Đáp án & lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử TSA Môn Sinh học 2027 - Đề số 24

Đánh giá Tư duy (TSA)Môn Tư duy khoa học - Sinh họcNăm 202713 câuChuẩn GDPT mới

Phần I

Câu 1

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5:

Năm 1906, cao nguyên Kaibab ở phía bắc bang Arizona (Hoa Kỳ) được Tổng thống Theodore Roosevelt tuyên bố là nơi bảo tồn động vật liên bang. Trước đó, Kaibab là nơi sinh sống của hươu, gia súc, cừu và nhiều loài động vật ăn thịt. Khoảng 4.000 con hươu là nguồn thức ăn quan trọng của chó sói, gấu, sư tử núi và linh miêu sống trên cao nguyên; chúng còn phải cạnh tranh với cừu, ngựa và gia súc để giành nguồn cỏ hạn chế.

Khi khu bảo tồn được lập ra, mọi hoạt động săn bắn hươu đều bị cấm nhằm bảo vệ “đàn hươu tốt nhất nước Mỹ”. Năm 1907, Sở Lâm nghiệp Hoa Kỳ triển khai kế hoạch loại bỏ những kẻ thù tự nhiên của hươu; cừu và gia súc cũng bị cấm đến Kaibab. Khi hươu thoát khỏi sự kiểm soát và cân bằng tự nhiên từ các sinh vật đối kháng, số lượng quần thể bắt đầu tăng nhanh chóng. Đầu những năm 1920, các nhà khoa học ước tính có tới 100.000 con hươu trên cao nguyên.

Sự tăng quá mức cùng với việc chăn thả tự do khiến dịch bệnh bắt đầu tấn công quần thể. Hoạt động săn bắn được mở lại nhưng không đủ làm giảm số lượng hươu. Có ước tính cho rằng tới 60.000 con hươu chết đói trong hai mùa đông 1925 và 1926. Hai nhà khoa học trao đổi quan điểm về “sự cố hươu Kaibab”.

Hình minh họa

Hình. Hươu (ảnh minh họa)

Nhà khoa học A:

Cao nguyên Kaibab nên là một bài học về việc cố gắng can thiệp vào mối quan hệ giữa kẻ săn mồi và con mồi. Đây là ví dụ điển hình về việc kiểm soát động vật ăn thịt làm tổn thương chính loài mà các nhà bảo tồn đang cố gắng giúp đỡ. Nếu những kẻ săn mồi không bị loại bỏ khỏi cao nguyên, quần thể hươu sẽ phát triển trong điều kiện bình thường và không phải chịu số phận tàn khốc của nạn đói và bệnh tật. Đây là trường hợp đạo đức cần được các nhà sinh vật học chú ý khi xem xét việc kiểm soát động vật ăn thịt.

Nhà khoa học B:

Việc loại bỏ động vật ăn thịt chỉ là một phần nhỏ của thảm họa trên Kaibab và đã bị cường điệu hóa quá mức. Quần thể hươu tăng nhanh do nguồn cung cấp thực phẩm tăng lên sau khi loại bỏ các loài cạnh tranh. Nguồn lương thực tăng cho phép số lượng hươu tăng nhanh và cũng giảm nhanh do các yếu tố còn phụ thuộc vào mật độ của nạn đói và bệnh tật. Trên thực tế, dữ liệu về tổng số lượng hươu cao nhất trên cao nguyên là không đáng tin cậy và có thể chỉ có 30.000 con. Các yếu tố phức tạp hơn so với những gì các nhà sinh thái học ban đầu tin tưởng, nhưng bài học vẫn có giá trị.

Hình minh họa

Lưới thức ăn trên cao nguyên Kaibab (dùng cho Câu 2)

 

Sinh vật nào sau đây cạnh tranh nguồn thức ăn (cỏ) trực tiếp với hươu trên cao nguyên Kaibab?

A
Gấu.
B
Sư tử núi.
C
Linh miêu.
D
Cừu.

Lời giải

Chọn D

Văn bản nêu hươu phải cạnh tranh với cừu, ngựa và gia súc để giành nguồn cỏ hạn chế; gấu, sư tử núi và linh miêu là những loài săn bắt hươu (ăn thịt), không cạnh tranh nguồn cỏ với hươu ⇒ chọn D.

