Đáp án & lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 6 - Sinh học

Đánh giá Tư duy (TSA)Môn Tư duy khoa học - Sinh họcNăm 202713 câuChuẩn GDPT mới

Phần I

Câu 1

[Dữ liệu 1]

Hẹp động mạch

Hẹp động mạch là tình trạng co thắt động mạch, thường do sự tích tụ mảng xơ vữa trên thành trong của động mạch, theo thời gian, lòng mạch bị thu hẹp lại. Sự hẹp dần tiến triển từ mức nhẹ, rồi trở nặng và đôi khi dẫn đến tắc nghẽn hoàn toàn. Khi động mạch vành bị hẹp trên 50%, được gọi là bệnh hẹp mạch vành có ý nghĩa. Tình trạng bệnh lý nghiêm trọng có thể xảy ra, tùy thuộc vào động mạch bị ảnh hưởng. Hẹp động mạch cảnh cung cấp máu cho não là nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ, trong khi hẹp động mạch thận có thể dẫn đến suy thận. Hẹp động mạch phổi là kết quả của dị tật bẩm sinh và có thể dẫn đến việc cung cấp không đủ oxy cho cơ thể. Vì tim phải làm việc nhiều hơn để đưa máu qua động mạch bị co thắt nên tình trạng hẹp động mạch có thể góp phần gây ra huyết áp cao. Khi trả lời các câu hỏi dưới đây, hãy giả sử dòng chảy ổn định (điều này chỉ đúng ở động mạch trong khoảng thời gian ngắn, có thể coi máu là chất lỏng không nén được và bên trong máu không có ma sát. Có thể áp dụng phương trình liên tục S1V1 = S2V2 trong đó V1, V2 là tốc độ máu khi qua vị trí tiết diện S1, S2 trên mạch máu. Chúng ta có thể áp dụng phương trình trên cho các tính toán.

Hình minh họa

Tại một đoạn động mạch bị hẹp do mảng xơ vữa, diện tích tiết diện ngang chỉ còn bằng 1/3 so với đoạn mạch bình thường liền kề. Khi đó, tốc độ dòng máu tại chỗ hẹp sẽ:

A
Giảm 3 lần so với tốc độ ở đoạn mạch bình thường
B
Tăng 3 lần so với tốc độ ở đoạn mạch bình thường
C
Giảm 9 lần so với tốc độ ở đoạn mạch bình thường
D
Tăng 9 lần so với tốc độ ở đoạn mạch bình thường

Lời giải

Chọn B

Áp dụng phương trình liên tục S₁V₁ = S₂V₂ cho dòng máu. Khi S₂ = S₁/3, ta có V₂ = 3V₁ — tốc độ dòng máu tại chỗ hẹp tăng gấp 3 lần để đảm bảo lưu lượng máu không đổi qua các đoạn mạch nối tiếp

Câu 2

[Dữ liệu 1]

Hẹp động mạch

Hẹp động mạch là tình trạng co thắt động mạch, thường do sự tích tụ mảng xơ vữa trên thành trong của động mạch, theo thời gian, lòng mạch bị thu hẹp lại. Sự hẹp dần tiến triển từ mức nhẹ, rồi trở nặng và đôi khi dẫn đến tắc nghẽn hoàn toàn. Khi động mạch vành bị hẹp trên 50%, được gọi là bệnh hẹp mạch vành có ý nghĩa. Tình trạng bệnh lý nghiêm trọng có thể xảy ra, tùy thuộc vào động mạch bị ảnh hưởng. Hẹp động mạch cảnh cung cấp máu cho não là nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ, trong khi hẹp động mạch thận có thể dẫn đến suy thận. Hẹp động mạch phổi là kết quả của dị tật bẩm sinh và có thể dẫn đến việc cung cấp không đủ oxy cho cơ thể. Vì tim phải làm việc nhiều hơn để đưa máu qua động mạch bị co thắt nên tình trạng hẹp động mạch có thể góp phần gây ra huyết áp cao. Khi trả lời các câu hỏi dưới đây, hãy giả sử dòng chảy ổn định (điều này chỉ đúng ở động mạch trong khoảng thời gian ngắn, có thể coi máu là chất lỏng không nén được và bên trong máu không có ma sát. Có thể áp dụng phương trình liên tục S1V1 = S2V2 trong đó V1, V2 là tốc độ máu khi qua vị trí tiết diện S1, S2 trên mạch máu. Chúng ta có thể áp dụng phương trình trên cho các tính toán.

