[Dữ liệu 6]
HỘI CHỨNG SUY GIẢM MIỄN DỊCH MẮC PHẢI (HIV/AIDS)
HIV là viết tắt của từ Human Immunodeficiency Virus. HIV/AIDS (Hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải ở người, bệnh liệt kháng) là một bệnh gây ra do bị nhiễm virus suy giảm miễn dịch ở người. Giai đoạn đầu của bệnh có triệu chứng giống cúm nhưng sau đó thì không có dấu hiệu gì trong một thời gian dài. Bệnh tiến triển khi hệ miễn dịch bệnh nhân suy giảm, cũng là lúc bệnh nhân dễ mắc các loại nhiễm trùng cơ hội hoặc khối u khác thường. HIV/AIDS không thể chữa khỏi và không có thuốc chủng ngừa. Tuy nhiên điều trị bằng thuốc kháng virus có thể làm chậm tiến trình của bệnh và kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.
Nguyên nhân của bệnh HIV là do virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV) thuộc họ
retroviridae. Khi cơ thể mắc phải thì virus HIV sống ở các tế bào quan trọng trong hệ
thống miễn dịch của con người như lympho T hay đại thực bào làm giảm mạnh số lượng tế bào dẫn tới suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể tạo điều kiện cho các nhiễm trùng cơ hội khác.
Nhiễm HIV có 3 giai đoạn tương ứng với các triệu chứng cho từng giai đoạn cụ thể như sau:
(1) Giai đoạn nhiễm trùng cấp tính (nhiễm trùng tiên phát):
Giai đoạn khi mà người bệnh vừa tiếp nhận các chất dịch cơ thể từ người nhiễm trước
đó, virus giai đoạn này nhân lên rất nhanh. Thời gian của các triệu chứng trung bình là 22-28 ngày và ngắn nhất là 1 tuần. Vì các tính chất không rõ ràng của triệu chứng nên bệnh nhân thường không nhận ra dấu hiệu của HIV.
(2) Giai đoạn mãn tính:
Đây là giai đoạn mà sự bảo vệ mạnh mẽ của hệ miễn dịch sẽ làm giảm số lượng của các hạt virus trong máu, chuyển sang giai đoạn nhiễm HIV mãn tính. Giai đoạn này có thể kéo dài từ 2 tuần đến 20 năm tùy trường hợp, trong suốt thời gian này HIV hoạt động trong các hạch bạch huyết nên các hạch này thường xuyên bị sưng do phản ứng với một lượng lớn virus.
(3) Giai đoạn AIDS:
Giai đoạn này xảy ra khi sự miễn dịch qua trung gian tế bào bị vô hiệu và xuất hiện
nhiễm trùng do một loạt các vi sinh vật cơ hội gây ra.
Đường lây truyền bệnh HIV. Bệnh nhân HIV/AIDS là nguồn truyền nhiễm duy nhất
của HIV, không có ổ chứa nhiễm trùng ở động vật. HIV lây truyền chủ yếu qua 3 con
đường: lây qua đường máu; lây qua đường tình dục; lây truyền từ mẹ sang con.
Kéo và thả số thích hợp để hoàn thành câu sau:
Miễn dịch — Tuần hoàn — Hô hấp
Do virus HIV tấn công và làm suy yếu các tế bào bảo vệ cơ thể, nên bệnh này tác động chủ yếu lên hệ [1]
Miễn dịch
Hô hấp
Tuần hoàn
HIV là virus gây suy giảm miễn dịch ở người, tấn công trực tiếp các tế bào của hệ miễn dịch (lympho T, đại thực bào) nên hệ bị ảnh hưởng là hệ miễn dịch
[Dữ liệu 6]
HỘI CHỨNG SUY GIẢM MIỄN DỊCH MẮC PHẢI (HIV/AIDS)
HIV là viết tắt của từ Human Immunodeficiency Virus. HIV/AIDS (Hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải ở người, bệnh liệt kháng) là một bệnh gây ra do bị nhiễm virus suy giảm miễn dịch ở người. Giai đoạn đầu của bệnh có triệu chứng giống cúm nhưng sau đó thì không có dấu hiệu gì trong một thời gian dài. Bệnh tiến triển khi hệ miễn dịch bệnh nhân suy giảm, cũng là lúc bệnh nhân dễ mắc các loại nhiễm trùng cơ hội hoặc khối u khác thường. HIV/AIDS không thể chữa khỏi và không có thuốc chủng ngừa. Tuy nhiên điều trị bằng thuốc kháng virus có thể làm chậm tiến trình của bệnh và kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.