Câu 2

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5:

Năm 1906, cao nguyên Kaibab ở phía bắc bang Arizona (Hoa Kỳ) được Tổng thống Theodore Roosevelt tuyên bố là nơi bảo tồn động vật liên bang. Trước đó, Kaibab là nơi sinh sống của hươu, gia súc, cừu và nhiều loài động vật ăn thịt. Khoảng 4.000 con hươu là nguồn thức ăn quan trọng của chó sói, gấu, sư tử núi và linh miêu sống trên cao nguyên; chúng còn phải cạnh tranh với cừu, ngựa và gia súc để giành nguồn cỏ hạn chế.

Khi khu bảo tồn được lập ra, mọi hoạt động săn bắn hươu đều bị cấm nhằm bảo vệ “đàn hươu tốt nhất nước Mỹ”. Năm 1907, Sở Lâm nghiệp Hoa Kỳ triển khai kế hoạch loại bỏ những kẻ thù tự nhiên của hươu; cừu và gia súc cũng bị cấm đến Kaibab. Khi hươu thoát khỏi sự kiểm soát và cân bằng tự nhiên từ các sinh vật đối kháng, số lượng quần thể bắt đầu tăng nhanh chóng. Đầu những năm 1920, các nhà khoa học ước tính có tới 100.000 con hươu trên cao nguyên.

Sự tăng quá mức cùng với việc chăn thả tự do khiến dịch bệnh bắt đầu tấn công quần thể. Hoạt động săn bắn được mở lại nhưng không đủ làm giảm số lượng hươu. Có ước tính cho rằng tới 60.000 con hươu chết đói trong hai mùa đông 1925 và 1926. Hai nhà khoa học trao đổi quan điểm về “sự cố hươu Kaibab”.

Hình minh họa

Hình. Hươu (ảnh minh họa)

Nhà khoa học A:

Cao nguyên Kaibab nên là một bài học về việc cố gắng can thiệp vào mối quan hệ giữa kẻ săn mồi và con mồi. Đây là ví dụ điển hình về việc kiểm soát động vật ăn thịt làm tổn thương chính loài mà các nhà bảo tồn đang cố gắng giúp đỡ. Nếu những kẻ săn mồi không bị loại bỏ khỏi cao nguyên, quần thể hươu sẽ phát triển trong điều kiện bình thường và không phải chịu số phận tàn khốc của nạn đói và bệnh tật. Đây là trường hợp đạo đức cần được các nhà sinh vật học chú ý khi xem xét việc kiểm soát động vật ăn thịt.

Nhà khoa học B:

Việc loại bỏ động vật ăn thịt chỉ là một phần nhỏ của thảm họa trên Kaibab và đã bị cường điệu hóa quá mức. Quần thể hươu tăng nhanh do nguồn cung cấp thực phẩm tăng lên sau khi loại bỏ các loài cạnh tranh. Nguồn lương thực tăng cho phép số lượng hươu tăng nhanh và cũng giảm nhanh do các yếu tố còn phụ thuộc vào mật độ của nạn đói và bệnh tật. Trên thực tế, dữ liệu về tổng số lượng hươu cao nhất trên cao nguyên là không đáng tin cậy và có thể chỉ có 30.000 con. Các yếu tố phức tạp hơn so với những gì các nhà sinh thái học ban đầu tin tưởng, nhưng bài học vẫn có giá trị.

Hình minh họa

Lưới thức ăn trên cao nguyên Kaibab (dùng cho Câu 2)

 

Xét lưới thức ăn trên cao nguyên Kaibab được vẽ ở hình phía trên. Sinh vật nào chứa nhiều năng lượng nhất trong lưới thức ăn này?

A
Cỏ.
B
Hươu.
C
Chó sói.
D
Vi sinh vật.

Lời giải

Chọn A

Cỏ là sinh vật sản xuất, ở bậc dinh dưỡng đầu tiên. Năng lượng bị hao hụt dần qua mỗi bậc dinh dưỡng nên các sinh vật tiêu thụ (hươu, chó sói…) chứa ít năng lượng hơn cỏ. Vi sinh vật là sinh vật phân giải, nhận năng lượng từ xác sinh vật nên cũng ít hơn ⇒ chọn A.