Hình minh họa

Kéo các cụm từ sau vào vị trí thích hợp:

phình — thấp — cao hơn — cao hơn — xẹp — thấp

Tại vị trí động mạch bị thu hẹp, tốc độ dòng máu trở nên [1]  so với các đoạn mạch có tiết diện rộng hơn. Vấn đề y tế dễ xảy ra là thành động mạch tại chỗ hẹp có thể bị [2] do áp suất máu [3] tại vị trí này.

A

cao hơn

B

xẹp

C

thấp

Đáp án đúng: cao hơn — xẹp — thấp

Lời giải

Theo phương trình liên tục, tiết diện tại chỗ hẹp nhỏ hơn nên tốc độ dòng máu tại đó cao hơn so với đoạn mạch bình thường. Theo nguyên lý Bernoulli, khi tốc độ dòng chảy tăng thì áp suất tĩnh của máu giảm — tức áp suất máu tại chỗ hẹp trở nên thấp hơn. Vì áp suất bên trong lòng mạch tại đây thấp hơn so với áp lực mô xung quanh bên ngoài, thành mạch (vốn đã suy yếu do mảng xơ vữa) có nguy cơ bị ép xẹp lại, gây cản trở thêm dòng máu lưu thông.

Câu 3

[Dữ liệu 1]

Hẹp động mạch

Hẹp động mạch là tình trạng co thắt động mạch, thường do sự tích tụ mảng xơ vữa trên thành trong của động mạch, theo thời gian, lòng mạch bị thu hẹp lại. Sự hẹp dần tiến triển từ mức nhẹ, rồi trở nặng và đôi khi dẫn đến tắc nghẽn hoàn toàn. Khi động mạch vành bị hẹp trên 50%, được gọi là bệnh hẹp mạch vành có ý nghĩa. Tình trạng bệnh lý nghiêm trọng có thể xảy ra, tùy thuộc vào động mạch bị ảnh hưởng. Hẹp động mạch cảnh cung cấp máu cho não là nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ, trong khi hẹp động mạch thận có thể dẫn đến suy thận. Hẹp động mạch phổi là kết quả của dị tật bẩm sinh và có thể dẫn đến việc cung cấp không đủ oxy cho cơ thể. Vì tim phải làm việc nhiều hơn để đưa máu qua động mạch bị co thắt nên tình trạng hẹp động mạch có thể góp phần gây ra huyết áp cao. Khi trả lời các câu hỏi dưới đây, hãy giả sử dòng chảy ổn định (điều này chỉ đúng ở động mạch trong khoảng thời gian ngắn, có thể coi máu là chất lỏng không nén được và bên trong máu không có ma sát. Có thể áp dụng phương trình liên tục S1V1 = S2V2 trong đó V1, V2 là tốc độ máu khi qua vị trí tiết diện S1, S2 trên mạch máu. Chúng ta có thể áp dụng phương trình trên cho các tính toán.

Hình minh họa

Máu chảy trong một động mạch có bán kính 0,40 cm với tốc độ 8,0 cm/s. Khi đi vào đoạn mạch bị hẹp do xơ vữa, bán kính giảm còn 0,25 cm. Tính tốc độ dòng máu tại đoạn mạch bị hẹp.

A
5,0 cm/s
B
12,8 cm/s
C
20,5 cm/s
D
3,1 cm/s

Lời giải

Chọn C

V₂ = V₁×(r₁/r₂)² = 8,0×(0,40/0,25)² = 8,0×2,56 ≈ 20,5 cm/s.

Câu 4

[Dữ liệu 1]

