Đọc thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 3:
Tế bào là đơn vị cấu trúc và chức năng cơ bản của mọi sinh vật, và được chia thành hai loại riêng biệt: tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực. Vi khuẩn và Archaea (vi khuẩn cổ) có cấu trúc tế bào nhân sơ. Sinh vật nguyên sinh, nấm, động vật và thực vật đều được cấu tạo từ tế bào nhân thực.
Tất cả các loại tế bào đều có chung một số đặc điểm cơ bản: chúng đều được bao bọc bởi một màng chọn lọc, gọi là màng sinh chất (còn gọi là màng tế bào). Bên trong tất cả các tế bào là một chất bán lỏng, giống như thạch, gọi là bào tương, trong đó các thành phần dưới tế bào được cấy vào. Tất cả các tế bào đều chứa nhiễm sắc thể, mang gene ở dạng DNA, và ribosome — những phức hợp nhỏ tạo ra protein.
Sự khác biệt chính giữa tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực là vị trí của DNA. Ở tế bào nhân thực, hầu hết DNA nằm trong một bào quan gọi là nhân, được bao bọc bởi một màng kép. Ở tế bào nhân sơ, DNA tập trung ở một vùng không có màng bao bọc, gọi là nucleoid (vùng nhân).
Nhóm sinh vật nào sau đây được cấu tạo từ tế bào nhân sơ? Chọn HAI đáp án đúng.
Đoạn văn nêu rõ: "Vi khuẩn và Archaea (vi khuẩn cổ) có cấu trúc tế bào nhân sơ", còn sinh vật nguyên sinh và thực vật đều thuộc nhóm sinh vật nhân thực. Chọn A, B.
Đọc thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 3:
Tế bào là đơn vị cấu trúc và chức năng cơ bản của mọi sinh vật, và được chia thành hai loại riêng biệt: tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực. Vi khuẩn và Archaea (vi khuẩn cổ) có cấu trúc tế bào nhân sơ. Sinh vật nguyên sinh, nấm, động vật và thực vật đều được cấu tạo từ tế bào nhân thực.
Tất cả các loại tế bào đều có chung một số đặc điểm cơ bản: chúng đều được bao bọc bởi một màng chọn lọc, gọi là màng sinh chất (còn gọi là màng tế bào). Bên trong tất cả các tế bào là một chất bán lỏng, giống như thạch, gọi là bào tương, trong đó các thành phần dưới tế bào được cấy vào. Tất cả các tế bào đều chứa nhiễm sắc thể, mang gene ở dạng DNA, và ribosome — những phức hợp nhỏ tạo ra protein.
Sự khác biệt chính giữa tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực là vị trí của DNA. Ở tế bào nhân thực, hầu hết DNA nằm trong một bào quan gọi là nhân, được bao bọc bởi một màng kép. Ở tế bào nhân sơ, DNA tập trung ở một vùng không có màng bao bọc, gọi là nucleoid (vùng nhân).
Tế bào nhân sơ được bao bọc bởi một màng chọn lọc, được gọi là [1]_____. DNA của tế bào nhân sơ tập trung ở một vùng không có màng bao bọc, gọi là [2]_____.
Đoạn văn nêu: "chúng đều được bao bọc bởi một màng chọn lọc, gọi là màng sinh chất" và "Ở tế bào nhân sơ, DNA tập trung ở một vùng không có màng bao bọc, gọi là nucleoid (vùng nhân)".
Đọc thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 3:
Tế bào là đơn vị cấu trúc và chức năng cơ bản của mọi sinh vật, và được chia thành hai loại riêng biệt: tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực. Vi khuẩn và Archaea (vi khuẩn cổ) có cấu trúc tế bào nhân sơ. Sinh vật nguyên sinh, nấm, động vật và thực vật đều được cấu tạo từ tế bào nhân thực.