Câu 3

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5:

Năm 1906, cao nguyên Kaibab ở phía bắc bang Arizona (Hoa Kỳ) được Tổng thống Theodore Roosevelt tuyên bố là nơi bảo tồn động vật liên bang. Trước đó, Kaibab là nơi sinh sống của hươu, gia súc, cừu và nhiều loài động vật ăn thịt. Khoảng 4.000 con hươu là nguồn thức ăn quan trọng của chó sói, gấu, sư tử núi và linh miêu sống trên cao nguyên; chúng còn phải cạnh tranh với cừu, ngựa và gia súc để giành nguồn cỏ hạn chế.

Khi khu bảo tồn được lập ra, mọi hoạt động săn bắn hươu đều bị cấm nhằm bảo vệ “đàn hươu tốt nhất nước Mỹ”. Năm 1907, Sở Lâm nghiệp Hoa Kỳ triển khai kế hoạch loại bỏ những kẻ thù tự nhiên của hươu; cừu và gia súc cũng bị cấm đến Kaibab. Khi hươu thoát khỏi sự kiểm soát và cân bằng tự nhiên từ các sinh vật đối kháng, số lượng quần thể bắt đầu tăng nhanh chóng. Đầu những năm 1920, các nhà khoa học ước tính có tới 100.000 con hươu trên cao nguyên.

Sự tăng quá mức cùng với việc chăn thả tự do khiến dịch bệnh bắt đầu tấn công quần thể. Hoạt động săn bắn được mở lại nhưng không đủ làm giảm số lượng hươu. Có ước tính cho rằng tới 60.000 con hươu chết đói trong hai mùa đông 1925 và 1926. Hai nhà khoa học trao đổi quan điểm về “sự cố hươu Kaibab”.

Hình minh họa

Hình. Hươu (ảnh minh họa)

Nhà khoa học A:

Cao nguyên Kaibab nên là một bài học về việc cố gắng can thiệp vào mối quan hệ giữa kẻ săn mồi và con mồi. Đây là ví dụ điển hình về việc kiểm soát động vật ăn thịt làm tổn thương chính loài mà các nhà bảo tồn đang cố gắng giúp đỡ. Nếu những kẻ săn mồi không bị loại bỏ khỏi cao nguyên, quần thể hươu sẽ phát triển trong điều kiện bình thường và không phải chịu số phận tàn khốc của nạn đói và bệnh tật. Đây là trường hợp đạo đức cần được các nhà sinh vật học chú ý khi xem xét việc kiểm soát động vật ăn thịt.

Nhà khoa học B:

Việc loại bỏ động vật ăn thịt chỉ là một phần nhỏ của thảm họa trên Kaibab và đã bị cường điệu hóa quá mức. Quần thể hươu tăng nhanh do nguồn cung cấp thực phẩm tăng lên sau khi loại bỏ các loài cạnh tranh. Nguồn lương thực tăng cho phép số lượng hươu tăng nhanh và cũng giảm nhanh do các yếu tố còn phụ thuộc vào mật độ của nạn đói và bệnh tật. Trên thực tế, dữ liệu về tổng số lượng hươu cao nhất trên cao nguyên là không đáng tin cậy và có thể chỉ có 30.000 con. Các yếu tố phức tạp hơn so với những gì các nhà sinh thái học ban đầu tin tưởng, nhưng bài học vẫn có giá trị.

Hình minh họa

Lưới thức ăn trên cao nguyên Kaibab (dùng cho Câu 2)

 

Nhà khoa học A và nhà khoa học B đều cho rằng chỉ riêng việc loại bỏ động vật ăn thịt là nguyên nhân gây ra thảm họa hươu Kaibab. Phát biểu trên đúng hay sai?

 

A

Đúng

B

Sai

Lời giải

Chọn B

Nhà khoa học A nhấn mạnh việc loại bỏ kẻ săn mồi làm thảm họa xảy ra; nhưng nhà khoa học B cho rằng việc loại bỏ động vật ăn thịt chỉ là một phần nhỏ của thảm họa và đã bị cường điệu hóa quá mức, còn nhiều yếu tố phức tạp khác ⇒ hai nhà khoa học không cùng quan điểm như phát biểu ⇒ phát biểu sai.