Hẹp động mạch

Hẹp động mạch là tình trạng co thắt động mạch, thường do sự tích tụ mảng xơ vữa trên thành trong của động mạch, theo thời gian, lòng mạch bị thu hẹp lại. Sự hẹp dần tiến triển từ mức nhẹ, rồi trở nặng và đôi khi dẫn đến tắc nghẽn hoàn toàn. Khi động mạch vành bị hẹp trên 50%, được gọi là bệnh hẹp mạch vành có ý nghĩa. Tình trạng bệnh lý nghiêm trọng có thể xảy ra, tùy thuộc vào động mạch bị ảnh hưởng. Hẹp động mạch cảnh cung cấp máu cho não là nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ, trong khi hẹp động mạch thận có thể dẫn đến suy thận. Hẹp động mạch phổi là kết quả của dị tật bẩm sinh và có thể dẫn đến việc cung cấp không đủ oxy cho cơ thể. Vì tim phải làm việc nhiều hơn để đưa máu qua động mạch bị co thắt nên tình trạng hẹp động mạch có thể góp phần gây ra huyết áp cao. Khi trả lời các câu hỏi dưới đây, hãy giả sử dòng chảy ổn định (điều này chỉ đúng ở động mạch trong khoảng thời gian ngắn, có thể coi máu là chất lỏng không nén được và bên trong máu không có ma sát. Có thể áp dụng phương trình liên tục S1V1 = S2V2 trong đó V1, V2 là tốc độ máu khi qua vị trí tiết diện S1, S2 trên mạch máu. Chúng ta có thể áp dụng phương trình trên cho các tính toán.

Hình minh họa

Máu chảy trong động mạch chủ có đường kính 1,2 cm với tốc độ 25,0 cm/s. Tính lưu lượng thể tích máu (Iᵥ = S.V). Lấy π = 3,14.

A
28,3 cm³/s
B
94,2 cm³/s
C
14,1 cm³/s
D
56,5 cm³/s

Lời giải

Chọn A

r = 0,6 cm; S = πr² ≈ 1,1304 cm²; Iᵥ = S×V ≈ 1,1304×25,0 ≈ 28,3 cm³/s.

Câu 5

[Dữ liệu 1]

Hẹp động mạch

Hẹp động mạch là tình trạng co thắt động mạch, thường do sự tích tụ mảng xơ vữa trên thành trong của động mạch, theo thời gian, lòng mạch bị thu hẹp lại. Sự hẹp dần tiến triển từ mức nhẹ, rồi trở nặng và đôi khi dẫn đến tắc nghẽn hoàn toàn. Khi động mạch vành bị hẹp trên 50%, được gọi là bệnh hẹp mạch vành có ý nghĩa. Tình trạng bệnh lý nghiêm trọng có thể xảy ra, tùy thuộc vào động mạch bị ảnh hưởng. Hẹp động mạch cảnh cung cấp máu cho não là nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ, trong khi hẹp động mạch thận có thể dẫn đến suy thận. Hẹp động mạch phổi là kết quả của dị tật bẩm sinh và có thể dẫn đến việc cung cấp không đủ oxy cho cơ thể. Vì tim phải làm việc nhiều hơn để đưa máu qua động mạch bị co thắt nên tình trạng hẹp động mạch có thể góp phần gây ra huyết áp cao. Khi trả lời các câu hỏi dưới đây, hãy giả sử dòng chảy ổn định (điều này chỉ đúng ở động mạch trong khoảng thời gian ngắn, có thể coi máu là chất lỏng không nén được và bên trong máu không có ma sát. Có thể áp dụng phương trình liên tục S1V1 = S2V2 trong đó V1, V2 là tốc độ máu khi qua vị trí tiết diện S1, S2 trên mạch máu. Chúng ta có thể áp dụng phương trình trên cho các tính toán.

Hình minh họa

Mỗi ngày (24 giờ), tim người bơm trung bình khoảng 8000 lít máu. Giả sử công của tim tương đương công nâng toàn bộ lượng máu đó lên độ cao trung bình 1,65 m. Cho khối lượng riêng máu 1,05×10³ kg/m³, g = 9,8 m/s². Tính công suất bơm trung bình của tim (làm tròn 2 chữ số thập phân).

Đáp án đúng: 1,57

Lời giải

Đáp án: 1,57

V = 8000 lít = 8 m³ → m = ρV = 1050×8 = 8400 kg

A = m·g·h = 8400×9,8×1,65 ≈ 135.828 J

t = 24h = 86.400 s

P = A/t ≈ 1,57 W

Câu 6

[Dữ liệu 1]