Nguyên nhân của bệnh HIV là do virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV) thuộc họ
retroviridae. Khi cơ thể mắc phải thì virus HIV sống ở các tế bào quan trọng trong hệ
thống miễn dịch của con người như lympho T hay đại thực bào làm giảm mạnh số lượng tế bào dẫn tới suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể tạo điều kiện cho các nhiễm trùng cơ hội khác.
Nhiễm HIV có 3 giai đoạn tương ứng với các triệu chứng cho từng giai đoạn cụ thể như sau:
(1) Giai đoạn nhiễm trùng cấp tính (nhiễm trùng tiên phát):
Giai đoạn khi mà người bệnh vừa tiếp nhận các chất dịch cơ thể từ người nhiễm trước
đó, virus giai đoạn này nhân lên rất nhanh. Thời gian của các triệu chứng trung bình là 22-28 ngày và ngắn nhất là 1 tuần. Vì các tính chất không rõ ràng của triệu chứng nên bệnh nhân thường không nhận ra dấu hiệu của HIV.
(2) Giai đoạn mãn tính:
Đây là giai đoạn mà sự bảo vệ mạnh mẽ của hệ miễn dịch sẽ làm giảm số lượng của các hạt virus trong máu, chuyển sang giai đoạn nhiễm HIV mãn tính. Giai đoạn này có thể kéo dài từ 2 tuần đến 20 năm tùy trường hợp, trong suốt thời gian này HIV hoạt động trong các hạch bạch huyết nên các hạch này thường xuyên bị sưng do phản ứng với một lượng lớn virus.
(3) Giai đoạn AIDS:
Giai đoạn này xảy ra khi sự miễn dịch qua trung gian tế bào bị vô hiệu và xuất hiện
nhiễm trùng do một loạt các vi sinh vật cơ hội gây ra.
Đường lây truyền bệnh HIV. Bệnh nhân HIV/AIDS là nguồn truyền nhiễm duy nhất
của HIV, không có ổ chứa nhiễm trùng ở động vật. HIV lây truyền chủ yếu qua 3 con
đường: lây qua đường máu; lây qua đường tình dục; lây truyền từ mẹ sang con.
Điền từ/cụm từ thích hợp vào chỗ trống:
Bệnh HIV/AIDS xuất hiện là do cơ thể người bị xâm nhập bởi một loại [1] có khả năng làm suy giảm hệ miễn dịch.
virus
vi khuẩn
Theo ngữ liệu, nguyên nhân gây bệnh là do virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV) thuộc họ retroviridae.
[Dữ liệu 6]
HỘI CHỨNG SUY GIẢM MIỄN DỊCH MẮC PHẢI (HIV/AIDS)
HIV là viết tắt của từ Human Immunodeficiency Virus. HIV/AIDS (Hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải ở người, bệnh liệt kháng) là một bệnh gây ra do bị nhiễm virus suy giảm miễn dịch ở người. Giai đoạn đầu của bệnh có triệu chứng giống cúm nhưng sau đó thì không có dấu hiệu gì trong một thời gian dài. Bệnh tiến triển khi hệ miễn dịch bệnh nhân suy giảm, cũng là lúc bệnh nhân dễ mắc các loại nhiễm trùng cơ hội hoặc khối u khác thường. HIV/AIDS không thể chữa khỏi và không có thuốc chủng ngừa. Tuy nhiên điều trị bằng thuốc kháng virus có thể làm chậm tiến trình của bệnh và kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.
Nguyên nhân của bệnh HIV là do virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV) thuộc họ
retroviridae. Khi cơ thể mắc phải thì virus HIV sống ở các tế bào quan trọng trong hệ
thống miễn dịch của con người như lympho T hay đại thực bào làm giảm mạnh số lượng tế bào dẫn tới suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể tạo điều kiện cho các nhiễm trùng cơ hội khác.