Câu 4

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5:

Năm 1906, cao nguyên Kaibab ở phía bắc bang Arizona (Hoa Kỳ) được Tổng thống Theodore Roosevelt tuyên bố là nơi bảo tồn động vật liên bang. Trước đó, Kaibab là nơi sinh sống của hươu, gia súc, cừu và nhiều loài động vật ăn thịt. Khoảng 4.000 con hươu là nguồn thức ăn quan trọng của chó sói, gấu, sư tử núi và linh miêu sống trên cao nguyên; chúng còn phải cạnh tranh với cừu, ngựa và gia súc để giành nguồn cỏ hạn chế.

Khi khu bảo tồn được lập ra, mọi hoạt động săn bắn hươu đều bị cấm nhằm bảo vệ “đàn hươu tốt nhất nước Mỹ”. Năm 1907, Sở Lâm nghiệp Hoa Kỳ triển khai kế hoạch loại bỏ những kẻ thù tự nhiên của hươu; cừu và gia súc cũng bị cấm đến Kaibab. Khi hươu thoát khỏi sự kiểm soát và cân bằng tự nhiên từ các sinh vật đối kháng, số lượng quần thể bắt đầu tăng nhanh chóng. Đầu những năm 1920, các nhà khoa học ước tính có tới 100.000 con hươu trên cao nguyên.

Sự tăng quá mức cùng với việc chăn thả tự do khiến dịch bệnh bắt đầu tấn công quần thể. Hoạt động săn bắn được mở lại nhưng không đủ làm giảm số lượng hươu. Có ước tính cho rằng tới 60.000 con hươu chết đói trong hai mùa đông 1925 và 1926. Hai nhà khoa học trao đổi quan điểm về “sự cố hươu Kaibab”.

Hình minh họa

Hình. Hươu (ảnh minh họa)

Nhà khoa học A:

Cao nguyên Kaibab nên là một bài học về việc cố gắng can thiệp vào mối quan hệ giữa kẻ săn mồi và con mồi. Đây là ví dụ điển hình về việc kiểm soát động vật ăn thịt làm tổn thương chính loài mà các nhà bảo tồn đang cố gắng giúp đỡ. Nếu những kẻ săn mồi không bị loại bỏ khỏi cao nguyên, quần thể hươu sẽ phát triển trong điều kiện bình thường và không phải chịu số phận tàn khốc của nạn đói và bệnh tật. Đây là trường hợp đạo đức cần được các nhà sinh vật học chú ý khi xem xét việc kiểm soát động vật ăn thịt.

Nhà khoa học B:

Việc loại bỏ động vật ăn thịt chỉ là một phần nhỏ của thảm họa trên Kaibab và đã bị cường điệu hóa quá mức. Quần thể hươu tăng nhanh do nguồn cung cấp thực phẩm tăng lên sau khi loại bỏ các loài cạnh tranh. Nguồn lương thực tăng cho phép số lượng hươu tăng nhanh và cũng giảm nhanh do các yếu tố còn phụ thuộc vào mật độ của nạn đói và bệnh tật. Trên thực tế, dữ liệu về tổng số lượng hươu cao nhất trên cao nguyên là không đáng tin cậy và có thể chỉ có 30.000 con. Các yếu tố phức tạp hơn so với những gì các nhà sinh thái học ban đầu tin tưởng, nhưng bài học vẫn có giá trị.

Hình minh họa

Lưới thức ăn trên cao nguyên Kaibab (dùng cho Câu 2)

 

Hươu có tập tính sống thành từng đàn. Với tập tính đó, kiểu phân bố cá thể phổ biến nhất của quần thể hươu trên cao nguyên Kaibab là phân bố [1]_____.

A
ngẫu nhiên
B
theo nhóm
C
đồng đều
Đáp án đúng: theo nhóm

Lời giải

[1] = theo nhóm (B): các cá thể hươu sống tụ họp thành từng đàn, tập trung ở nơi có nhiều thức ăn nên phân bố theo nhóm.

Phân bố đồng đều thường gặp khi có sự cạnh tranh gay gắt giữa các cá thể; phân bố ngẫu nhiên gặp khi môi trường đồng nhất và các cá thể không có xu hướng tụ họp hay tránh nhau ⇒ A, C không phù hợp.