Hẹp động mạch

Hẹp động mạch là tình trạng co thắt động mạch, thường do sự tích tụ mảng xơ vữa trên thành trong của động mạch, theo thời gian, lòng mạch bị thu hẹp lại. Sự hẹp dần tiến triển từ mức nhẹ, rồi trở nặng và đôi khi dẫn đến tắc nghẽn hoàn toàn. Khi động mạch vành bị hẹp trên 50%, được gọi là bệnh hẹp mạch vành có ý nghĩa. Tình trạng bệnh lý nghiêm trọng có thể xảy ra, tùy thuộc vào động mạch bị ảnh hưởng. Hẹp động mạch cảnh cung cấp máu cho não là nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ, trong khi hẹp động mạch thận có thể dẫn đến suy thận. Hẹp động mạch phổi là kết quả của dị tật bẩm sinh và có thể dẫn đến việc cung cấp không đủ oxy cho cơ thể. Vì tim phải làm việc nhiều hơn để đưa máu qua động mạch bị co thắt nên tình trạng hẹp động mạch có thể góp phần gây ra huyết áp cao. Khi trả lời các câu hỏi dưới đây, hãy giả sử dòng chảy ổn định (điều này chỉ đúng ở động mạch trong khoảng thời gian ngắn, có thể coi máu là chất lỏng không nén được và bên trong máu không có ma sát. Có thể áp dụng phương trình liên tục S1V1 = S2V2 trong đó V1, V2 là tốc độ máu khi qua vị trí tiết diện S1, S2 trên mạch máu. Chúng ta có thể áp dụng phương trình trên cho các tính toán.

Hình minh họa

Một bệnh nhân được chẩn đoán hẹp động mạch vành với tiết diện lòng mạch tại chỗ hẹp chỉ còn bằng 40% so với đoạn mạch bình thường. Biết tốc độ dòng máu ở đoạn mạch bình thường là 12 cm/s. Hỏi tốc độ dòng máu tại chỗ hẹp là bao nhiêu, và theo nguyên lý Bernoulli, áp suất máu tại đó thay đổi như thế nào so với đoạn mạch bình thường?

A
4,8 cm/s; áp suất tăng
B
4,8 cm/s; áp suất giảm
C
30 cm/s; áp suất giảm
D
30 cm/s; áp suất tăng

Lời giải

Chọn C

Áp dụng phương trình liên tục S₁V₁ = S₂V₂: nếu S₂ = 0,4×S₁ thì V₂ = V₁/0,4 = 12/0,4 = 30 cm/s.

Theo nguyên lý Bernoulli, khi tốc độ dòng chảy tăng lên tại chỗ hẹp thì áp suất tĩnh của máu tại vị trí đó sẽ giảm xuống (do năng lượng dòng chảy chuyển từ dạng áp suất sang dạng động năng). Đây cũng là cơ chế lý giải vì sao thành mạch tại chỗ hẹp có nguy cơ bị hút xẹp khi áp suất bên trong lòng mạch giảm thấp hơn so với mô xung quanh.

Câu 7

[Dữ liệu 7]

Hai nhà nghiên cứu, P. M. Meire và A. Ervynck, đã phát triển giả thuyết tối đa hóa calo để áp dụng cho chim mò sò ăn trai. Meire và Ervynck đã tính toán lợi nhuận của các con mồi có kích thước khác nhau, dựa trên lượng calo có trong trai, thời gian và năng lượng cần thiết để mở chúng. Họ phát hiện ra rằng mặc dù trai có chiều dài trên 50 mm cần nhiều thời gian hơn để mở nhưng chúng cung cấp nhiều calo trên mỗi phút mở hơn so với trai có kích thước bé. Do đó, giả tuyết ban đầu dự đoán rằng chim mò sò nên tập trung chủ yếu vào những con trai lớn nhất. Thực tế quan sát thấy sự khác biệt giữa phân bố lượng trai hiện hữu và lượng trai bị bắt được, kết quả mô tả trong đồ thị sau

Hình minh họa

Hình minh họa

Các nhà nghiên cứu đã đề xuất hai giả thuyết để giải thích tại sao dữ liệu quan sát của họ không phù hợp với mô hình.