Nhiễm HIV có 3 giai đoạn tương ứng với các triệu chứng cho từng giai đoạn cụ thể như sau:
(1) Giai đoạn nhiễm trùng cấp tính (nhiễm trùng tiên phát):
Giai đoạn khi mà người bệnh vừa tiếp nhận các chất dịch cơ thể từ người nhiễm trước
đó, virus giai đoạn này nhân lên rất nhanh. Thời gian của các triệu chứng trung bình là 22-28 ngày và ngắn nhất là 1 tuần. Vì các tính chất không rõ ràng của triệu chứng nên bệnh nhân thường không nhận ra dấu hiệu của HIV.
(2) Giai đoạn mãn tính:
Đây là giai đoạn mà sự bảo vệ mạnh mẽ của hệ miễn dịch sẽ làm giảm số lượng của các hạt virus trong máu, chuyển sang giai đoạn nhiễm HIV mãn tính. Giai đoạn này có thể kéo dài từ 2 tuần đến 20 năm tùy trường hợp, trong suốt thời gian này HIV hoạt động trong các hạch bạch huyết nên các hạch này thường xuyên bị sưng do phản ứng với một lượng lớn virus.
(3) Giai đoạn AIDS:
Giai đoạn này xảy ra khi sự miễn dịch qua trung gian tế bào bị vô hiệu và xuất hiện
nhiễm trùng do một loạt các vi sinh vật cơ hội gây ra.
Đường lây truyền bệnh HIV. Bệnh nhân HIV/AIDS là nguồn truyền nhiễm duy nhất
của HIV, không có ổ chứa nhiễm trùng ở động vật. HIV lây truyền chủ yếu qua 3 con
đường: lây qua đường máu; lây qua đường tình dục; lây truyền từ mẹ sang con.
Kéo và thả số thích hợp để hoàn thành câu sau:
Ở giai đoạn [1] , các vi sinh vật cơ hội bùng phát gây nhiễm trùng do hệ miễn dịch qua trung gian tế bào đã bị vô hiệu hóa.
Nhiễm trùng cấp tính
Mãn tính
AIDS
Ngữ liệu nêu rõ giai đoạn AIDS là khi miễn dịch qua trung gian tế bào bị vô hiệu và xuất hiện nhiễm trùng cơ hội.
[Dữ liệu 6]
HỘI CHỨNG SUY GIẢM MIỄN DỊCH MẮC PHẢI (HIV/AIDS)
HIV là viết tắt của từ Human Immunodeficiency Virus. HIV/AIDS (Hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải ở người, bệnh liệt kháng) là một bệnh gây ra do bị nhiễm virus suy giảm miễn dịch ở người. Giai đoạn đầu của bệnh có triệu chứng giống cúm nhưng sau đó thì không có dấu hiệu gì trong một thời gian dài. Bệnh tiến triển khi hệ miễn dịch bệnh nhân suy giảm, cũng là lúc bệnh nhân dễ mắc các loại nhiễm trùng cơ hội hoặc khối u khác thường. HIV/AIDS không thể chữa khỏi và không có thuốc chủng ngừa. Tuy nhiên điều trị bằng thuốc kháng virus có thể làm chậm tiến trình của bệnh và kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.
Nguyên nhân của bệnh HIV là do virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV) thuộc họ
retroviridae. Khi cơ thể mắc phải thì virus HIV sống ở các tế bào quan trọng trong hệ
thống miễn dịch của con người như lympho T hay đại thực bào làm giảm mạnh số lượng tế bào dẫn tới suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể tạo điều kiện cho các nhiễm trùng cơ hội khác.
Nhiễm HIV có 3 giai đoạn tương ứng với các triệu chứng cho từng giai đoạn cụ thể như sau:
(1) Giai đoạn nhiễm trùng cấp tính (nhiễm trùng tiên phát):
Giai đoạn khi mà người bệnh vừa tiếp nhận các chất dịch cơ thể từ người nhiễm trước
đó, virus giai đoạn này nhân lên rất nhanh. Thời gian của các triệu chứng trung bình là 22-28 ngày và ngắn nhất là 1 tuần. Vì các tính chất không rõ ràng của triệu chứng nên bệnh nhân thường không nhận ra dấu hiệu của HIV.
(2) Giai đoạn mãn tính:
Đây là giai đoạn mà sự bảo vệ mạnh mẽ của hệ miễn dịch sẽ làm giảm số lượng của các hạt virus trong máu, chuyển sang giai đoạn nhiễm HIV mãn tính. Giai đoạn này có thể kéo dài từ 2 tuần đến 20 năm tùy trường hợp, trong suốt thời gian này HIV hoạt động trong các hạch bạch huyết nên các hạch này thường xuyên bị sưng do phản ứng với một lượng lớn virus.