Câu 5

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5:

Năm 1906, cao nguyên Kaibab ở phía bắc bang Arizona (Hoa Kỳ) được Tổng thống Theodore Roosevelt tuyên bố là nơi bảo tồn động vật liên bang. Trước đó, Kaibab là nơi sinh sống của hươu, gia súc, cừu và nhiều loài động vật ăn thịt. Khoảng 4.000 con hươu là nguồn thức ăn quan trọng của chó sói, gấu, sư tử núi và linh miêu sống trên cao nguyên; chúng còn phải cạnh tranh với cừu, ngựa và gia súc để giành nguồn cỏ hạn chế.

Khi khu bảo tồn được lập ra, mọi hoạt động săn bắn hươu đều bị cấm nhằm bảo vệ “đàn hươu tốt nhất nước Mỹ”. Năm 1907, Sở Lâm nghiệp Hoa Kỳ triển khai kế hoạch loại bỏ những kẻ thù tự nhiên của hươu; cừu và gia súc cũng bị cấm đến Kaibab. Khi hươu thoát khỏi sự kiểm soát và cân bằng tự nhiên từ các sinh vật đối kháng, số lượng quần thể bắt đầu tăng nhanh chóng. Đầu những năm 1920, các nhà khoa học ước tính có tới 100.000 con hươu trên cao nguyên.

Sự tăng quá mức cùng với việc chăn thả tự do khiến dịch bệnh bắt đầu tấn công quần thể. Hoạt động săn bắn được mở lại nhưng không đủ làm giảm số lượng hươu. Có ước tính cho rằng tới 60.000 con hươu chết đói trong hai mùa đông 1925 và 1926. Hai nhà khoa học trao đổi quan điểm về “sự cố hươu Kaibab”.

Hình minh họa

Hình. Hươu (ảnh minh họa)

Nhà khoa học A:

Cao nguyên Kaibab nên là một bài học về việc cố gắng can thiệp vào mối quan hệ giữa kẻ săn mồi và con mồi. Đây là ví dụ điển hình về việc kiểm soát động vật ăn thịt làm tổn thương chính loài mà các nhà bảo tồn đang cố gắng giúp đỡ. Nếu những kẻ săn mồi không bị loại bỏ khỏi cao nguyên, quần thể hươu sẽ phát triển trong điều kiện bình thường và không phải chịu số phận tàn khốc của nạn đói và bệnh tật. Đây là trường hợp đạo đức cần được các nhà sinh vật học chú ý khi xem xét việc kiểm soát động vật ăn thịt.

Nhà khoa học B:

Việc loại bỏ động vật ăn thịt chỉ là một phần nhỏ của thảm họa trên Kaibab và đã bị cường điệu hóa quá mức. Quần thể hươu tăng nhanh do nguồn cung cấp thực phẩm tăng lên sau khi loại bỏ các loài cạnh tranh. Nguồn lương thực tăng cho phép số lượng hươu tăng nhanh và cũng giảm nhanh do các yếu tố còn phụ thuộc vào mật độ của nạn đói và bệnh tật. Trên thực tế, dữ liệu về tổng số lượng hươu cao nhất trên cao nguyên là không đáng tin cậy và có thể chỉ có 30.000 con. Các yếu tố phức tạp hơn so với những gì các nhà sinh thái học ban đầu tin tưởng, nhưng bài học vẫn có giá trị.

Hình minh họa

Lưới thức ăn trên cao nguyên Kaibab (dùng cho Câu 2)

 

Theo ước tính nêu trong văn bản, quần thể hươu trên cao nguyên đạt khoảng 100.000 con vào đầu những năm 1920, và có tới 60.000 con chết đói trong hai mùa đông 1925–1926. Số hươu chết đói chiếm bao nhiêu phần trăm số hươu ở mức ước tính 100.000 con?

(Viết kết quả là một số, đơn vị %, không cần ghi kí hiệu %.)

Đáp án đúng: 60

Lời giải

Đáp án: 60

Tỉ lệ = 60.000 : 100.000 × 100% = 60%.

Câu 6

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 13:

Bệnh sốt vàng xảy ra ở những khu rừng mưa nhiệt đới. Virus gây bệnh là một virus RNA thuộc họ Flaviviridae, có khả năng lây truyền từ khỉ sang người qua vật chủ trung gian là muỗi. Hình 1 cho thấy vòng đời của muỗi mang mầm bệnh.