Giả thuyết thứ nhất là lợi nhuận thu được từ những con trai lớn thấp hơn mức tối đa được tính toán vì một số con không thể mở được, làm giảm lợi nhuận trung bình từ việc xử lý những con mồi này. Trong các tính toán ban đầu về lợi nhuận của con mồi, các nhà nghiên cứu chỉ xem xét những con trai mà chim mò sò thực sự mở được. Hóa ra, chim mò sò đôi khi chọn một số con trai lớn mà chúng không có khả năng mở, mặc dù đã cố gắng hết sức. Khi yếu tố này được tính đến, một mô hình tối ưu mới đưa ra dự đoán rằng chim mò sò nên tập trung vào trai có kích thước khoảng 50 mm

Giả thuyết thứ hai cho rằng nhiều con trai lớn thậm chí không đáng tấn công vì chúng bị phủ bởi hà, khiến chúng không thể mở được. Điều này được nhận thấy bởi quan sát những con chim mò sò không bao giờ động đến những con trai bị phủ hà bất chấp chúng to và giàu năng lượng đến đâu. Trai càng lớn, khả năng nó có một lớp vỏ hà không thể xuyên thủng càng cao. Theo mô hình toán học tính đến cả thời gian mở con mồi, thời gian lãng phí trong việc cố gắng nhưng không mở được con trai và phạm vi kích thước thực tế của những con trai có sẵn, chim nên tập trung vào trai có kích thước 30 - 45 mm.

Dustin R. Rubenstein, John Alcock (2018), Animal Behavior 11th Edition, p210

Quan sát đồ thị A (phân bố trai hiện hữu trong tự nhiên), khoảng kích thước nào có số lượng trai xuất hiện nhiều nhất?

A
Nhỏ hơn 10 mm
B
Từ 20 – 30 mm
C
Từ 40 – 50 mm
D
Lớn hơn 50 mm

Lời giải

Chọn A

Trên đồ thị A, cột cao nhất (tần suất khoảng 16%) nằm ở khoảng kích thước ngay trước mốc 10 mm, cho thấy trai có kích thước dưới 10 mm chiếm tỉ lệ cao nhất trong quần thể tự nhiên.

Câu 8

[Dữ liệu 7]

Hai nhà nghiên cứu, P. M. Meire và A. Ervynck, đã phát triển giả thuyết tối đa hóa calo để áp dụng cho chim mò sò ăn trai. Meire và Ervynck đã tính toán lợi nhuận của các con mồi có kích thước khác nhau, dựa trên lượng calo có trong trai, thời gian và năng lượng cần thiết để mở chúng. Họ phát hiện ra rằng mặc dù trai có chiều dài trên 50 mm cần nhiều thời gian hơn để mở nhưng chúng cung cấp nhiều calo trên mỗi phút mở hơn so với trai có kích thước bé. Do đó, giả tuyết ban đầu dự đoán rằng chim mò sò nên tập trung chủ yếu vào những con trai lớn nhất. Thực tế quan sát thấy sự khác biệt giữa phân bố lượng trai hiện hữu và lượng trai bị bắt được, kết quả mô tả trong đồ thị sau

Hình minh họa

Hình minh họa

Các nhà nghiên cứu đã đề xuất hai giả thuyết để giải thích tại sao dữ liệu quan sát của họ không phù hợp với mô hình.

Giả thuyết thứ nhất là lợi nhuận thu được từ những con trai lớn thấp hơn mức tối đa được tính toán vì một số con không thể mở được, làm giảm lợi nhuận trung bình từ việc xử lý những con mồi này. Trong các tính toán ban đầu về lợi nhuận của con mồi, các nhà nghiên cứu chỉ xem xét những con trai mà chim mò sò thực sự mở được. Hóa ra, chim mò sò đôi khi chọn một số con trai lớn mà chúng không có khả năng mở, mặc dù đã cố gắng hết sức. Khi yếu tố này được tính đến, một mô hình tối ưu mới đưa ra dự đoán rằng chim mò sò nên tập trung vào trai có kích thước khoảng 50 mm

Giả thuyết thứ hai cho rằng nhiều con trai lớn thậm chí không đáng tấn công vì chúng bị phủ bởi hà, khiến chúng không thể mở được. Điều này được nhận thấy bởi quan sát những con chim mò sò không bao giờ động đến những con trai bị phủ hà bất chấp chúng to và giàu năng lượng đến đâu. Trai càng lớn, khả năng nó có một lớp vỏ hà không thể xuyên thủng càng cao. Theo mô hình toán học tính đến cả thời gian mở con mồi, thời gian lãng phí trong việc cố gắng nhưng không mở được con trai và phạm vi kích thước thực tế của những con trai có sẵn, chim nên tập trung vào trai có kích thước 30 - 45 mm.