(3) Giai đoạn AIDS:
Giai đoạn này xảy ra khi sự miễn dịch qua trung gian tế bào bị vô hiệu và xuất hiện
nhiễm trùng do một loạt các vi sinh vật cơ hội gây ra.
Đường lây truyền bệnh HIV. Bệnh nhân HIV/AIDS là nguồn truyền nhiễm duy nhất
của HIV, không có ổ chứa nhiễm trùng ở động vật. HIV lây truyền chủ yếu qua 3 con
đường: lây qua đường máu; lây qua đường tình dục; lây truyền từ mẹ sang con.
Loại tế bào nào dưới đây không phải là mục tiêu tấn công trực tiếp ban đầu của virus HIV trong cơ thể?
Đại thực bào
Tế bào cơ tim
Tế bào lympho T
Tế bào của hệ miễn dịch nói chung
Chọn B
HIV sống và tấn công các tế bào của hệ miễn dịch như lympho T và đại thực bào; tế bào cơ tim không phải là đối tượng tấn công của virus này.
[Dữ liệu 6]
HỘI CHỨNG SUY GIẢM MIỄN DỊCH MẮC PHẢI (HIV/AIDS)
HIV là viết tắt của từ Human Immunodeficiency Virus. HIV/AIDS (Hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải ở người, bệnh liệt kháng) là một bệnh gây ra do bị nhiễm virus suy giảm miễn dịch ở người. Giai đoạn đầu của bệnh có triệu chứng giống cúm nhưng sau đó thì không có dấu hiệu gì trong một thời gian dài. Bệnh tiến triển khi hệ miễn dịch bệnh nhân suy giảm, cũng là lúc bệnh nhân dễ mắc các loại nhiễm trùng cơ hội hoặc khối u khác thường. HIV/AIDS không thể chữa khỏi và không có thuốc chủng ngừa. Tuy nhiên điều trị bằng thuốc kháng virus có thể làm chậm tiến trình của bệnh và kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.
Nguyên nhân của bệnh HIV là do virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV) thuộc họ
retroviridae. Khi cơ thể mắc phải thì virus HIV sống ở các tế bào quan trọng trong hệ
thống miễn dịch của con người như lympho T hay đại thực bào làm giảm mạnh số lượng tế bào dẫn tới suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể tạo điều kiện cho các nhiễm trùng cơ hội khác.
Nhiễm HIV có 3 giai đoạn tương ứng với các triệu chứng cho từng giai đoạn cụ thể như sau:
(1) Giai đoạn nhiễm trùng cấp tính (nhiễm trùng tiên phát):
Giai đoạn khi mà người bệnh vừa tiếp nhận các chất dịch cơ thể từ người nhiễm trước
đó, virus giai đoạn này nhân lên rất nhanh. Thời gian của các triệu chứng trung bình là 22-28 ngày và ngắn nhất là 1 tuần. Vì các tính chất không rõ ràng của triệu chứng nên bệnh nhân thường không nhận ra dấu hiệu của HIV.
(2) Giai đoạn mãn tính:
Đây là giai đoạn mà sự bảo vệ mạnh mẽ của hệ miễn dịch sẽ làm giảm số lượng của các hạt virus trong máu, chuyển sang giai đoạn nhiễm HIV mãn tính. Giai đoạn này có thể kéo dài từ 2 tuần đến 20 năm tùy trường hợp, trong suốt thời gian này HIV hoạt động trong các hạch bạch huyết nên các hạch này thường xuyên bị sưng do phản ứng với một lượng lớn virus.
(3) Giai đoạn AIDS:
Giai đoạn này xảy ra khi sự miễn dịch qua trung gian tế bào bị vô hiệu và xuất hiện
nhiễm trùng do một loạt các vi sinh vật cơ hội gây ra.
Đường lây truyền bệnh HIV. Bệnh nhân HIV/AIDS là nguồn truyền nhiễm duy nhất
của HIV, không có ổ chứa nhiễm trùng ở động vật. HIV lây truyền chủ yếu qua 3 con
đường: lây qua đường máu; lây qua đường tình dục; lây truyền từ mẹ sang con.
