Đáp án & lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử THPTQG năm 2027 - Mã đề 14 - Ngữ Văn

Thi Tốt nghiệp THPTMôn Ngữ vănNăm 20277 câuChuẩn GDPT mới

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Câu 1

Đọc văn bản sau:

Thân gầy guộc, lá mong manh,

Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?

Ở đâu tre cũng xanh tươi,

Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu.

Có gì đâu, có gì đâu,

Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều.

Rễ siêng không ngại đất nghèo,

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù.

Vươn mình trong gió tre đu,

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành.

Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh,

Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm.

Bão bùng thân bọc lấy thân,

Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm.

Thương nhau tre không ở riêng,

Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người.

Chẳng may thân gãy cành rơi,

Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng.

Nòi tre đâu chịu mọc cong,

Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường.

Lưng trần phơi nắng phơi sương,

Có manh áo cộc tre nhường cho con.

(Trích Tre Việt Nam – Nguyễn Duy, Cát trắng, NXB Quân đội nhân dân, 1973)

Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của văn bản.

Đáp án đúng: Dấu hiệu xác định thể thơ của đoạn trích: Thể thơ lục bát, với các cặp câu thơ gồm một câu sáu tiếng và một câu tám tiếng xen kẽ nhau; tiếng cuối câu sáu hiệp vần với tiếng thứ sáu của câu tám, tiếng cuối câu tám hiệp vần với tiếng cuối câu sáu tiếp theo.

Lời giải

Dấu hiệu xác định thể thơ của đoạn trích: Thể thơ lục bát, với các cặp câu thơ gồm một câu sáu tiếng và một câu tám tiếng xen kẽ nhau; tiếng cuối câu sáu hiệp vần với tiếng thứ sáu của câu tám, tiếng cuối câu tám hiệp vần với tiếng cuối câu sáu tiếp theo.

Hướng dẫn chấm:

Xác định đúng thể thơ lục bát và nêu được dấu hiệu nhận biết: 0,5 điểm.

Chỉ xác định đúng thể thơ nhưng không nêu dấu hiệu: 0,25 điểm.

Trả lời sai hoặc không trả lời: 0 điểm.

Câu 2

Đọc văn bản sau:

Thân gầy guộc, lá mong manh,

Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?

Ở đâu tre cũng xanh tươi,

Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu.

Có gì đâu, có gì đâu,

Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều.

Rễ siêng không ngại đất nghèo,

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù.

Vươn mình trong gió tre đu,

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành.

Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh,

Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm.

Bão bùng thân bọc lấy thân,

Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm.

Thương nhau tre không ở riêng,

Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người.

Chẳng may thân gãy cành rơi,

Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng.

Nòi tre đâu chịu mọc cong,

Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường.

Lưng trần phơi nắng phơi sương,

Có manh áo cộc tre nhường cho con.

(Trích Tre Việt Nam – Nguyễn Duy, Cát trắng, NXB Quân đội nhân dân, 1973)

Liệt kê các từ ngữ, hình ảnh thể hiện sự gắn bó, đoàn kết của tre trong khổ thơ:

“Bão bùng thân bọc lấy thân,

Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm.

Thương nhau tre không ở riêng,

Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người”.

Đáp án đúng: Những từ ngữ, hình ảnh thể hiện sự gắn bó, đoàn kết của tre trong khổ thơ: “thân bọc lấy thân”, “tay ôm tay níu”, “tre gần nhau thêm”, “thương nhau”, “tre không ở riêng”, “luỹ thành”.Các từ ngữ, hình ảnh gợi lên sự gắn bó khăng khít, tinh thần đoàn kết, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau của những cây tre. Qua đó, tác giả làm nổi bật sức mạnh của sự đồng lòng, gắn kết, đồng thời ngợi ca truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam.

Lời giải

Những từ ngữ, hình ảnh thể hiện sự gắn bó, đoàn kết của tre trong khổ thơ: “thân bọc lấy thân”, “tay ôm tay níu”, “tre gần nhau thêm”, “thương nhau”, “tre không ở riêng”, “luỹ thành”.

Các từ ngữ, hình ảnh gợi lên sự gắn bó khăng khít, tinh thần đoàn kết, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau của những cây tre. Qua đó, tác giả làm nổi bật sức mạnh của sự đồng lòng, gắn kết, đồng thời ngợi ca truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam.

Hướng dẫn chấm:

Chỉ ra đầy đủ các từ ngữ, hình ảnh tiêu biểu: 0,5 điểm.

Nếu chỉ nêu được một số từ ngữ, hình ảnh phù hợp, giám khảo căn cứ mức độ đáp ứng để cho điểm.

Không xác định được từ ngữ, hình ảnh phù hợp: 0 điểm.

Câu 3

Đọc văn bản sau:

Thân gầy guộc, lá mong manh,

Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?

Ở đâu tre cũng xanh tươi,

Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu.

Có gì đâu, có gì đâu,

Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều.

Rễ siêng không ngại đất nghèo,

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù.

Vươn mình trong gió tre đu,

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành.

Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh,

Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm.

Bão bùng thân bọc lấy thân,

Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm.