Dustin R. Rubenstein, John Alcock (2018), Animal Behavior 11th Edition, p210

Chọn tất cả các phương án đúng.

A
Mô hình tính toán ban đầu của Meire và Ervynck chỉ dựa trên lượng calo mà con trai cung cấp.
B
Giả thuyết thứ nhất không hề đề cập đến khả năng chim không mở được trai lớn.
C
Trong hai giả thuyết, giả thuyết thứ hai (về hà bám) cho kết quả dự đoán khớp với số liệu quan sát thực tế nhất.
D
Giả thuyết thứ nhất dự đoán chim nên tập trung vào những con trai có kích thước trên 50 mm.

Lời giải

Chọn A và C

A đúng vì mô hình ban đầu chỉ dựa trên lượng calo/thời gian mở, chưa tính đến khả năng thất bại khi mở trai hay việc hà bám.

B sai vì giả thuyết thứ nhất chính là giả thuyết có tính đến việc một số trai lớn không mở được, làm giảm lợi nhuận trung bình.

C đúng vì giả thuyết thứ hai dự đoán chim tập trung vào trai 30–45 mm, khớp với đỉnh phân bố quan sát được trên đồ thị B (khoảng 30–40 mm).

D sai vì giả thuyết thứ nhất dự đoán chim tập trung vào trai có kích thước khoảng 50 mm, không phải trên 50 mm.

Câu 9

[Dữ liệu 7]

Hai nhà nghiên cứu, P. M. Meire và A. Ervynck, đã phát triển giả thuyết tối đa hóa calo để áp dụng cho chim mò sò ăn trai. Meire và Ervynck đã tính toán lợi nhuận của các con mồi có kích thước khác nhau, dựa trên lượng calo có trong trai, thời gian và năng lượng cần thiết để mở chúng. Họ phát hiện ra rằng mặc dù trai có chiều dài trên 50 mm cần nhiều thời gian hơn để mở nhưng chúng cung cấp nhiều calo trên mỗi phút mở hơn so với trai có kích thước bé. Do đó, giả tuyết ban đầu dự đoán rằng chim mò sò nên tập trung chủ yếu vào những con trai lớn nhất. Thực tế quan sát thấy sự khác biệt giữa phân bố lượng trai hiện hữu và lượng trai bị bắt được, kết quả mô tả trong đồ thị sau

Hình minh họa

Hình minh họa

Các nhà nghiên cứu đã đề xuất hai giả thuyết để giải thích tại sao dữ liệu quan sát của họ không phù hợp với mô hình.

Giả thuyết thứ nhất là lợi nhuận thu được từ những con trai lớn thấp hơn mức tối đa được tính toán vì một số con không thể mở được, làm giảm lợi nhuận trung bình từ việc xử lý những con mồi này. Trong các tính toán ban đầu về lợi nhuận của con mồi, các nhà nghiên cứu chỉ xem xét những con trai mà chim mò sò thực sự mở được. Hóa ra, chim mò sò đôi khi chọn một số con trai lớn mà chúng không có khả năng mở, mặc dù đã cố gắng hết sức. Khi yếu tố này được tính đến, một mô hình tối ưu mới đưa ra dự đoán rằng chim mò sò nên tập trung vào trai có kích thước khoảng 50 mm

Giả thuyết thứ hai cho rằng nhiều con trai lớn thậm chí không đáng tấn công vì chúng bị phủ bởi hà, khiến chúng không thể mở được. Điều này được nhận thấy bởi quan sát những con chim mò sò không bao giờ động đến những con trai bị phủ hà bất chấp chúng to và giàu năng lượng đến đâu. Trai càng lớn, khả năng nó có một lớp vỏ hà không thể xuyên thủng càng cao. Theo mô hình toán học tính đến cả thời gian mở con mồi, thời gian lãng phí trong việc cố gắng nhưng không mở được con trai và phạm vi kích thước thực tế của những con trai có sẵn, chim nên tập trung vào trai có kích thước 30 - 45 mm.

Dustin R. Rubenstein, John Alcock (2018), Animal Behavior 11th Edition, p210

Dựa vào đồ thị B (phân bố trai bị bắt), kích thước trai nào bị chim mò sò bắt với số lượng nhiều nhất?