Tất cả các loại tế bào đều có chung một số đặc điểm cơ bản: chúng đều được bao bọc bởi một màng chọn lọc, gọi là màng sinh chất (còn gọi là màng tế bào). Bên trong tất cả các tế bào là một chất bán lỏng, giống như thạch, gọi là bào tương, trong đó các thành phần dưới tế bào được cấy vào. Tất cả các tế bào đều chứa nhiễm sắc thể, mang gene ở dạng DNA, và ribosome — những phức hợp nhỏ tạo ra protein.
Sự khác biệt chính giữa tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực là vị trí của DNA. Ở tế bào nhân thực, hầu hết DNA nằm trong một bào quan gọi là nhân, được bao bọc bởi một màng kép. Ở tế bào nhân sơ, DNA tập trung ở một vùng không có màng bao bọc, gọi là nucleoid (vùng nhân).
Nhận định dưới đây đúng hay sai? "Vì ribosome có chức năng tổng hợp protein nên bào quan này có mặt ở cả tế bào nhân sơ lẫn tế bào nhân thực."
Đúng
Sai
Chọn A
Đoạn văn nêu rõ: "Tất cả các tế bào đều chứa nhiễm sắc thể... và ribosome" — ribosome là bào quan chung, có mặt ở mọi loại tế bào (cả nhân sơ và nhân thực), vì tế bào nào cũng cần tổng hợp protein. Chọn A.
Đọc thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 4 đến Câu 9:
Thalassemia (còn được gọi là bệnh tan máu bẩm sinh) là một bệnh lý huyết học di truyền liên quan đến sự bất thường của hemoglobin (một cấu trúc protein trong hồng cầu có chức năng vận chuyển oxy). Ở bệnh nhân Thalassemia, các hồng cầu bị phá hủy quá mức dẫn đến tình trạng thiếu máu.
Thalassemia là một bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường. Tỷ lệ người mang gene bệnh là khoảng 7% dân số thế giới, trong đó có khoảng 1,1% cặp vợ chồng có nguy cơ sinh con bị bệnh hoặc mang gene bệnh Thalassemia, ước tính mỗi năm có khoảng 300.000 đến 500.000 trẻ sinh ra mắc Thalassemia ở mức độ nặng. Tại Việt Nam, bệnh Thalassemia được ghi nhận từ năm 1960, hiện nay có khoảng 10 triệu người mang gene bệnh, khoảng 20.000 người bị Thalassemia thể nặng, ước tính mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ sinh ra mắc bệnh.
Hemoglobin gồm có hai thành phần là Hem và globin, trong đó globin gồm các chuỗi polypeptide. Bệnh Thalassemia xảy ra khi có đột biến tại một hay nhiều gene liên quan đến sự tổng hợp các chuỗi globin, dẫn đến tình trạng thiếu hụt các chuỗi globin này, làm cho hồng cầu vỡ sớm (tan máu) và biểu hiện triệu chứng thiếu máu. Bệnh nhân mắc Thalassemia có thể nhận gene bệnh từ bố hoặc mẹ, hoặc cả bố và mẹ. Bệnh được gọi tên theo chuỗi globin bị khiếm khuyết, gồm 2 loại bệnh Thalassemia chính:
+ α-Thalassemia: thiếu hụt tổng hợp chuỗi α, do đột biến tại một hay nhiều gene tổng hợp chuỗi α-globin.
+ β-Thalassemia: thiếu hụt tổng hợp chuỗi β, do đột biến tại một hay nhiều gene tổng hợp chuỗi β-globin.
Thalassemia là bệnh di truyền thuộc dạng nào dưới đây?
Chọn C
Đoạn văn nêu rõ: "Thalassemia là một bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường". Chọn C.
Đọc thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 4 đến Câu 9:
Thalassemia (còn được gọi là bệnh tan máu bẩm sinh) là một bệnh lý huyết học di truyền liên quan đến sự bất thường của hemoglobin (một cấu trúc protein trong hồng cầu có chức năng vận chuyển oxy). Ở bệnh nhân Thalassemia, các hồng cầu bị phá hủy quá mức dẫn đến tình trạng thiếu máu.