Thương nhau tre không ở riêng,

Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người.

Chẳng may thân gãy cành rơi,

Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng.

Nòi tre đâu chịu mọc cong,

Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường.

Lưng trần phơi nắng phơi sương,

Có manh áo cộc tre nhường cho con.

(Trích Tre Việt Nam – Nguyễn Duy, Cát trắng, NXB Quân đội nhân dân, 1973)

Phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ nhân hoá trong hai dòng thơ:

“Rễ siêng không ngại đất nghèo,

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù.”

Đáp án đúng: Hai câu thơ:“Rễ siêng không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù.”Sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá thông qua các từ ngữ “siêng”, “không ngại”, “cần cù”, vốn dùng để miêu tả phẩm chất, thái độ của con người nhưng được tác giả gắn với hình ảnh rễ tre.Về nội dung: Biện pháp nhân hoá khiến hình ảnh cây tre hiện lên gần gũi, sinh động, mang những phẩm chất tốt đẹp của con người. Dù sinh trưởng trên vùng đất khô cằn, nghèo dinh dưỡng, tre vẫn bền bỉ bám rễ, chắt chiu nguồn sống để vươn lên mạnh mẽ.Hình ảnh rễ tre “siêng”, “cần cù” còn mang ý nghĩa biểu tượng cho con người Việt Nam với đức tính chăm chỉ, chịu thương chịu khó, kiên trì lao động và không khuất phục trước hoàn cảnh khắc nghiệt.Về tình cảm, thái độ: Qua hình tượng cây tre, tác giả bày tỏ niềm trân trọng, ngợi ca và tự hào đối với những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam; đồng thời gửi gắm thông điệp về ý chí, nghị lực và tinh thần vượt khó trong cuộc sống.Về nghệ thuật: Biện pháp nhân hoá làm tăng sức gợi hình, gợi cảm, khiến hình tượng cây tre trở nên giàu sức sống, gần gũi và có chiều sâu biểu tượng, góp phần tạo nên giọng thơ tha thiết, giàu cảm xúc.

Lời giải

Hai câu thơ:

“Rễ siêng không ngại đất nghèo,

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù.”

Sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá thông qua các từ ngữ “siêng”, “không ngại”, “cần cù”, vốn dùng để miêu tả phẩm chất, thái độ của con người nhưng được tác giả gắn với hình ảnh rễ tre.

Về nội dung: Biện pháp nhân hoá khiến hình ảnh cây tre hiện lên gần gũi, sinh động, mang những phẩm chất tốt đẹp của con người. Dù sinh trưởng trên vùng đất khô cằn, nghèo dinh dưỡng, tre vẫn bền bỉ bám rễ, chắt chiu nguồn sống để vươn lên mạnh mẽ.

Hình ảnh rễ tre “siêng”, “cần cù” còn mang ý nghĩa biểu tượng cho con người Việt Nam với đức tính chăm chỉ, chịu thương chịu khó, kiên trì lao động và không khuất phục trước hoàn cảnh khắc nghiệt.

Về tình cảm, thái độ: Qua hình tượng cây tre, tác giả bày tỏ niềm trân trọng, ngợi ca và tự hào đối với những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam; đồng thời gửi gắm thông điệp về ý chí, nghị lực và tinh thần vượt khó trong cuộc sống.

Về nghệ thuật: Biện pháp nhân hoá làm tăng sức gợi hình, gợi cảm, khiến hình tượng cây tre trở nên giàu sức sống, gần gũi và có chiều sâu biểu tượng, góp phần tạo nên giọng thơ tha thiết, giàu cảm xúc.

Hướng dẫn chấm:

Xác định đúng biện pháp tu từ nhân hoá và chỉ ra biểu hiện qua các từ ngữ “siêng”, “không ngại”, “cần cù”: 0,25 điểm.

Phân tích được tác dụng khắc hoạ sức sống bền bỉ, phẩm chất cần cù, kiên trì của cây tre và con người Việt Nam: 0,25 điểm.

Làm rõ được tình cảm trân trọng, ngợi ca, tự hào của tác giả đối với những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam: 0,25 điểm.

Nêu được tác dụng tăng sức gợi hình, gợi cảm, làm cho hình tượng cây tre sinh động, giàu ý nghĩa biểu tượng: 0,25 điểm.

Câu 4

Đọc văn bản sau:

Thân gầy guộc, lá mong manh,

Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?

Ở đâu tre cũng xanh tươi,

Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu.

Có gì đâu, có gì đâu,

Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều.

Rễ siêng không ngại đất nghèo,

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù.

Vươn mình trong gió tre đu,

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành.

Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh,

Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm.

Bão bùng thân bọc lấy thân,

Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm.

Thương nhau tre không ở riêng,

Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người.

Chẳng may thân gãy cành rơi,

Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng.

Nòi tre đâu chịu mọc cong,

Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường.

Lưng trần phơi nắng phơi sương,

Có manh áo cộc tre nhường cho con.

(Trích Tre Việt Nam – Nguyễn Duy, Cát trắng, NXB Quân đội nhân dân, 1973)

Nêu sự vận động của cảm xúc chủ thể trữ tình trong đoạn thơ.