Số lượng hạt virus HIV trong máu bị suy giảm mạnh nhờ phản ứng bảo vệ tích cực của hệ miễn dịch, điều này xảy ra chủ yếu ở giai đoạn nào?
Giai đoạn nhiễm trùng cấp tính
Giai đoạn mãn tính
Giai đoạn AIDS
Không giai đoạn nào
Chọn B
Ở giai đoạn mãn tính, hệ miễn dịch bảo vệ mạnh mẽ làm giảm số lượng hạt virus trong máu, khiến bệnh chuyển sang trạng thái nhiễm HIV mãn tính kéo dài.
[Dữ liệu 6]
HỘI CHỨNG SUY GIẢM MIỄN DỊCH MẮC PHẢI (HIV/AIDS)
HIV là viết tắt của từ Human Immunodeficiency Virus. HIV/AIDS (Hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải ở người, bệnh liệt kháng) là một bệnh gây ra do bị nhiễm virus suy giảm miễn dịch ở người. Giai đoạn đầu của bệnh có triệu chứng giống cúm nhưng sau đó thì không có dấu hiệu gì trong một thời gian dài. Bệnh tiến triển khi hệ miễn dịch bệnh nhân suy giảm, cũng là lúc bệnh nhân dễ mắc các loại nhiễm trùng cơ hội hoặc khối u khác thường. HIV/AIDS không thể chữa khỏi và không có thuốc chủng ngừa. Tuy nhiên điều trị bằng thuốc kháng virus có thể làm chậm tiến trình của bệnh và kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.
Nguyên nhân của bệnh HIV là do virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV) thuộc họ
retroviridae. Khi cơ thể mắc phải thì virus HIV sống ở các tế bào quan trọng trong hệ
thống miễn dịch của con người như lympho T hay đại thực bào làm giảm mạnh số lượng tế bào dẫn tới suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể tạo điều kiện cho các nhiễm trùng cơ hội khác.
Nhiễm HIV có 3 giai đoạn tương ứng với các triệu chứng cho từng giai đoạn cụ thể như sau:
(1) Giai đoạn nhiễm trùng cấp tính (nhiễm trùng tiên phát):
Giai đoạn khi mà người bệnh vừa tiếp nhận các chất dịch cơ thể từ người nhiễm trước
đó, virus giai đoạn này nhân lên rất nhanh. Thời gian của các triệu chứng trung bình là 22-28 ngày và ngắn nhất là 1 tuần. Vì các tính chất không rõ ràng của triệu chứng nên bệnh nhân thường không nhận ra dấu hiệu của HIV.
(2) Giai đoạn mãn tính:
Đây là giai đoạn mà sự bảo vệ mạnh mẽ của hệ miễn dịch sẽ làm giảm số lượng của các hạt virus trong máu, chuyển sang giai đoạn nhiễm HIV mãn tính. Giai đoạn này có thể kéo dài từ 2 tuần đến 20 năm tùy trường hợp, trong suốt thời gian này HIV hoạt động trong các hạch bạch huyết nên các hạch này thường xuyên bị sưng do phản ứng với một lượng lớn virus.
(3) Giai đoạn AIDS:
Giai đoạn này xảy ra khi sự miễn dịch qua trung gian tế bào bị vô hiệu và xuất hiện
nhiễm trùng do một loạt các vi sinh vật cơ hội gây ra.
Đường lây truyền bệnh HIV. Bệnh nhân HIV/AIDS là nguồn truyền nhiễm duy nhất
của HIV, không có ổ chứa nhiễm trùng ở động vật. HIV lây truyền chủ yếu qua 3 con
đường: lây qua đường máu; lây qua đường tình dục; lây truyền từ mẹ sang con.
Hành động nào sau đây an toàn, không có nguy cơ lây nhiễm HIV?
Chọn C
HIV lây qua đường máu, đường tình dục và từ mẹ sang con; dùng chung khăn mặt không tiếp xúc với máu hay dịch cơ thể nguy hiểm nên không lây nhiễm HIV.