Thalassemia là một bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường. Tỷ lệ người mang gene bệnh là khoảng 7% dân số thế giới, trong đó có khoảng 1,1% cặp vợ chồng có nguy cơ sinh con bị bệnh hoặc mang gene bệnh Thalassemia, ước tính mỗi năm có khoảng 300.000 đến 500.000 trẻ sinh ra mắc Thalassemia ở mức độ nặng. Tại Việt Nam, bệnh Thalassemia được ghi nhận từ năm 1960, hiện nay có khoảng 10 triệu người mang gene bệnh, khoảng 20.000 người bị Thalassemia thể nặng, ước tính mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ sinh ra mắc bệnh.
Hemoglobin gồm có hai thành phần là Hem và globin, trong đó globin gồm các chuỗi polypeptide. Bệnh Thalassemia xảy ra khi có đột biến tại một hay nhiều gene liên quan đến sự tổng hợp các chuỗi globin, dẫn đến tình trạng thiếu hụt các chuỗi globin này, làm cho hồng cầu vỡ sớm (tan máu) và biểu hiện triệu chứng thiếu máu. Bệnh nhân mắc Thalassemia có thể nhận gene bệnh từ bố hoặc mẹ, hoặc cả bố và mẹ. Bệnh được gọi tên theo chuỗi globin bị khiếm khuyết, gồm 2 loại bệnh Thalassemia chính:
+ α-Thalassemia: thiếu hụt tổng hợp chuỗi α, do đột biến tại một hay nhiều gene tổng hợp chuỗi α-globin.
+ β-Thalassemia: thiếu hụt tổng hợp chuỗi β, do đột biến tại một hay nhiều gene tổng hợp chuỗi β-globin.
Tình trạng phổ biến ở các bệnh nhân mắc bệnh Thalassemia là [.......].
Đáp án: thiếu máu
Đoạn văn nêu rõ: "các hồng cầu bị phá hủy quá mức dẫn đến tình trạng thiếu máu".
Đọc thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 4 đến Câu 9:
Thalassemia (còn được gọi là bệnh tan máu bẩm sinh) là một bệnh lý huyết học di truyền liên quan đến sự bất thường của hemoglobin (một cấu trúc protein trong hồng cầu có chức năng vận chuyển oxy). Ở bệnh nhân Thalassemia, các hồng cầu bị phá hủy quá mức dẫn đến tình trạng thiếu máu.
Thalassemia là một bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường. Tỷ lệ người mang gene bệnh là khoảng 7% dân số thế giới, trong đó có khoảng 1,1% cặp vợ chồng có nguy cơ sinh con bị bệnh hoặc mang gene bệnh Thalassemia, ước tính mỗi năm có khoảng 300.000 đến 500.000 trẻ sinh ra mắc Thalassemia ở mức độ nặng. Tại Việt Nam, bệnh Thalassemia được ghi nhận từ năm 1960, hiện nay có khoảng 10 triệu người mang gene bệnh, khoảng 20.000 người bị Thalassemia thể nặng, ước tính mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ sinh ra mắc bệnh.
Hemoglobin gồm có hai thành phần là Hem và globin, trong đó globin gồm các chuỗi polypeptide. Bệnh Thalassemia xảy ra khi có đột biến tại một hay nhiều gene liên quan đến sự tổng hợp các chuỗi globin, dẫn đến tình trạng thiếu hụt các chuỗi globin này, làm cho hồng cầu vỡ sớm (tan máu) và biểu hiện triệu chứng thiếu máu. Bệnh nhân mắc Thalassemia có thể nhận gene bệnh từ bố hoặc mẹ, hoặc cả bố và mẹ. Bệnh được gọi tên theo chuỗi globin bị khiếm khuyết, gồm 2 loại bệnh Thalassemia chính:
+ α-Thalassemia: thiếu hụt tổng hợp chuỗi α, do đột biến tại một hay nhiều gene tổng hợp chuỗi α-globin.