Đáp án đúng: Cảm xúc của chủ thể trữ tình trong đoạn thơ có sự vận động từ ngạc nhiên, ngưỡng mộ trước sức sống mãnh liệt của cây tre đến trân trọng, tự hào về những phẩm chất tốt đẹp của tre, qua đó ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn và cốt cách con người Việt Nam.Ban đầu, cảm xúc được khơi nguồn từ sự ngạc nhiên, thán phục trước vẻ ngoài nhỏ bé, mảnh mai nhưng lại có sức sống bền bỉ, phi thường của cây tre. Dù sống trên đất đai khô cằn, sỏi đá, tre vẫn xanh tươi, vươn mình mạnh mẽ và tạo nên những luỹ thành vững chắc.Tiếp đó, cảm xúc chuyển sang niềm trân trọng, ngợi ca trước những phẩm chất đáng quý của tre: cần cù, chịu thương chịu khó, kiên cường, bất khuất, không ngại gian khổ và luôn hướng về ánh sáng.Sau cùng, cảm xúc được nâng lên thành niềm xúc động, tự hào sâu sắc trước tinh thần đoàn kết, tình yêu thương, đức hi sinh và ý thức tiếp nối giữa các thế hệ tre. Qua đó, tác giả khẳng định sức sống trường tồn cùng những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.Sự vận động cảm xúc diễn ra tự nhiên, nhất quán, từ những rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên đến những suy ngẫm sâu sắc về con người và dân tộc. Qua đó, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước cùng niềm tự hào, trân trọng của nhà thơ đối với những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam.

Lời giải

Cảm xúc của chủ thể trữ tình trong đoạn thơ có sự vận động từ ngạc nhiên, ngưỡng mộ trước sức sống mãnh liệt của cây tre đến trân trọng, tự hào về những phẩm chất tốt đẹp của tre, qua đó ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn và cốt cách con người Việt Nam.

Ban đầu, cảm xúc được khơi nguồn từ sự ngạc nhiên, thán phục trước vẻ ngoài nhỏ bé, mảnh mai nhưng lại có sức sống bền bỉ, phi thường của cây tre. Dù sống trên đất đai khô cằn, sỏi đá, tre vẫn xanh tươi, vươn mình mạnh mẽ và tạo nên những luỹ thành vững chắc.

Tiếp đó, cảm xúc chuyển sang niềm trân trọng, ngợi ca trước những phẩm chất đáng quý của tre: cần cù, chịu thương chịu khó, kiên cường, bất khuất, không ngại gian khổ và luôn hướng về ánh sáng.

Sau cùng, cảm xúc được nâng lên thành niềm xúc động, tự hào sâu sắc trước tinh thần đoàn kết, tình yêu thương, đức hi sinh và ý thức tiếp nối giữa các thế hệ tre. Qua đó, tác giả khẳng định sức sống trường tồn cùng những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Sự vận động cảm xúc diễn ra tự nhiên, nhất quán, từ những rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên đến những suy ngẫm sâu sắc về con người và dân tộc. Qua đó, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước cùng niềm tự hào, trân trọng của nhà thơ đối với những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam.

Hướng dẫn chấm:

Chỉ ra được cảm xúc ngạc nhiên, ngưỡng mộ trước sức sống bền bỉ, mãnh liệt của cây tre ở phần đầu đoạn thơ: 0,25 điểm.

Làm rõ được sự chuyển biến sang cảm xúc trân trọng, ngợi ca những phẩm chất cần cù, kiên cường, bất khuất của tre: 0,25 điểm.

Xác định được cảm xúc xúc động, tự hào trước tinh thần đoàn kết, tình yêu thương, đức hi sinh và sự tiếp nối giữa các thế hệ: 0,25 điểm.

Khái quát được sự vận động cảm xúc và tình yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc của tác giả: 0,25 điểm.

Câu 5

Đọc văn bản sau:

Thân gầy guộc, lá mong manh,

Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?

Ở đâu tre cũng xanh tươi,

Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu.

Có gì đâu, có gì đâu,

Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều.

Rễ siêng không ngại đất nghèo,

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù.

Vươn mình trong gió tre đu,

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành.

Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh,

Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm.

Bão bùng thân bọc lấy thân,

Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm.

Thương nhau tre không ở riêng,

Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người.

Chẳng may thân gãy cành rơi,

Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng.

Nòi tre đâu chịu mọc cong,

Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường.

Lưng trần phơi nắng phơi sương,

Có manh áo cộc tre nhường cho con.