[Dữ liệu 6]
HỘI CHỨNG SUY GIẢM MIỄN DỊCH MẮC PHẢI (HIV/AIDS)
HIV là viết tắt của từ Human Immunodeficiency Virus. HIV/AIDS (Hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải ở người, bệnh liệt kháng) là một bệnh gây ra do bị nhiễm virus suy giảm miễn dịch ở người. Giai đoạn đầu của bệnh có triệu chứng giống cúm nhưng sau đó thì không có dấu hiệu gì trong một thời gian dài. Bệnh tiến triển khi hệ miễn dịch bệnh nhân suy giảm, cũng là lúc bệnh nhân dễ mắc các loại nhiễm trùng cơ hội hoặc khối u khác thường. HIV/AIDS không thể chữa khỏi và không có thuốc chủng ngừa. Tuy nhiên điều trị bằng thuốc kháng virus có thể làm chậm tiến trình của bệnh và kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.
Nguyên nhân của bệnh HIV là do virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV) thuộc họ
retroviridae. Khi cơ thể mắc phải thì virus HIV sống ở các tế bào quan trọng trong hệ
thống miễn dịch của con người như lympho T hay đại thực bào làm giảm mạnh số lượng tế bào dẫn tới suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể tạo điều kiện cho các nhiễm trùng cơ hội khác.
Nhiễm HIV có 3 giai đoạn tương ứng với các triệu chứng cho từng giai đoạn cụ thể như sau:
(1) Giai đoạn nhiễm trùng cấp tính (nhiễm trùng tiên phát):
Giai đoạn khi mà người bệnh vừa tiếp nhận các chất dịch cơ thể từ người nhiễm trước
đó, virus giai đoạn này nhân lên rất nhanh. Thời gian của các triệu chứng trung bình là 22-28 ngày và ngắn nhất là 1 tuần. Vì các tính chất không rõ ràng của triệu chứng nên bệnh nhân thường không nhận ra dấu hiệu của HIV.
(2) Giai đoạn mãn tính:
Đây là giai đoạn mà sự bảo vệ mạnh mẽ của hệ miễn dịch sẽ làm giảm số lượng của các hạt virus trong máu, chuyển sang giai đoạn nhiễm HIV mãn tính. Giai đoạn này có thể kéo dài từ 2 tuần đến 20 năm tùy trường hợp, trong suốt thời gian này HIV hoạt động trong các hạch bạch huyết nên các hạch này thường xuyên bị sưng do phản ứng với một lượng lớn virus.
(3) Giai đoạn AIDS:
Giai đoạn này xảy ra khi sự miễn dịch qua trung gian tế bào bị vô hiệu và xuất hiện
nhiễm trùng do một loạt các vi sinh vật cơ hội gây ra.
Đường lây truyền bệnh HIV. Bệnh nhân HIV/AIDS là nguồn truyền nhiễm duy nhất
của HIV, không có ổ chứa nhiễm trùng ở động vật. HIV lây truyền chủ yếu qua 3 con
đường: lây qua đường máu; lây qua đường tình dục; lây truyền từ mẹ sang con.
Phát biểu sau đúng hay sai?
Y học hiện nay đã có thuốc điều trị đặc hiệu giúp chữa khỏi hoàn toàn bệnh HIV/AIDS.
Đúng
Sai
Chọn B
Theo ngữ liệu, HIV/AIDS không thể chữa khỏi và không có thuốc chủng ngừa; thuốc kháng virus chỉ giúp làm chậm tiến triển bệnh và kéo dài tuổi thọ, không chữa khỏi hoàn toàn.
[Dữ liệu 3]
Nam Cực là một địa điểm hấp dẫn cho hoạt động thám hiểm và nghiên cứu khoa học của con người. Tuy nhiên, những tác động tiêu cực của hoạt động của con người lên lục địa này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng lâu dài cho hệ sinh thái bản địa. Nhiều khu vực của Nam Cực đã bị nhiễm dầu diesel, chứa các hợp chất độc hại như kim loại nặng và hydrocarbon thơm đa vòng (PAH). Xử lý sinh học PAH bởi hoạt động của các vi sinh vật là một phương pháp xử lý ô nhiễm an toàn và kinh tế. Do việc đưa các sinh vật ngoại lai vào Nam Cực bị cấm, nên việc phát hiện ra các vi khuẩn bản địa có thể sử dụng để xử lý sinh học dầu diesel là điều then chốt. Từ các mẫu đất phơi nhiễm với dầu diesel, 3 chủng vi khuẩn Rhodococcus erythropolis D32AFA, Sphingobium xenophagum D43FB, và Pseudomonas guineae E43FB được phân lập và đánh giá khả năng sinh trưởng trong môi trường chứa dầu diesel hoặc phenanthrene (một PAH có trong dầu diesel) là nguồn carbon duy nhất. Chủng E. coli BW25113 được sử dụng làm đối chứng cho các thí nghiệm liên quan. Kết quả nghiên cứu được biểu diễn ở hình sau

Hình 1. Sinh trưởng và phát triển của các chủng vi khuẩn trên môi trường bổ sung PAH hoặc dầu diesel như nguồn carbon duy nhất.