+ β-Thalassemia: thiếu hụt tổng hợp chuỗi β, do đột biến tại một hay nhiều gene tổng hợp chuỗi β-globin.
Hồng cầu bị dị dạng ở bệnh nhân Thalassemia là do sự bất thường của [.......] (một cấu trúc protein trong hồng cầu có chức năng vận chuyển oxy).
Đáp án: hemoglobin
Đoạn văn nêu rõ Thalassemia "liên quan đến sự bất thường của hemoglobin".
Đọc thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 4 đến Câu 9:
Thalassemia (còn được gọi là bệnh tan máu bẩm sinh) là một bệnh lý huyết học di truyền liên quan đến sự bất thường của hemoglobin (một cấu trúc protein trong hồng cầu có chức năng vận chuyển oxy). Ở bệnh nhân Thalassemia, các hồng cầu bị phá hủy quá mức dẫn đến tình trạng thiếu máu.
Thalassemia là một bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường. Tỷ lệ người mang gene bệnh là khoảng 7% dân số thế giới, trong đó có khoảng 1,1% cặp vợ chồng có nguy cơ sinh con bị bệnh hoặc mang gene bệnh Thalassemia, ước tính mỗi năm có khoảng 300.000 đến 500.000 trẻ sinh ra mắc Thalassemia ở mức độ nặng. Tại Việt Nam, bệnh Thalassemia được ghi nhận từ năm 1960, hiện nay có khoảng 10 triệu người mang gene bệnh, khoảng 20.000 người bị Thalassemia thể nặng, ước tính mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ sinh ra mắc bệnh.
Hemoglobin gồm có hai thành phần là Hem và globin, trong đó globin gồm các chuỗi polypeptide. Bệnh Thalassemia xảy ra khi có đột biến tại một hay nhiều gene liên quan đến sự tổng hợp các chuỗi globin, dẫn đến tình trạng thiếu hụt các chuỗi globin này, làm cho hồng cầu vỡ sớm (tan máu) và biểu hiện triệu chứng thiếu máu. Bệnh nhân mắc Thalassemia có thể nhận gene bệnh từ bố hoặc mẹ, hoặc cả bố và mẹ. Bệnh được gọi tên theo chuỗi globin bị khiếm khuyết, gồm 2 loại bệnh Thalassemia chính:
+ α-Thalassemia: thiếu hụt tổng hợp chuỗi α, do đột biến tại một hay nhiều gene tổng hợp chuỗi α-globin.
+ β-Thalassemia: thiếu hụt tổng hợp chuỗi β, do đột biến tại một hay nhiều gene tổng hợp chuỗi β-globin.
Bệnh Thalassemia xảy ra là do đột biến gene liên quan đến sự tổng hợp chuỗi [1]_____, làm cho [2]_____ bị vỡ sớm và dẫn đến tình trạng thiếu máu.
Đoạn văn nêu rõ: đột biến "tại một hay nhiều gene liên quan đến sự tổng hợp các chuỗi globin, dẫn đến... hồng cầu vỡ sớm (tan máu)".
Đọc thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 4 đến Câu 9:
Thalassemia (còn được gọi là bệnh tan máu bẩm sinh) là một bệnh lý huyết học di truyền liên quan đến sự bất thường của hemoglobin (một cấu trúc protein trong hồng cầu có chức năng vận chuyển oxy). Ở bệnh nhân Thalassemia, các hồng cầu bị phá hủy quá mức dẫn đến tình trạng thiếu máu.