(Trích Tre Việt Nam – Nguyễn Duy, Cát trắng, NXB Quân đội nhân dân, 1973)

Câu thơ “Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm” gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về ý nghĩa của việc sống chủ động, bản lĩnh, không ngại đối mặt với khó khăn, thử thách trong hành trình trưởng thành của mỗi người? (Trả lời trong khoảng 5–7 dòng)

Đáp án đúng: Học sinh trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc sống chủ động, bản lĩnh, không ngại đối mặt với khó khăn, thử thách trong hành trình trưởng thành của mỗi người. Có thể đề cập: Câu thơ “Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm” gợi lên lối sống mạnh mẽ, tự chủ, không dựa dẫm, ỷ lại hay né tránh khó khăn. Trong hành trình trưởng thành, tinh thần chủ động và bản lĩnh giúp con người dám bước ra khỏi vùng an toàn, mạnh dạn đối diện với thử thách, từ đó rèn luyện ý chí, tích luỹ kinh nghiệm và khám phá năng lực của bản thân. Những khó khăn, thất bại không chỉ là trở ngại mà còn là cơ hội để mỗi người trưởng thành, khẳng định giá trị và thực hiện những khát vọng của mình. Mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần nuôi dưỡng tinh thần tự lập, ý chí vươn lên, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước những lựa chọn của bản thân; đồng thời phê phán lối sống thụ động, ỷ lại, dễ dàng đầu hàng trước nghịch cảnh.

Lời giải

Học sinh trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc sống chủ động, bản lĩnh, không ngại đối mặt với khó khăn, thử thách trong hành trình trưởng thành của mỗi người. Có thể đề cập: Câu thơ “Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm” gợi lên lối sống mạnh mẽ, tự chủ, không dựa dẫm, ỷ lại hay né tránh khó khăn. Trong hành trình trưởng thành, tinh thần chủ động và bản lĩnh giúp con người dám bước ra khỏi vùng an toàn, mạnh dạn đối diện với thử thách, từ đó rèn luyện ý chí, tích luỹ kinh nghiệm và khám phá năng lực của bản thân. Những khó khăn, thất bại không chỉ là trở ngại mà còn là cơ hội để mỗi người trưởng thành, khẳng định giá trị và thực hiện những khát vọng của mình. Mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần nuôi dưỡng tinh thần tự lập, ý chí vươn lên, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước những lựa chọn của bản thân; đồng thời phê phán lối sống thụ động, ỷ lại, dễ dàng đầu hàng trước nghịch cảnh.

Hướng dẫn chấm:

Đảm bảo dung lượng khoảng 5–7 dòng, trình bày thành đoạn văn: 0,25 điểm.

Xác định đúng vấn đề cần bàn luận: ý nghĩa của việc sống chủ động, bản lĩnh, không ngại đối mặt với khó khăn, thử thách: 0,25 điểm.

Trình bày suy nghĩ hợp lí, sâu sắc về vai trò của tinh thần chủ động, bản lĩnh trong hành trình trưởng thành; có liên hệ, rút ra bài học nhận thức và hành động phù hợp: 0,5 điểm.

II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)

Câu 6

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình tượng cây tre trong đoạn thơ ở phần Đọc hiểu.

Lời giải

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình tượng cây tre trong đoạn trích bài thơ Tre Việt Nam (Nguyễn Duy) ở phần Đọc hiểu.

Yêu cầu chung:

Xác định đúng vấn đề nghị luận: phân tích hình tượng cây tre trong đoạn trích bài thơ Tre Việt Nam của Nguyễn Duy.

Đảm bảo hình thức đoạn văn, dung lượng khoảng 200 chữ; diễn đạt rõ ràng, đúng chính tả, dùng từ và ngữ pháp.

Yêu cầu cụ thể:

Vẻ đẹp bình dị và sức sống mãnh liệt, bền bỉ của cây tre: Qua những hình ảnh “thân gầy guộc, lá mong manh”, “ở đâu tre cũng xanh tươi”, “cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu”, cây tre hiện lên với dáng vẻ nhỏ bé, mảnh mai nhưng ẩn chứa sức sống phi thường. Dù phải sinh trưởng trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai khô cằn, tre vẫn kiên cường bám đất, vươn lên xanh tốt. Qua đó, cây tre trở thành biểu tượng cho sức sống bền bỉ, ý chí kiên cường và khả năng vượt qua nghịch cảnh của con người Việt Nam.

Đức tính cần cù, chịu thương chịu khó và tinh thần tự lực, tự cường: Những hình ảnh “mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều”, “rễ siêng không ngại đất nghèo”, “tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù” khắc hoạ sự chăm chỉ, nhẫn nại, biết chắt chiu những điều nhỏ bé để tạo nên sức mạnh. Đặc biệt, câu thơ “Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm” thể hiện tư thế hiên ngang, chủ động vươn lên, không cam chịu sự che khuất hay phụ thuộc vào hoàn cảnh. Qua đó, tác giả ngợi ca phẩm chất cần cù, ý chí tự lập và tinh thần bất khuất của con người Việt Nam.

Tinh thần đoàn kết, gắn bó và tình yêu thương sâu sắc: Qua những hình ảnh “thân bọc lấy thân”, “tay ôm tay níu”, “thương nhau tre không ở riêng”, cây tre hiện lên như một cộng đồng gắn bó, biết yêu thương, che chở và nâng đỡ lẫn nhau. Trong bão bùng, những thân tre càng xích lại gần nhau, cùng tạo nên những luỹ thành vững chắc. Hình tượng ấy tượng trưng cho truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, tinh thần đồng lòng và sức mạnh cộng đồng của dân tộc Việt Nam.