(A) Sinh trưởng của các chủng phân lập được trong môi trường lỏng M9, với 0,05%
phenanthrene là nguồn cacbon duy nhất ở 28°C.
(B) Sinh trưởng của các chủng phân lập được trong môi trường lỏng M9, với 0,2% dầu diesel là nguồn cacbon duy nhất nhất ở 28°C.
(C) Khả năng sinh trưởng của các chủng phân lập ở các nhiệt độ khác nhau trong môi
trường tối ưu.
Nguồn: Gran-Scheuch et al. Isolation and Characterization of Phenanthrene Degrading
Bacteria from Diesel Fuel-Contaminated Antarctic Soils. Front Microbiol, 2017.
Điền cụm từ thích hợp vào chỗ trống:
Nam Cực là nơi lý tưởng cho các hoạt động thám hiểm và nghiên cứu, song sự có mặt của con người có thể để lại hậu quả tiêu cực kéo dài cho hệ sinh thái nơi đây. Các sự cố tràn dầu diesel đã làm ô nhiễm nhiều khu vực, trong đó nhiên liệu này mang theo những hợp chất độc hại như kim loại nặng và [1] . Việc sử dụng vi sinh vật để phân hủy chất ô nhiễm (cải tạo sinh học) là giải pháp an toàn, kinh tế. Tuy nhiên do quy định cấm đưa sinh vật lạ vào Nam Cực, nhiệm vụ quan trọng là phải tìm ra các [2] đã có sẵn tại chỗ, có khả năng phân hủy chất ô nhiễm.
PAH
vi sinh vật/vi khuẩn bản địa
Ngữ liệu nêu dầu diesel chứa kim loại nặng và PAH; do cấm đưa sinh vật ngoại lai vào Nam Cực nên cần tìm vi khuẩn bản địa có sẵn để xử lý sinh học.
[Dữ liệu 3]
Nam Cực là một địa điểm hấp dẫn cho hoạt động thám hiểm và nghiên cứu khoa học của con người. Tuy nhiên, những tác động tiêu cực của hoạt động của con người lên lục địa này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng lâu dài cho hệ sinh thái bản địa. Nhiều khu vực của Nam Cực đã bị nhiễm dầu diesel, chứa các hợp chất độc hại như kim loại nặng và hydrocarbon thơm đa vòng (PAH). Xử lý sinh học PAH bởi hoạt động của các vi sinh vật là một phương pháp xử lý ô nhiễm an toàn và kinh tế. Do việc đưa các sinh vật ngoại lai vào Nam Cực bị cấm, nên việc phát hiện ra các vi khuẩn bản địa có thể sử dụng để xử lý sinh học dầu diesel là điều then chốt. Từ các mẫu đất phơi nhiễm với dầu diesel, 3 chủng vi khuẩn Rhodococcus erythropolis D32AFA, Sphingobium xenophagum D43FB, và Pseudomonas guineae E43FB được phân lập và đánh giá khả năng sinh trưởng trong môi trường chứa dầu diesel hoặc phenanthrene (một PAH có trong dầu diesel) là nguồn carbon duy nhất. Chủng E. coli BW25113 được sử dụng làm đối chứng cho các thí nghiệm liên quan. Kết quả nghiên cứu được biểu diễn ở hình sau

Hình 1. Sinh trưởng và phát triển của các chủng vi khuẩn trên môi trường bổ sung PAH hoặc dầu diesel như nguồn carbon duy nhất.
(A) Sinh trưởng của các chủng phân lập được trong môi trường lỏng M9, với 0,05%
phenanthrene là nguồn cacbon duy nhất ở 28°C.
(B) Sinh trưởng của các chủng phân lập được trong môi trường lỏng M9, với 0,2% dầu diesel là nguồn cacbon duy nhất nhất ở 28°C.