Thalassemia là một bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường. Tỷ lệ người mang gene bệnh là khoảng 7% dân số thế giới, trong đó có khoảng 1,1% cặp vợ chồng có nguy cơ sinh con bị bệnh hoặc mang gene bệnh Thalassemia, ước tính mỗi năm có khoảng 300.000 đến 500.000 trẻ sinh ra mắc Thalassemia ở mức độ nặng. Tại Việt Nam, bệnh Thalassemia được ghi nhận từ năm 1960, hiện nay có khoảng 10 triệu người mang gene bệnh, khoảng 20.000 người bị Thalassemia thể nặng, ước tính mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ sinh ra mắc bệnh.
Hemoglobin gồm có hai thành phần là Hem và globin, trong đó globin gồm các chuỗi polypeptide. Bệnh Thalassemia xảy ra khi có đột biến tại một hay nhiều gene liên quan đến sự tổng hợp các chuỗi globin, dẫn đến tình trạng thiếu hụt các chuỗi globin này, làm cho hồng cầu vỡ sớm (tan máu) và biểu hiện triệu chứng thiếu máu. Bệnh nhân mắc Thalassemia có thể nhận gene bệnh từ bố hoặc mẹ, hoặc cả bố và mẹ. Bệnh được gọi tên theo chuỗi globin bị khiếm khuyết, gồm 2 loại bệnh Thalassemia chính:
+ α-Thalassemia: thiếu hụt tổng hợp chuỗi α, do đột biến tại một hay nhiều gene tổng hợp chuỗi α-globin.
+ β-Thalassemia: thiếu hụt tổng hợp chuỗi β, do đột biến tại một hay nhiều gene tổng hợp chuỗi β-globin.
Một bệnh nhân bị thiếu máu, khi xét nghiệm phát hiện mắc bệnh Thalassemia do đột biến gene tại gene tổng hợp chuỗi α-globin. Bệnh nhân này đã mắc bệnh Thalassemia loại nào?
Chọn A
Theo định nghĩa trong đoạn văn, α-Thalassemia là thể bệnh do đột biến tại gene tổng hợp chuỗi α-globin, gây thiếu hụt chuỗi α. Bệnh nhân này thuộc thể α-Thalassemia. Chọn A.
Đọc thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 4 đến Câu 9:
Thalassemia (còn được gọi là bệnh tan máu bẩm sinh) là một bệnh lý huyết học di truyền liên quan đến sự bất thường của hemoglobin (một cấu trúc protein trong hồng cầu có chức năng vận chuyển oxy). Ở bệnh nhân Thalassemia, các hồng cầu bị phá hủy quá mức dẫn đến tình trạng thiếu máu.
Thalassemia là một bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường. Tỷ lệ người mang gene bệnh là khoảng 7% dân số thế giới, trong đó có khoảng 1,1% cặp vợ chồng có nguy cơ sinh con bị bệnh hoặc mang gene bệnh Thalassemia, ước tính mỗi năm có khoảng 300.000 đến 500.000 trẻ sinh ra mắc Thalassemia ở mức độ nặng. Tại Việt Nam, bệnh Thalassemia được ghi nhận từ năm 1960, hiện nay có khoảng 10 triệu người mang gene bệnh, khoảng 20.000 người bị Thalassemia thể nặng, ước tính mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ sinh ra mắc bệnh.
Hemoglobin gồm có hai thành phần là Hem và globin, trong đó globin gồm các chuỗi polypeptide. Bệnh Thalassemia xảy ra khi có đột biến tại một hay nhiều gene liên quan đến sự tổng hợp các chuỗi globin, dẫn đến tình trạng thiếu hụt các chuỗi globin này, làm cho hồng cầu vỡ sớm (tan máu) và biểu hiện triệu chứng thiếu máu. Bệnh nhân mắc Thalassemia có thể nhận gene bệnh từ bố hoặc mẹ, hoặc cả bố và mẹ. Bệnh được gọi tên theo chuỗi globin bị khiếm khuyết, gồm 2 loại bệnh Thalassemia chính:
+ α-Thalassemia: thiếu hụt tổng hợp chuỗi α, do đột biến tại một hay nhiều gene tổng hợp chuỗi α-globin.