Đức hi sinh và sự tiếp nối bền vững giữa các thế hệ: Những câu thơ “Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng”, “Nòi tre đâu chịu mọc cong”, “Có manh áo cộc tre nhường cho con” gợi lên sự kế thừa, tiếp nối những phẩm chất tốt đẹp từ thế hệ trước đến thế hệ sau. Hình ảnh tre mẹ nhường áo cho con thể hiện tình yêu thương, đức hi sinh thầm lặng và sự chở che của thế hệ đi trước dành cho thế hệ mai sau. Qua đó, cây tre trở thành biểu tượng cho sức sống trường tồn, truyền thống tốt đẹp và ý thức gìn giữ cốt cách dân tộc.

Nghệ thuật và ý nghĩa: Thể thơ lục bát truyền thống giàu nhạc điệu; ngôn ngữ giản dị, mộc mạc mà giàu sức gợi; các biện pháp tu từ nhân hoá, ẩn dụ, điệp ngữ được sử dụng linh hoạt; hình ảnh thơ gần gũi, giàu tính biểu tượng cùng giọng điệu tha thiết, ngợi ca đã góp phần khắc hoạ sinh động hình tượng cây tre. Qua đó, Nguyễn Duy bày tỏ tình yêu quê hương, đất nước, niềm trân trọng và tự hào sâu sắc đối với những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam, đồng thời khẳng định sức sống bền bỉ và những giá trị truyền thống trường tồn của dân tộc.

Hướng dẫn chấm:

Yêu cầu chung về xác định vấn đề, hình thức, dung lượng và diễn đạt: 0,5 điểm.

Phân tích được các phương diện vẻ đẹp của hình tượng cây tre: sức sống bền bỉ, đức tính cần cù, tinh thần tự lực, đoàn kết, tình yêu thương, đức hi sinh và sự tiếp nối giữa các thế hệ; làm rõ đặc sắc nghệ thuật và ý nghĩa biểu tượng của hình tượng cây tre trong đoạn thơ: 1,5 điểm. Giám khảo căn cứ mức độ đáp ứng yêu cầu để cho điểm linh hoạt.

Câu 7

Có ý kiến cho rằng: “Giá trị của một con người không chỉ được tạo nên từ những nỗ lực vươn lên của bản thân mà còn được khẳng định qua cách họ sống và cống hiến cho cộng đồng.”

Từ góc nhìn của một người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về ý kiến trên.

Lời giải

Có ý kiến cho rằng: “Giá trị của một con người không chỉ được tạo nên từ những nỗ lực vươn lên của bản thân mà còn được khẳng định qua cách họ sống và cống hiến cho cộng đồng.”

Từ góc nhìn của một người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về ý kiến trên.

Yêu cầu chung:

Xác định đúng vấn đề nghị luận: mối quan hệ giữa sự nỗ lực vươn lên của bản thân và trách nhiệm sống, cống hiến cho cộng đồng trong việc tạo dựng, khẳng định giá trị của mỗi con người.

Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ, bố cục bài văn hợp lí.

Sử dụng lí lẽ và dẫn chứng phù hợp, diễn đạt rõ ràng, mạch lạc.

Yêu cầu cụ thể:

- Giải thích: Giá trị của một con người là những phẩm chất, năng lực, thành tựu và ý nghĩa tích cực mà mỗi cá nhân tạo dựng trong cuộc sống. Nỗ lực vươn lên của bản thân là quá trình không ngừng cố gắng, học tập, rèn luyện, vượt qua khó khăn, thử thách để hoàn thiện chính mình và thực hiện những mục tiêu, khát vọng. Sống và cống hiến cho cộng đồng là lối sống có trách nhiệm, biết quan tâm, sẻ chia, sẵn sàng đóng góp sức lực, trí tuệ và khả năng của bản thân vì lợi ích chung. Ý kiến khẳng định rằng giá trị đích thực của con người không chỉ được tạo nên từ những thành tựu và sự trưởng thành của cá nhân mà còn được thể hiện, khẳng định qua những đóng góp tích cực đối với cộng đồng, xã hội.

- Phân tích biểu hiện và thực trạng: Sự nỗ lực vươn lên được thể hiện qua tinh thần tự giác học tập, chủ động trau dồi tri thức, rèn luyện kĩ năng, kiên trì theo đuổi mục tiêu, không ngại đối mặt với khó khăn và thất bại. Tinh thần sống và cống hiến cho cộng đồng được thể hiện qua những hành động thiết thực như quan tâm, giúp đỡ người khác, tham gia hoạt động thiện nguyện, bảo vệ môi trường, đóng góp sáng kiến có ích và có trách nhiệm với những vấn đề chung của xã hội. Trong cuộc sống hiện nay, nhiều người trẻ không ngừng nỗ lực hoàn thiện bản thân, đồng thời tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng, lan tỏa những giá trị sống tốt đẹp. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận người trẻ thiếu ý chí phấn đấu, sống thụ động, ỷ lại hoặc chỉ quan tâm đến thành công, lợi ích cá nhân mà thờ ơ với trách nhiệm đối với tập thể, xã hội.