Hình minh họa

Hình 1. Vòng đời của muỗi

Trứng của những con muỗi này không nở, trừ khi có đủ nước cho hai giai đoạn tiếp theo trong vòng đời. Bệnh sốt vàng lây lan khi một con muỗi trưởng thành hút máu một con khỉ nhiễm virus rồi tiếp tục đốt một người.

Một nghiên cứu được thực hiện trên một nhóm các nhà sinh thái thường xuyên đi vào khu rừng nơi những con khỉ mang virus sinh sống. Nhóm được kiểm tra bệnh sốt vàng hằng tháng. Hình 2 cho thấy số ca mắc sốt vàng mới (các cột) và lượng mưa (đường cong) trong rừng theo từng tháng. Bảng 1 cho biết số lượng nhà sinh thái trong mỗi nhóm, số con khỉ họ nhìn thấy, tổng số lần bị muỗi đốt và tỉ lệ phần trăm số người của mỗi nhóm mắc bệnh sốt vàng.

Hình minh họa

Hình 2. Số ca sốt vàng mới (cột) và lượng mưa (đường) theo từng tháng

Bảng 1. Kết quả nghiên cứu

Nhóm Số người Số con khỉ nhìn thấy Số lần bị muỗi đốt Tỉ lệ mắc bệnh sốt vàng trong nhóm
A 8 30 96 12%
B 10 14 130 20%
C 12 45 228 33%
D 9 31 198 39%
E 11 52 297 55%

 

Theo Hình 1, điều kiện môi trường nào là cần thiết để trứng muỗi nở thành ấu trùng?

A
Có ánh sáng mạnh.
B
Có đủ nước.
C
Có khỉ ở gần.
D
Nhiệt độ thấp.

Lời giải

Chọn B

Hình 1 và văn bản cho biết trứng muỗi chỉ nở thành ấu trùng khi có đủ nước; nếu không có nước, trứng không nở ⇒ chọn B. Các yếu tố còn lại không được nêu là điều kiện để trứng nở.

Câu 7

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 13:

Bệnh sốt vàng xảy ra ở những khu rừng mưa nhiệt đới. Virus gây bệnh là một virus RNA thuộc họ Flaviviridae, có khả năng lây truyền từ khỉ sang người qua vật chủ trung gian là muỗi. Hình 1 cho thấy vòng đời của muỗi mang mầm bệnh.

Hình minh họa

Hình 1. Vòng đời của muỗi

Trứng của những con muỗi này không nở, trừ khi có đủ nước cho hai giai đoạn tiếp theo trong vòng đời. Bệnh sốt vàng lây lan khi một con muỗi trưởng thành hút máu một con khỉ nhiễm virus rồi tiếp tục đốt một người.

Một nghiên cứu được thực hiện trên một nhóm các nhà sinh thái thường xuyên đi vào khu rừng nơi những con khỉ mang virus sinh sống. Nhóm được kiểm tra bệnh sốt vàng hằng tháng. Hình 2 cho thấy số ca mắc sốt vàng mới (các cột) và lượng mưa (đường cong) trong rừng theo từng tháng. Bảng 1 cho biết số lượng nhà sinh thái trong mỗi nhóm, số con khỉ họ nhìn thấy, tổng số lần bị muỗi đốt và tỉ lệ phần trăm số người của mỗi nhóm mắc bệnh sốt vàng.

Hình minh họa

Hình 2. Số ca sốt vàng mới (cột) và lượng mưa (đường) theo từng tháng

Bảng 1. Kết quả nghiên cứu

Nhóm Số người Số con khỉ nhìn thấy Số lần bị muỗi đốt Tỉ lệ mắc bệnh sốt vàng trong nhóm
A 8 30 96 12%
B 10 14 130 20%
C 12 45 228 33%
D 9 31 198 39%
E 11 52 297 55%

 

Bọ gậy (lăng quăng) là tên gọi dân gian của một giai đoạn sống dưới nước trong vòng đời của muỗi. Giai đoạn đó tương ứng với giai đoạn nào trong Hình 1?

(Viết tên giai đoạn trong vòng đời của muỗi, theo cách gọi ở Hình 1.)