+ β-Thalassemia: thiếu hụt tổng hợp chuỗi β, do đột biến tại một hay nhiều gene tổng hợp chuỗi β-globin.
Nhận định dưới đây đúng hay sai? "Một cặp vợ chồng không biểu hiện bệnh Thalassemia, khi xét nghiệm phát hiện cả hai đều mang gene gây bệnh. Nếu cặp vợ chồng này sinh con thì xác suất sinh con mắc bệnh Thalassemia là 50%."
Đúng
Sai
Chọn B
Vì Thalassemia là bệnh gene lặn trên NST thường, cả hai vợ chồng không biểu hiện bệnh nhưng đều mang gene bệnh có nghĩa cả hai đều có kiểu gene dị hợp tử (Aa). Theo quy luật phân li của Mendel, phép lai Aa × Aa cho tỉ lệ kiểu gene đời con là 1 AA : 2 Aa : 1 aa, tức xác suất con mắc bệnh (kiểu gene aa, đồng hợp lặn) chỉ là 1/4 = 25%, không phải 50%. (50% mới là xác suất con mang gene bệnh ở thể dị hợp Aa — không biểu hiện bệnh — chứ không phải xác suất con MẮC bệnh). Chọn B.
Đọc thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 10 đến Câu 12:
Nuôi cấy mô In Vitro là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình nuôi cấy vô trùng, trong ống nghiệm, các bộ phận tách rời khác nhau của thực vật. Kỹ thuật nuôi cấy mô In Vitro được dùng cho cả hai mục đích nhân giống và cải thiện di truyền (ví dụ: giống cây trồng), sản xuất sinh khối các sản phẩm hóa sinh, phục vụ nghiên cứu bệnh học thực vật, cũng như duy trì và bảo quản các nguồn gene quý.
Các hình thức nuôi cấy mô gồm có nuôi cấy mô thực vật và nuôi cấy bằng tế bào trần.
- Nuôi cấy mô tế bào trần: Tế bào trần thực chất là tế bào đơn đã được tách bỏ lớp vỏ cellulose, vẫn có sức sống và duy trì đầy đủ các chức năng sẵn có. Tế bào trần có thể được tách trực tiếp từ các bộ phận của thực vật (lá, rễ...) bằng phương pháp cơ học. Trong điều kiện nuôi cấy thích hợp, tế bào trần có khả năng tái sinh màng tế bào, tiếp tục phân chia và tái sinh thành cây hoàn chỉnh. Hiện nay kỹ thuật nuôi cấy tế bào trần đang tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện.
- Nuôi cấy mô thực vật: Nuôi cấy mô tế bào thực vật là một lĩnh vực của công nghệ sinh học thực vật. Dựa trên tính toàn năng của tế bào và khả năng biệt hóa, phản biệt hóa của chúng mà người ta có thể tái sinh cây hoàn chỉnh từ một tế bào hay một mẫu mô nào đó.
Nhận định dưới đây đúng hay sai? "Với một loài phong lan quý hiếm, người ta có thể thực hiện kĩ thuật nuôi cấy In Vitro để nhân nhanh giống loài này chỉ với 1 mô lá."
Đúng
Sai
Chọn A
Nhờ tính toàn năng của tế bào thực vật, người ta hoàn toàn có thể tái sinh cây hoàn chỉnh từ một mẫu mô (kể cả mô lá) thông qua kỹ thuật nuôi cấy mô In Vitro, từ đó nhân nhanh số lượng lớn cây giống đồng nhất về mặt di truyền — đây chính là một trong những ứng dụng quan trọng nhất của kỹ thuật này đối với các giống quý hiếm. Chọn A.
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đáp án | A | - | A | C | thiếu máu | hemoglobin | - | A | B | A |
Đang xem 10 câu đầu của đề
Đề có tất cả 12 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.
Đăng nhập để làm bài