- Bàn luận vai trò của sự nỗ lực vươn lên trong việc tạo dựng giá trị bản thân: Nỗ lực vươn lên giúp con người phát huy năng lực, khám phá tiềm năng, khắc phục những hạn chế và từng bước hoàn thiện nhân cách. Quá trình vượt qua khó khăn, thử thách góp phần rèn luyện bản lĩnh, ý chí, sự kiên trì và tinh thần tự lập, giúp con người trưởng thành, tự tin đối diện với những biến động của cuộc sống. Những thành tựu đạt được từ sự cố gắng chân chính không chỉ mang lại niềm vui, sự tự hào mà còn tạo nền tảng để mỗi cá nhân thực hiện những mục tiêu lớn lao hơn. Đặc biệt, đối với thế hệ trẻ, tinh thần nỗ lực, chủ động học hỏi và không ngừng đổi mới là yếu tố quan trọng giúp họ thích nghi với sự phát triển của xã hội, nắm bắt cơ hội và khẳng định năng lực của bản thân.

- Bàn luận ý nghĩa của việc sống và cống hiến cho cộng đồng: Con người không tồn tại tách biệt mà luôn gắn bó với gia đình, tập thể và xã hội. Vì vậy, giá trị của mỗi cá nhân không chỉ được thể hiện qua những gì họ đạt được mà còn qua những điều tốt đẹp họ mang lại cho người khác. Sống và cống hiến cho cộng đồng giúp con người nuôi dưỡng lòng nhân ái, tinh thần trách nhiệm, biết quan tâm đến lợi ích chung và tìm thấy ý nghĩa sâu sắc hơn trong cuộc sống. Những hành động sẻ chia, đóng góp góp phần hỗ trợ những người gặp khó khăn, lan tỏa các giá trị nhân văn, củng cố sự gắn kết và tạo nên sức mạnh tập thể. Đồng thời, sự cống hiến còn giúp mỗi người nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của bản thân, được cộng đồng tin tưởng, trân trọng và có thêm động lực để tiếp tục phấn đấu. Một cuộc sống chỉ hướng đến lợi ích cá nhân có thể mang lại những thành tựu nhất định nhưng sẽ khó phát huy trọn vẹn ý nghĩa xã hội của những thành tựu ấy nếu thiếu đi sự quan tâm và trách nhiệm với cộng đồng.

- Phân tích mối quan hệ giữa nỗ lực cá nhân và trách nhiệm cống hiến cho cộng đồng: Nỗ lực hoàn thiện bản thân và sống có trách nhiệm với cộng đồng là hai phương diện có mối quan hệ gắn bó, bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau. Sự nỗ lực giúp con người tích lũy tri thức, rèn luyện năng lực, bản lĩnh và phẩm chất, từ đó có điều kiện đóng góp nhiều hơn cho xã hội. Ngược lại, quá trình cống hiến cho cộng đồng giúp mỗi người nhận thức sâu sắc hơn về ý nghĩa của sự cố gắng, tìm thấy động lực để tiếp tục học hỏi, trưởng thành và hoàn thiện chính mình. Nếu chỉ chú trọng phát triển bản thân mà thiếu ý thức trách nhiệm với cộng đồng, con người dễ rơi vào lối sống vị kỉ, thực dụng. Ngược lại, nếu chỉ có mong muốn cống hiến mà không chịu học tập, rèn luyện, nâng cao năng lực thì những đóng góp có thể bị hạn chế. Vì vậy, mỗi người cần biết kết hợp hài hòa giữa khát vọng khẳng định bản thân và tinh thần trách nhiệm xã hội, biến những thành tựu cá nhân thành nguồn lực tạo nên giá trị tích cực cho cộng đồng.

- Phân tích nguyên nhân và hệ quả của việc thiếu nỗ lực hoặc thiếu trách nhiệm với cộng đồng: Lối sống thụ động, thiếu ý chí phấn đấu hoặc chỉ chạy theo lợi ích cá nhân có thể bắt nguồn từ nhận thức chưa đúng đắn về giá trị cuộc sống, tâm lí ngại khó, ngại khổ, sự ích kỉ, ảnh hưởng của lối sống thực dụng hoặc việc quá đề cao thành công vật chất. Nếu không có tinh thần nỗ lực, con người dễ đánh mất cơ hội phát triển, thiếu bản lĩnh trước khó khăn và khó thực hiện những mục tiêu của bản thân. Nếu chỉ quan tâm đến thành công cá nhân mà thờ ơ với cộng đồng, con người có thể trở nên xa cách, thiếu sự đồng cảm, làm suy giảm tinh thần đoàn kết và trách nhiệm xã hội. Những biểu hiện ấy không chỉ hạn chế sự trưởng thành của mỗi cá nhân mà còn ảnh hưởng đến sự gắn kết và phát triển bền vững của cộng đồng.