Đáp án đúng: ấu trùng

Lời giải

Đáp án: ấu trùng

Vòng đời của muỗi qua các giai đoạn: trứng → ấu trùng → nhộng → muỗi trưởng thành (biến thái hoàn toàn). Bọ gậy là giai đoạn sống dưới nước, nở ra từ trứng và sau đó chuyển thành nhộng ⇒ tương ứng với giai đoạn ấu trùng.

Câu 8

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 13:

Bệnh sốt vàng xảy ra ở những khu rừng mưa nhiệt đới. Virus gây bệnh là một virus RNA thuộc họ Flaviviridae, có khả năng lây truyền từ khỉ sang người qua vật chủ trung gian là muỗi. Hình 1 cho thấy vòng đời của muỗi mang mầm bệnh.

Hình minh họa

Hình 1. Vòng đời của muỗi

Trứng của những con muỗi này không nở, trừ khi có đủ nước cho hai giai đoạn tiếp theo trong vòng đời. Bệnh sốt vàng lây lan khi một con muỗi trưởng thành hút máu một con khỉ nhiễm virus rồi tiếp tục đốt một người.

Một nghiên cứu được thực hiện trên một nhóm các nhà sinh thái thường xuyên đi vào khu rừng nơi những con khỉ mang virus sinh sống. Nhóm được kiểm tra bệnh sốt vàng hằng tháng. Hình 2 cho thấy số ca mắc sốt vàng mới (các cột) và lượng mưa (đường cong) trong rừng theo từng tháng. Bảng 1 cho biết số lượng nhà sinh thái trong mỗi nhóm, số con khỉ họ nhìn thấy, tổng số lần bị muỗi đốt và tỉ lệ phần trăm số người của mỗi nhóm mắc bệnh sốt vàng.

Hình minh họa

Hình 2. Số ca sốt vàng mới (cột) và lượng mưa (đường) theo từng tháng

Bảng 1. Kết quả nghiên cứu

Nhóm Số người Số con khỉ nhìn thấy Số lần bị muỗi đốt Tỉ lệ mắc bệnh sốt vàng trong nhóm
A 8 30 96 12%
B 10 14 130 20%
C 12 45 228 33%
D 9 31 198 39%
E 11 52 297 55%

 

Theo Hình 2, số ca sốt vàng mới trong khu rừng nghiên cứu cao nhất vào tháng nào?

(Trả lời bằng số tháng, là một số nguyên từ 1 đến 12.)

Đáp án đúng: 3

Lời giải

Đáp án: 3

Trên Hình 2, các cột biểu diễn số ca sốt vàng mới: cột cao nhất ở tháng 3 (khoảng 7 ca), các tháng khác thấp hơn (tháng 4 khoảng 6 ca, tháng 2 khoảng 5 ca) ⇒ tháng 3.

Câu 9

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 13:

Bệnh sốt vàng xảy ra ở những khu rừng mưa nhiệt đới. Virus gây bệnh là một virus RNA thuộc họ Flaviviridae, có khả năng lây truyền từ khỉ sang người qua vật chủ trung gian là muỗi. Hình 1 cho thấy vòng đời của muỗi mang mầm bệnh.

Hình minh họa

Hình 1. Vòng đời của muỗi

Trứng của những con muỗi này không nở, trừ khi có đủ nước cho hai giai đoạn tiếp theo trong vòng đời. Bệnh sốt vàng lây lan khi một con muỗi trưởng thành hút máu một con khỉ nhiễm virus rồi tiếp tục đốt một người.

Một nghiên cứu được thực hiện trên một nhóm các nhà sinh thái thường xuyên đi vào khu rừng nơi những con khỉ mang virus sinh sống. Nhóm được kiểm tra bệnh sốt vàng hằng tháng. Hình 2 cho thấy số ca mắc sốt vàng mới (các cột) và lượng mưa (đường cong) trong rừng theo từng tháng. Bảng 1 cho biết số lượng nhà sinh thái trong mỗi nhóm, số con khỉ họ nhìn thấy, tổng số lần bị muỗi đốt và tỉ lệ phần trăm số người của mỗi nhóm mắc bệnh sốt vàng.

