi và trí thông minh tương đối cao. Mèo nhà thường giao phối với mèo hoang. Việc lai tạo giữa các loài mèo trong nước và các loài mèo khác cũng có thể xảy ra, tạo thành các giống lai như mèo Kellas ở Scotland. [...]
Mèo có tầm nhìn ban đêm tuyệt vời, chúng có thể nhìn thấy ở mức độ ánh sáng bằng 1/6 mức độ ánh sáng cần thiết cho tầm nhìn của con người. Điều này một phần là do mắt mèo có màng trong suốt, phản xạ bất kỳ ánh sáng nào đi qua võng mạc trở lại mắt, do đó làm tăng độ nhạy cảm của mắt với ánh sáng mờ. Đồng tử lớn là sự thích nghi với ánh sáng mờ. Mèo nhà có đồng tử dạng khe (ti hí), cho phép nó tập trung ánh sáng chói mà không bị hội chứng “quang sai màu” (hiện tượng thấu kính không hội tụ được tất cả các màu vào cùng một điểm). Khi ánh sáng yếu, đồng tử của mèo mở rộng để che phần lớn bề mặt lộ ra của mắt.
Thính giác của mèo nhà nhạy bén nhất trong dải tần từ 500 Hz đến 32 kHz. Chúng có thể phát hiện dải tần số cực rộng từ 55 Hz đến 79 kHz. Mèo có thể nghe được khoảng 10,5 quãng 8, trong khi con người và chó có thể nghe được khoảng 9 quãng 8. Độ nhạy thính giác của nó được tăng cường nhờ tai ngoài lớn và có thể di động được. Loa tai giúp khuếch đại âm thanh nên mèo có thể phát hiện vị trí của tiếng ồn. Mèo có thể phát hiện siêu âm do con mồi là loài gặm nhấm tạo nên. Nghiên cứu gần đây cũng đã chỉ ra rằng, mèo có khả năng nhận thức không gian xã hội để xác định vị trí của chủ nhân dựa trên việc nghe thấy giọng nói của chủ nhân.
Bên cạnh đó, mèo có khứu giác nhạy bén, một phần là do cơ quan này của chúng phát triển tốt, có bề mặt niêm mạc lớn (rộng khoảng 5,8 cm2, gấp đôi so với của con người). Vì thế, chúng có thể cảm nhận được một số mùi hương mà con người không thể cảm nhận. Mèo nhạy cảm với các hợp chất pheromone như 3-mercapto-3-methylbutan-1-ol mà chúng sử dụng để giao tiếp thông qua việc phun nước tiểu và đánh dấu bằng các tuyến mùi. Nhiều con mèo cũng phản ứng mạnh mẽ với thực vật có chứa nepetalactone, đặc biệt là cỏ bạc hà, vì chúng có thể phát hiện ra chất đó với ít hơn một phần tỷ. Khoảng 70-80% loài mèo bị ảnh hưởng bởi nepetalactone.
Mèo có tương đối ít nụ vị giác so với con người (trên dưới 470 so với hơn 9.000 trên lưỡi người). Mèo nhà và mèo hoang có chung một đột biến gen thụ thể vị giác, khiến vị giác ngọt của chúng không liên kết với các phân tử đường nên không có khả năng cảm nhận vị ngọt. Thay vào đó, vị giác của chúng phản ứng tốt với axit, axit amin như protein và vị đắng. Mèo cũng có sở thích về nhiệt độ riêng biệt đối với thức ăn. Chúng thích thức ăn có nhiệt độ khoảng 38°C, tương tự như nhiệt độ của thịt tươi và thường từ chối thức ăn được làm lạnh hoặc để trong tủ lạnh (điều này báo hiệu cho mèo rằng, "con mồi" đã chết từ lâu và do đó có thể là chất độc hoặc đang phân hủy).
Để hỗ trợ điều hướng và cảm giác, mèo có hàng tá râu có thể di chuyển trên cơ thể, đặc biệt là trên khuôn mặt của chúng. Chúng cung cấp thông tin về độ rộng của các khoảng trống và vị trí của các vật thể trong bóng tối bằng cách chạm trực tiếp vào các vật thể và cảm nhận các luồng không khí; chúng cũng kích hoạt phản xạ chớp mắt để bảo vệ mắt.
Mèo hoang hoạt động cả ngày lẫn đêm, mặc dù chúng có xu hướng hoạt động nhiều hơn một chút vào ban đêm. Thời gian hoạt động của mèo khá linh hoạt và đa dạng, có nghĩa là mèo nhà có thể hoạt động tích cực hơn vào buổi sáng và tối, như một phản ứng để được tương tác nhiều hơn với con người. Mèo bảo tồn năng lượng bằng cách ngủ nhiều hơn hầu hết các loài động vật, đặc biệt là khi chúng trưởng thành. Thời lượng giấc ngủ hàng ngày của mèo khác nhau, thường là 12-16 giờ, trung bình là 13-14 giờ. Một số con mèo có thể ngủ tới 20 giờ. Thuật ngữ "mèo ngủ trưa" để chỉ một giấc ngủ ngắn đề cập đến xu hướng ngủ (rất nhẹ) của mèo trong một khoảng thời gian ngắn."
(Đôi nét về loài mèo, Võ Văn Sự, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 27/12/2022)
Thông tin nào KHÔNG được suy ra từ bài đọc trên?
Mèo là loài vật có thời gian ngủ nhiều hơn các loài động vật khác
Râu của mèo có tác dụng xác định vị trí và bảo vệ mắt
Mèo được nuôi và thuần hoá ở nhiều quốc gia
Các giác quan của mèo như thính giác, thị giác, vị giác phát triển rất mạnh
Văn bản nêu râu mèo giúp định hướng, nhận biết vật thể và kích hoạt phản xạ bảo vệ mắt.
Văn bản cũng đề cập sự phân bố, thuần hóa và thời gian hoạt động của mèo.
Thị giác và thính giác của mèo rất nhạy bén; ngược lại, mèo chỉ có khoảng nụ vị giác, so với hơn ở người.
Mèo không cảm nhận được vị ngọt, nên không thể khẳng định toàn bộ các giác quan đều phát triển rất mạnh.
Chọn D vì gộp cả thị giác, thính giác và vị giác nhưng đánh giá sai vị giác; A, B, C sai vì lần lượt đã được bài đọc đề cập về thời gian ngủ, tác dụng của râu và sự du nhập, thuần hóa mèo ở nhiều nơi.
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đáp án | C | A | D | C | A | C | B | B | A | D |
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 50 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.
Đăng nhập để làm bài