- Đề xuất giải pháp: Mỗi người cần xây dựng mục tiêu sống đúng đắn, chủ động học tập, rèn luyện tri thức, kĩ năng, đạo đức và bản lĩnh để không ngừng hoàn thiện bản thân. Đồng thời, cần nuôi dưỡng lòng nhân ái, tinh thần trách nhiệm, biết quan tâm đến những người xung quanh và tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng. Gia đình và nhà trường cần chú trọng giáo dục ý chí vươn lên, tinh thần tự lập, trách nhiệm công dân và ý thức cống hiến cho thế hệ trẻ. Xã hội cần tạo điều kiện để người trẻ phát huy năng lực, tham gia các hoạt động tình nguyện, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và đóng góp vào sự phát triển chung. Đặc biệt, mỗi người trẻ cần biết gắn ước mơ, hoài bão cá nhân với những giá trị tốt đẹp của cộng đồng, bắt đầu từ những hành động nhỏ bé, thiết thực trong học tập và đời sống hằng ngày.

- Bàn luận mở rộng: Khẳng định giá trị bản thân không đồng nghĩa với việc phải đạt được những thành tựu lớn lao, nổi tiếng hay vượt trội hơn người khác. Mỗi cá nhân đều có những năng lực, hoàn cảnh và hành trình trưởng thành riêng; vì vậy, giá trị con người không nên chỉ được đánh giá qua địa vị, danh tiếng hoặc thành công vật chất. Đồng thời, cống hiến cho cộng đồng không nhất thiết phải là những hành động phi thường mà có thể bắt đầu từ sự tử tế, tinh thần trách nhiệm và những đóng góp thầm lặng trong cuộc sống. Sống vì cộng đồng cũng không có nghĩa là phủ nhận nhu cầu, lợi ích chính đáng của bản thân hay hi sinh một cách mù quáng. Cần biết cân bằng giữa phát triển cá nhân và trách nhiệm xã hội, giữa khát vọng cống hiến và khả năng thực tế của mỗi người. Phê phán những biểu hiện sống ích kỉ, thực dụng, chỉ chạy theo danh lợi hoặc lợi dụng các hoạt động cộng đồng để đánh bóng hình ảnh cá nhân.

- Bài học nhận thức và hành động: Người trẻ cần nhận thức rằng giá trị đích thực của con người không chỉ nằm ở những thành tựu đạt được mà còn được bồi đắp qua cách sống, thái độ ứng xử và những đóng góp tích cực cho cộng đồng. Từ đó, mỗi người cần chủ động xác lập lí tưởng sống đúng đắn, không ngừng học tập, rèn luyện, kiên trì theo đuổi ước mơ, đồng thời biết yêu thương, sẻ chia và có trách nhiệm với những người xung quanh. Cần tích cực tham gia các hoạt động xã hội, sẵn sàng đóng góp tri thức, sức lực và khả năng của bản thân để giải quyết những vấn đề chung. Mỗi người trẻ hãy nỗ lực để trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình, đồng thời biết dùng những điều tốt đẹp mà bản thân có được để mang lại giá trị cho người khác và xã hội.

- Lập luận, dẫn chứng: Lí lẽ hợp lí, dẫn chứng tiêu biểu, xác thực, gần gũi và có sức thuyết phục; có thể lựa chọn những tấm gương vượt khó vươn lên trong học tập, lao động, nghiên cứu khoa học; những người trẻ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo nhằm giải quyết các vấn đề xã hội; các y bác sĩ, thầy cô giáo, chiến sĩ, tình nguyện viên có nhiều đóng góp cho cộng đồng; những hoạt động hỗ trợ đồng bào vùng thiên tai, bảo vệ môi trường hoặc những sáng kiến phục vụ lợi ích chung để phân tích, đánh giá. Bài viết cần thể hiện rõ góc nhìn của người trẻ, làm nổi bật mối quan hệ giữa nỗ lực hoàn thiện bản thân và trách nhiệm cống hiến cho cộng đồng; tránh liệt kê dẫn chứng chung chung hoặc bàn luận thiên lệch về một phương diện của vấn đề.

Hướng dẫn chấm:

Giải thích đúng vấn đề nghị luận, làm rõ nội dung ý kiến về giá trị con người, sự nỗ lực vươn lên của bản thân và trách nhiệm sống, cống hiến cho cộng đồng: 0,5 điểm.

Phân tích, bàn luận được biểu hiện, vai trò của sự nỗ lực vươn lên và ý nghĩa của việc sống, cống hiến cho cộng đồng; làm rõ mối quan hệ giữa hai phương diện trong việc tạo dựng, khẳng định giá trị con người: 1,5 điểm.

Mở rộng vấn đề, đề xuất giải pháp phù hợp và rút ra bài học nhận thức, hành động thiết thực đối với thế hệ trẻ: 1,0 điểm.

Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp, có sức thuyết phục; diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, có suy nghĩ độc lập và sáng tạo: 0,5 điểm.

Đảm bảo bố cục, dung lượng khoảng 600 chữ và các yêu cầu của bài văn nghị luận xã hội: 0,5 điểm.