Hình minh họa

Hình 2. Số ca sốt vàng mới (cột) và lượng mưa (đường) theo từng tháng

Bảng 1. Kết quả nghiên cứu

Nhóm Số người Số con khỉ nhìn thấy Số lần bị muỗi đốt Tỉ lệ mắc bệnh sốt vàng trong nhóm
A 8 30 96 12%
B 10 14 130 20%
C 12 45 228 33%
D 9 31 198 39%
E 11 52 297 55%

 

Đối chiếu đường biểu diễn lượng mưa với các cột biểu diễn số ca mắc mới ở Hình 2, nhận xét nào sau đây là phù hợp nhất?

A
Số ca mắc mới thường tăng khi lượng mưa tăng và giảm khi lượng mưa giảm.
B
Số ca mắc mới tăng lên khi lượng mưa giảm xuống.
C
Số ca mắc mới hoàn toàn không phụ thuộc vào lượng mưa.
D
Lượng mưa càng nhiều thì số ca mắc mới càng ít.

Lời giải

Chọn A

Trên Hình 2, đường lượng mưa và các cột số ca mắc mới cùng tăng từ tháng 1 đến tháng 3, cùng giảm mạnh ở các tháng 5–7, cùng ở mức thấp ở các tháng 7–11 rồi cùng tăng trở lại ở tháng 12 ⇒ hai đại lượng biến thiên cùng chiều ⇒ chọn A.

Điều này phù hợp với Hình 1: mưa nhiều ⇒ có nhiều nước đọng ⇒ trứng muỗi nở nhiều hơn ⇒ nhiều muỗi hơn ⇒ nhiều ca mắc hơn. B, C, D mô tả sai xu hướng.

Câu 10

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 13:

Bệnh sốt vàng xảy ra ở những khu rừng mưa nhiệt đới. Virus gây bệnh là một virus RNA thuộc họ Flaviviridae, có khả năng lây truyền từ khỉ sang người qua vật chủ trung gian là muỗi. Hình 1 cho thấy vòng đời của muỗi mang mầm bệnh.

Hình minh họa

Hình 1. Vòng đời của muỗi

Trứng của những con muỗi này không nở, trừ khi có đủ nước cho hai giai đoạn tiếp theo trong vòng đời. Bệnh sốt vàng lây lan khi một con muỗi trưởng thành hút máu một con khỉ nhiễm virus rồi tiếp tục đốt một người.

Một nghiên cứu được thực hiện trên một nhóm các nhà sinh thái thường xuyên đi vào khu rừng nơi những con khỉ mang virus sinh sống. Nhóm được kiểm tra bệnh sốt vàng hằng tháng. Hình 2 cho thấy số ca mắc sốt vàng mới (các cột) và lượng mưa (đường cong) trong rừng theo từng tháng. Bảng 1 cho biết số lượng nhà sinh thái trong mỗi nhóm, số con khỉ họ nhìn thấy, tổng số lần bị muỗi đốt và tỉ lệ phần trăm số người của mỗi nhóm mắc bệnh sốt vàng.

Hình minh họa

Hình 2. Số ca sốt vàng mới (cột) và lượng mưa (đường) theo từng tháng

Bảng 1. Kết quả nghiên cứu

Nhóm Số người Số con khỉ nhìn thấy Số lần bị muỗi đốt Tỉ lệ mắc bệnh sốt vàng trong nhóm
A 8 30 96 12%
B 10 14 130 20%
C 12 45 228 33%
D 9 31 198 39%
E 11 52 297 55%

 

Theo Bảng 1, trung bình mỗi nhà sinh thái ở nhóm D bị muỗi đốt bao nhiêu lần?

(Viết kết quả là một số nguyên.)

Đáp án đúng: 22

Lời giải

Đáp án: 22

Nhóm D có 9 người, bị muỗi đốt tổng cộng 198 lần ⇒ trung bình mỗi người bị đốt 198 : 9 = 22 lần.

Bảng tra cứu nhanh đáp án trọn bộ 10 câu hỏiNhấn để đóng / mở
Câu12345678910
Đáp ánDAB-60Bấu trùng3A22

Đang xem 10 câu đầu của đề

Đề có tất cả 13 câu. Làm bài để xem lời giải tất cả câu hỏi.

Đăng nhập để làm bài
Đáp án & Lời giải chi tiết: [9Study] Đề thi thử TSA Môn Sinh học 2027 - Đề số 24 môn Tư duy khoa học - Sinh học 2027 (Đánh giá Tư duy (TSA)) - 9Study