(C) Khả năng sinh trưởng của các chủng phân lập ở các nhiệt độ khác nhau trong môi
trường tối ưu.
Nguồn: Gran-Scheuch et al. Isolation and Characterization of Phenanthrene Degrading
Bacteria from Diesel Fuel-Contaminated Antarctic Soils. Front Microbiol, 2017.
Trong môi trường chỉ có dầu diesel làm nguồn carbon duy nhất, chủng vi khuẩn nào cho thấy khả năng sinh trưởng thấp nhất (không kể đối chứng E. coli)?
R. erythropolis D32AFA
S. xenophagum D43FB
P. guineae E43FB
Cả ba chủng đều sinh trưởng như nhau
Chọn C
Theo hình B, đường tăng trưởng của P. guineae E43FB gần như không tăng, tương tự đối chứng E. coli, cho thấy chủng này không sử dụng được dầu diesel làm nguồn carbon hiệu quả.
[Dữ liệu 3]
Nam Cực là một địa điểm hấp dẫn cho hoạt động thám hiểm và nghiên cứu khoa học của con người. Tuy nhiên, những tác động tiêu cực của hoạt động của con người lên lục địa này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng lâu dài cho hệ sinh thái bản địa. Nhiều khu vực của Nam Cực đã bị nhiễm dầu diesel, chứa các hợp chất độc hại như kim loại nặng và hydrocarbon thơm đa vòng (PAH). Xử lý sinh học PAH bởi hoạt động của các vi sinh vật là một phương pháp xử lý ô nhiễm an toàn và kinh tế. Do việc đưa các sinh vật ngoại lai vào Nam Cực bị cấm, nên việc phát hiện ra các vi khuẩn bản địa có thể sử dụng để xử lý sinh học dầu diesel là điều then chốt. Từ các mẫu đất phơi nhiễm với dầu diesel, 3 chủng vi khuẩn Rhodococcus erythropolis D32AFA, Sphingobium xenophagum D43FB, và Pseudomonas guineae E43FB được phân lập và đánh giá khả năng sinh trưởng trong môi trường chứa dầu diesel hoặc phenanthrene (một PAH có trong dầu diesel) là nguồn carbon duy nhất. Chủng E. coli BW25113 được sử dụng làm đối chứng cho các thí nghiệm liên quan. Kết quả nghiên cứu được biểu diễn ở hình sau

Hình 1. Sinh trưởng và phát triển của các chủng vi khuẩn trên môi trường bổ sung PAH hoặc dầu diesel như nguồn carbon duy nhất.
(A) Sinh trưởng của các chủng phân lập được trong môi trường lỏng M9, với 0,05%
phenanthrene là nguồn cacbon duy nhất ở 28°C.
(B) Sinh trưởng của các chủng phân lập được trong môi trường lỏng M9, với 0,2% dầu diesel là nguồn cacbon duy nhất nhất ở 28°C.
(C) Khả năng sinh trưởng của các chủng phân lập ở các nhiệt độ khác nhau trong môi
trường tối ưu.
Nguồn: Gran-Scheuch et al. Isolation and Characterization of Phenanthrene Degrading
Bacteria from Diesel Fuel-Contaminated Antarctic Soils. Front Microbiol, 2017.
Nhận định nào sau đây về khả năng sinh trưởng của các chủng vi khuẩn là chính xác? (Có thể chọn nhiều đáp án)
Trên môi trường chỉ có dầu diesel, R. erythropolis D32AFA luôn vượt trội hơn hẳn các chủng còn lại trong suốt thí nghiệm.
Trên cả hai nguồn carbon (phenanthrene và dầu diesel), R. erythropolis D32AFA đều sinh trưởng tốt hơn P. guineae E43FB.
P. guineae E43FB không thể sinh trưởng ở nhiệt độ dưới 4°C.
Khi điều kiện nhiệt độ thuận lợi, mức sinh trưởng của S. xenophagum D43FB và P. guineae E43FB là tương đương.
Chọn C, D
Từ hình C, ở 4°C không có chủng nào sinh trưởng đáng kể, còn ở 28°C (nhiệt độ tối ưu), mức tế bào của S. xenophagum và P. guineae tương đương nhau.
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đáp án | - | - | - | B | B | C | b | - | C | C |
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.
Đăng nhập để làm bài