Bảng tra cứu nhanh đáp án trọn bộ 7 câu hỏiNhấn để đóng / mở
Câu1234567
Đáp ánDấu hiệu xác định thể thơ của đoạn trích: Thể thơ lục bát, với các cặp câu thơ gồm một câu sáu tiếng và một câu tám tiếng xen kẽ nhau; tiếng cuối câu sáu hiệp vần với tiếng thứ sáu của câu tám, tiếng cuối câu tám hiệp vần với tiếng cuối câu sáu tiếp theo.Những từ ngữ, hình ảnh thể hiện sự gắn bó, đoàn kết của tre trong khổ thơ: “thân bọc lấy thân”, “tay ôm tay níu”, “tre gần nhau thêm”, “thương nhau”, “tre không ở riêng”, “luỹ thành”.Các từ ngữ, hình ảnh gợi lên sự gắn bó khăng khít, tinh thần đoàn kết, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau của những cây tre. Qua đó, tác giả làm nổi bật sức mạnh của sự đồng lòng, gắn kết, đồng thời ngợi ca truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam.Hai câu thơ:“Rễ siêng không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù.”Sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá thông qua các từ ngữ “siêng”, “không ngại”, “cần cù”, vốn dùng để miêu tả phẩm chất, thái độ của con người nhưng được tác giả gắn với hình ảnh rễ tre.Về nội dung: Biện pháp nhân hoá khiến hình ảnh cây tre hiện lên gần gũi, sinh động, mang những phẩm chất tốt đẹp của con người. Dù sinh trưởng trên vùng đất khô cằn, nghèo dinh dưỡng, tre vẫn bền bỉ bám rễ, chắt chiu nguồn sống để vươn lên mạnh mẽ.Hình ảnh rễ tre “siêng”, “cần cù” còn mang ý nghĩa biểu tượng cho con người Việt Nam với đức tính chăm chỉ, chịu thương chịu khó, kiên trì lao động và không khuất phục trước hoàn cảnh khắc nghiệt.Về tình cảm, thái độ: Qua hình tượng cây tre, tác giả bày tỏ niềm trân trọng, ngợi ca và tự hào đối với những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam; đồng thời gửi gắm thông điệp về ý chí, nghị lực và tinh thần vượt khó trong cuộc sống.Về nghệ thuật: Biện pháp nhân hoá làm tăng sức gợi hình, gợi cảm, khiến hình tượng cây tre trở nên giàu sức sống, gần gũi và có chiều sâu biểu tượng, góp phần tạo nên giọng thơ tha thiết, giàu cảm xúc.Cảm xúc của chủ thể trữ tình trong đoạn thơ có sự vận động từ ngạc nhiên, ngưỡng mộ trước sức sống mãnh liệt của cây tre đến trân trọng, tự hào về những phẩm chất tốt đẹp của tre, qua đó ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn và cốt cách con người Việt Nam.Ban đầu, cảm xúc được khơi nguồn từ sự ngạc nhiên, thán phục trước vẻ ngoài nhỏ bé, mảnh mai nhưng lại có sức sống bền bỉ, phi thường của cây tre. Dù sống trên đất đai khô cằn, sỏi đá, tre vẫn xanh tươi, vươn mình mạnh mẽ và tạo nên những luỹ thành vững chắc.Tiếp đó, cảm xúc chuyển sang niềm trân trọng, ngợi ca trước những phẩm chất đáng quý của tre: cần cù, chịu thương chịu khó, kiên cường, bất khuất, không ngại gian khổ và luôn hướng về ánh sáng.Sau cùng, cảm xúc được nâng lên thành niềm xúc động, tự hào sâu sắc trước tinh thần đoàn kết, tình yêu thương, đức hi sinh và ý thức tiếp nối giữa các thế hệ tre. Qua đó, tác giả khẳng định sức sống trường tồn cùng những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.Sự vận động cảm xúc diễn ra tự nhiên, nhất quán, từ những rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên đến những suy ngẫm sâu sắc về con người và dân tộc. Qua đó, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước cùng niềm tự hào, trân trọng của nhà thơ đối với những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam.Học sinh trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc sống chủ động, bản lĩnh, không ngại đối mặt với khó khăn, thử thách trong hành trình trưởng thành của mỗi người. Có thể đề cập: Câu thơ “Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm” gợi lên lối sống mạnh mẽ, tự chủ, không dựa dẫm, ỷ lại hay né tránh khó khăn. Trong hành trình trưởng thành, tinh thần chủ động và bản lĩnh giúp con người dám bước ra khỏi vùng an toàn, mạnh dạn đối diện với thử thách, từ đó rèn luyện ý chí, tích luỹ kinh nghiệm và khám phá năng lực của bản thân. Những khó khăn, thất bại không chỉ là trở ngại mà còn là cơ hội để mỗi người trưởng thành, khẳng định giá trị và thực hiện những khát vọng của mình. Mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần nuôi dưỡng tinh thần tự lập, ý chí vươn lên, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước những lựa chọn của bản thân; đồng thời phê phán lối sống thụ động, ỷ lại, dễ dàng đầu hàng trước nghịch cảnh.--
Đáp án & Lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử THPTQG năm 2027 - Mã đề 14 - Ngữ Văn môn Ngữ văn 2027 (Thi Tốt nghiệp THPT) - 9Study