A
25 mm
B
35 mm
C
45 mm
D
55 mm

Lời giải

Chọn B

Trên đồ thị B, cột cao nhất (khoảng 21 con) nằm ở khoảng kích thước 30–35 mm, cho thấy trai cỡ khoảng 35 mm là đối tượng bị bắt nhiều nhất.

Câu 10

[Dữ liệu 7]

Hai nhà nghiên cứu, P. M. Meire và A. Ervynck, đã phát triển giả thuyết tối đa hóa calo để áp dụng cho chim mò sò ăn trai. Meire và Ervynck đã tính toán lợi nhuận của các con mồi có kích thước khác nhau, dựa trên lượng calo có trong trai, thời gian và năng lượng cần thiết để mở chúng. Họ phát hiện ra rằng mặc dù trai có chiều dài trên 50 mm cần nhiều thời gian hơn để mở nhưng chúng cung cấp nhiều calo trên mỗi phút mở hơn so với trai có kích thước bé. Do đó, giả tuyết ban đầu dự đoán rằng chim mò sò nên tập trung chủ yếu vào những con trai lớn nhất. Thực tế quan sát thấy sự khác biệt giữa phân bố lượng trai hiện hữu và lượng trai bị bắt được, kết quả mô tả trong đồ thị sau

Hình minh họa

Hình minh họa

Các nhà nghiên cứu đã đề xuất hai giả thuyết để giải thích tại sao dữ liệu quan sát của họ không phù hợp với mô hình.

Giả thuyết thứ nhất là lợi nhuận thu được từ những con trai lớn thấp hơn mức tối đa được tính toán vì một số con không thể mở được, làm giảm lợi nhuận trung bình từ việc xử lý những con mồi này. Trong các tính toán ban đầu về lợi nhuận của con mồi, các nhà nghiên cứu chỉ xem xét những con trai mà chim mò sò thực sự mở được. Hóa ra, chim mò sò đôi khi chọn một số con trai lớn mà chúng không có khả năng mở, mặc dù đã cố gắng hết sức. Khi yếu tố này được tính đến, một mô hình tối ưu mới đưa ra dự đoán rằng chim mò sò nên tập trung vào trai có kích thước khoảng 50 mm

Giả thuyết thứ hai cho rằng nhiều con trai lớn thậm chí không đáng tấn công vì chúng bị phủ bởi hà, khiến chúng không thể mở được. Điều này được nhận thấy bởi quan sát những con chim mò sò không bao giờ động đến những con trai bị phủ hà bất chấp chúng to và giàu năng lượng đến đâu. Trai càng lớn, khả năng nó có một lớp vỏ hà không thể xuyên thủng càng cao. Theo mô hình toán học tính đến cả thời gian mở con mồi, thời gian lãng phí trong việc cố gắng nhưng không mở được con trai và phạm vi kích thước thực tế của những con trai có sẵn, chim nên tập trung vào trai có kích thước 30 - 45 mm.

Dustin R. Rubenstein, John Alcock (2018), Animal Behavior 11th Edition, p210

Kết hợp cả hai giả thuyết và số liệu quan sát thực tế, nhóm kích thước trai nào mang lại lợi ích tối ưu nhất cho chim mò sò khi kiếm ăn?

A
Dưới 30 mm, vì tốn ít thời gian mở nhất.
B
Khoảng 30 – 45 mm, vì cân bằng tốt giữa thời gian mở và năng lượng thu được, đồng thời ít bị hà bám.
C
Trên 50 mm, vì cho lượng calo trên mỗi phút mở cao nhất theo tính toán ban đầu.
D
Bất kỳ kích thước nào miễn không bị bao phủ bởi hà.

Lời giải

Chọn B

Giả thuyết thứ hai (tính đến cả thời gian lãng phí và khả năng bị hà bám ở trai lớn) dự đoán chim nên tập trung vào trai 30–45 mm — khớp với phân bố thực tế quan sát được trên đồ thị B, nơi phần lớn trai bị bắt nằm trong khoảng kích thước này.

Bảng tra cứu nhanh đáp án trọn bộ 10 câu hỏiNhấn để đóng / mở
Câu12345678910
Đáp ánB-CA1,57CAABB

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.

Đăng nhập để làm bài
Đáp án & Lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử TSA năm 2027 - Mã đề 6 - Sinh học môn Tư duy khoa học - Sinh học 2027 (Đánh giá Tư duy (TSA)) - 9Study